Bài giảng Ngữ văn 11 - Đọc văn: Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài (Nguyễn Huy Tưởng)

Vở kịch “ Vũ Như Tô” :

Thời điểm sáng tác: viết năm 1941.

- Nội dung tác phẩm: ghi lại những sự kiện xảy ra ở Thăng Long khoảng năm 1516 -1517 ở thời Lê Tương Dực.

- Kết cấu: ban đầu của tác phẩm gồm 3 hồi (đăng trên tạp chí Tri Tân năm 1943-1944)  sau đó tác giả sửa lại thành vở kịch 5 hồi.

 

ppt24 trang | Chia sẻ: hienduc166 | Ngày: 27/12/2020 | Lượt xem: 133 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Bài giảng Ngữ văn 11 - Đọc văn: Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài (Nguyễn Huy Tưởng), để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút TẢI VỀ ở trên
1/ Tác giả :(1912- 1960):( sgk).2. Vở kịch “ Vũ Như Tô” : - Thể loại : bi kịch lịch sử.( Thể kịch mà XĐK được tạo dựng từ những > bị đốt thành tro. II. Phân tích văn bản: 1. Tìm hiểu các xung đột kịch trong đoạn trích:*Ngoài mâu thuẫn giữa quan quân và vua, em thấy trong hồi V còn có mâu thuẫn nào khác?+ VNT coi CTĐ là cả phần xác và phần hồn của c/đời mình ( vì đây là công trình nghệ thuật tô điểm cho vẻ đẹp của đất nước) .Vì nó, Ông sẵn sàng chấp nhận làm tất cả,... cho hôn quân bạo chúa; dù bị thương vẫn tiếp tục chỉ đạo công việc; trị tội những thợ bỏ trốn - Mâu thuẫn 2 : Giữa quan niệm nghệ thuật cao siêu, thuần tuý và lợi ích trực tiếp, thiết thực của nhân dân. -Ngược lại trong mắt dân chúng, CTĐ là hiện thân của sự ăn chơi xa xỉ, của tội ác,... cha đẻ của nó –VNT- chính là kẻ thù của họ cần phải bị trị tội Họ vui mừng khi CT Đ chaý, VNT ra pháp trường. *Vì sao khi bị đưa ra pháp trường, Vũ Như Tô vẫn không thể trả lời được câu hỏi : “Ta tội gì?” hay vẫn một câu “Các ngươi không hiểu được ta”.- Vũ Như Tô: chỉ đứng trên lập trường của người nghệ sĩ thuần tuý, hết mình phụng sự cái đẹp. - Ông muốn mượn uy quyền, tiền bạc của Lê Tương Dực để thực hiện hoài bão nghệ thuật của mình. - Nhưng lợi ích nghệ thuật mà V NT theo đuổi đã > Đan Thiềm khác VNT:	là người không mơ mộng mà tỉnh táo, thức thời, hiểu đời, hiểu người.+ Đan Thiềm là người khuyên Vũ Như Tô-Tâm trạng của Đan Thiềm khi nhận ra thất bại của giấc mộng Cửu Trùng Đài:+ Nàng đau đớn khi nghĩ đến sự sống chết của Vũ Như Tô.+ Có đến 20 lần nàng thúc giục Vũ Như Tô “ trốn đi, lánh đi, đi đi, chạy đi”.+ Lời thúc giục vừa van xin, vừa khẩn thiết, quyết liệt: “ Ông nghe tôi ! . Đợi thời là thượng sách ! Đừng để phí tài trời. Trốn đi !” + Có đến 4 lần nàng nhắc lại yêu cầu khẩn thiết đó. + Nàng lấy tính mạng của mình để đánh đổi sự sống còn của VNT “Đừng giết ông Cả . Kẻo tướng quân mang hận về muôn đời. Tha cho ông Cả. Tôi xin chịu chết”.  + Đến khi “có trốn cũng không được nữa”, Đan Thiềm -> van xin tha tội cho Vũ Như Tô.+ “Ông Cả! Đài lớn tanh tành! Ông Cả ơi! Xin cùng ông vĩnh biệt!”. + “ Xin cùng ông vĩnh biệt”.+ Kết thúc lớp kịch thứ VII: Là tiếng kêu thảng thốt, đau đớn, nghẹn ngào, nức nở của Đan Thiềm.+ Những đổ vỡ của một giấc mộng lớn bây giờ thật tan hoang : ông cả, Đài lớn, cái tài, cái đẹp, tất cả đền tan tành trong cơn biến loạn. => Mọi cố gắng giữ gìn, bảo vệ không thành. Câu nói cuối cùng của Đ.Thiềm là lời vĩnh biệt mãi mãi CTĐ – vĩnh biệt một giấc mộng lớn trong máu và nước mắt.b.Nhân vật Vũ Như Tô :- Học sinh trao đổi nhóm theo gợi ý :* Trong lớp kịch thứ V, Đan Thiềm giục Vũ Như Tô đi trốn.Nàng cảnh báo “ông đừng mơ mộng nữa”. Vậy theo em, mơ mộng và vỡ mộng, phải chăng là tâm trạng đầy bi kịch của nghệ sĩ tài hoa Vũ Như Tô? * Cái tài của Vũ Như Tô trong lớp kịch được thể hiện như thế nào?Qua tìm hiểu, em thấy gíâc mộng của Vũ Như Tô bắt đầu từ đâu? * Trong cơn biến loạn, đâu là khoảnh khắc Vũ Như Tô nhận ra giấc mộng lớn đã tan tành? Tâm trạng của ông trong khoảnh khắc ấy?+ Cái tài được ngợi ca đến mức siêu phàm, một thiên tài “ngàn năm chưa dễ có một”, “có thể sai khiến gạch đá như viên tướng cầm quân”. + “ Tài kia không nên để uổng. Ông mà có mệnh hệ nào thì nước ta không còn ai để tô điểm nữa”, “đừng để phí tài trời”.- Vũ Như Tô là một kiến trúc sư tài ba. - Nhưng VNT vì quá khao khát đam mê chìm đắm trong cái đẹp mà trở nên mơ mộng, ảo vọng.+ Gíâc mộng ấy bắt đầu từ khi ông quyết định xây CTĐ cho Lê Tương Dực, mượn tay bạo chúa để xd một công trình tô điểm cho đời.+ Càng sáng suốt trong sáng tạo, thiết kế, thi công CTĐ, ông càng xa rời thực tế, càng ảo vọng. -Trong thời khắc biến loạn dữ dội, VNT vẫn không tỉnh, vẫn say sưa với giấc mơ CTĐ. + “ Ai ai cũng cho ông là thủ phạm. ...”, nhưng ông vẫn cho là “họ hiểu nhầm”. + Chứng kiến cảnh đốt phá, nghe tiếng quân reo tìm mình phanh thây, ông cho là điều “vô lý”.+ Bị bắt dẫn về trình chủ tướng, ông hy vọng có thể “phân trần”, “giảng giải cho người đời biết rõ nguyện vọng của ta” - Chỉ đến khi CTĐ bị cháy, VNT mới nhận ra sự thực về giấc mộng lớn đã tan tành. + Vũ Như Tô “rú lên” kinh hoàng và tuyệt vọng: 	“Đốt thực rồi! Đốt thực rồi!... Ôi mộng lớn, Đan Thiềm, CT Đ!” Nỗi đau vỡ mộng hoá thành tiếng kêu bi thiết, não nùng, khắc khoải – Vũ Như Tô đã chết trước khi ra pháp trường. * Nỗi đau vỡ mộng của bi kịch Vũ Như Tô thức tỉnh chúng ta điều gì?- Bi kịch VNT đã thức tỉnh: ý thức của chúng ta về vấn đề muôn thuở : 	Mqh giữa nghệ thuật và cuộc sống- NGHỆ THUẬT PHẢI VỊ NHÂN SINH thì nghệ thuật mới tồn tại và được nhân dân tôn thờ, nâng niu, bảo vệ.* Đánh giá những thành công về nghệ thuật của đoạn trích?- Ngôn ngữ kịch điêu luyện, có tính tổng hợp cao.- Cách dẫn đắt các XĐ kịch thể hiện tính cách, tâm trạng nhân vật thông qua ngôn ngữ và hành động rất thành công.- Các lớp kịch ngắn, thay đổi liên tục, lời thoại gấp gáp, các tiếng reo, tiếng théttạo một không gian bạo lực kinh hoàng đến chóng mặt.- Việc đặt nhân vật trong không gian cung cấm với các tên đất , tên người cụ thể ít nhiều có yếu tố sử sách làm cho vở kịch hoành tráng, có không khí lịch sử.*Ý nghĩa của bi kịch Vũ Như Tô? D. Luyện tập : Lời tựa đề của tác phẩm “Cầm bút chẳng qua cùng một bệnh với Đan Thiềm” có ý nghĩa:	 nói về mqh tương giao - đồng cảm của những người cùng yêu quý , trân trọng cái đẹp, cái tài giữa VNT – Đ.Thiềm – Nhà văn Ng.H.Tưởng.

File đính kèm:

  • pptVinh biet Cuu Trung Dai ( bai giang tron ven).ppt
Bài giảng liên quan