Đề khảo sát HSG Ngữ văn 8 (Có đáp án)
Bạn đang xem nội dung tài liệu Đề khảo sát HSG Ngữ văn 8 (Có đáp án), để tải tài liệu về máy bạn click vào nút TẢI VỀ ở trên
ĐỀ KHẢO SÁT HỌC SINH GIỎI MÔN: NGỮ VĂN 8 Thời gian làm bài: 120 phút (không kể giao đề) Câu 1: 5.0 điểm Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi 1,2,3,4 ở dưới. MIẾNG ĐẤT SÉT VÀ TÁCH TRÀ QUÝ Trước đây, khi chưa phải là chiếc tách trà xinh xắn, tôi chỉ là một miếng đất sét đỏ. Một hôm, ông chủ đem tôi ra nhào nặn, đập dẹt rồi lại nhào nặn, đập dẹt. Lúc đó tôi đã hét lên trong sợ hãi: “Buông tôi ra!”, nhưng ông ấy chỉ cười và nói “Chưa được đâu”. Sau đó, ông đặt tôi lên một cái bàn xoay làm tôi khiếp sợ tới mức tôi phải kêu oai oái: “Tôi chóng mặt lắm, dừng lại đi!”. Thế nhưng ông vẫn chỉ đáp: “Chưa đâu!”. Tiếp đến, ông đặt tôi vào lò nung với sức nóng khủng khiếp. Tôi không hiểu tại sao ông ấy cứ muốn hành hạ tôi. Tôi cố đập vào thành lò để thoát ra nhưng chỉ nghe tiếng ông từ ngoài vọng vào: “Vẫn chưa được đâu”. Một hồi lâu sau, ông mới chịu đưa tôi ra và đặt trên kệ để người tôi nguội dần. Tôi cảm thấy thật dễ chịu, nhưng chưa tận hưởng cảm giác đó được bao lâu thì con người khó tính kia lại quét lên người tôi thứ chất lỏng có mùi khó chịu. Tôi không chịu đựng nổi nữa nên gào lên: “Mau dừng lại đi!” nhưng ông vẫn chỉ trả lời bằng câu “Chưa đâu” quen thuộc. Rồi tôi lại bị đặt vào lò với sức nóng gấp đôi lần trước. Tưởng như mình chết ngạt đến nơi, tôi van xin ông đưa tôi ra ngoài nhưng ông vẫn kiên quyết nói “Chưa đâu”. Tôi chẳng còn hy vọng gì nên đành buông xuôi theo số phận. Đột nhiên cửa lò bật mở và ông chủ đưa tôi ra rồi cẩn thận đặt trên kệ. Ông đặt cái gương trước mặt tôi rồi nói: “Con hãy nhìn mình xem”. Tôi nhìn vào gương và thốt lên trong ngạc nhiên: “Tôi đây sao? Bây giờ tôi xinh đẹp thế này ư?” Lúc đó, ông chủ mới bắt đầu lên tiếng giải thích: “Ta biết con sẽ đau đớn khi bị nhào nặn nhưng nếu ta không làm thế, cả người con sẽ khô đi và trở nên vô dụng. Ta biết bị xoay trên bàn là vô cùng chóng mặt, nhưng nếu ta dừng lại thì con sẽ bị méo mó. Ta cũng biết sức nóng của lò nung rất khủng khiếp và làm con bỏng rát nhưng nếu không vào đó, con sẽ không thể cứng cáp và rất dễ nứt vỡ. Ta cũng biết mùi sơn làm con khó chịu, nhưng nếu không làm vậy, con sẽ mờ nhạt và chẳng có màu sắc nào. Ta buộc phải đặt con vào lò nung thêm lần nữa để con cứng cáp và bền màu hơn. Còn giờ đây, sau bao nhiêu thử thách, con đã là chiếc tách đẹp đẽ và hoàn chỉnh. Ta vô cùng hãnh diện về con”. Hóa ra nỗi đau tôi chịu đựng không hề vô nghĩa. Chính nhờ những gian lao vất vả đó mà tôi mới trở thành tách trà đẹp như ngày hôm nay. (Theo Hạt giống tâm hồn, Ý nghĩa cuộc sống, quyển 6, trang 87, NXB tổng hợp TP HCM) 1. Trong văn bản, ông chủ đã làm những gì với cục đất sét đỏ? 2. Em hiểu như thế nào về chi tiết “bàn xoay”, “lò nung” trong văn bản? 3. Xác định và phân tích hiệu quả của biện pháp tu từ có trong câu: Tôi nhìn vào gương và thốt lên trong ngạc nhiên: “Tôi đây sao? Bây giờ tôi xinh đẹp thế này ư?” Câu 2: 5.0 điểm Từ nội dung văn bản “Miếng đất sét và tách trà quý” ở câu 1, hãy viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ về ý nghĩa của những khó khăn, thử thách đối với con người. Câu 3: 10.0 điểm Nhận xét về bài thơ “ Đợi mẹ” của Vũ Quần Phương, có ý kiến cho rằng: “Qua “nỗi đợi” của em bé về mẹ, bài thơ giúp chúng ta cảm nhận được tình yêu thương của em dành cho mẹ, vị trí đặc biệt của mẹ trong tâm hồn em. Đồng thời, bài thơ còn khắc họa một cách chân thực, cảm động hình ảnh người mẹ tần tảo, lam lũ vì mưu sinh, và vì con.” Hãy cảm nhận bài thơ “Đợi mẹ” để làm sáng tỏ ý kiến trên. ĐỢI MẸ Em bé ngồi nhìn ra ruộng lúa Trời tối trên đầu hè. Nửa vầng trăng non Em bé nhìn vầng trăng, nhưng chưa nhìn thấy mẹ Mẹ lẫn trên cánh đồng. Đồng lúa lẫn vào đêm Ngọn lửa bếp chưa nhen. Căn nhà tranh trống trải Đom đóm bay ngoài ao. Đom đóm đã vào nhà Em bé nhìn đóm bay, chờ tiếng bàn chân mẹ Bàn chân mẹ lội bùn ì oạp phía đồng xa Trời về khuya lung linh trắng vườn hoa mận trắng Mẹ đã bế vào nhà nỗi đợi vẫn nằm mơ (Ngữ văn 7, tập 2, Chân trời sáng tạo, trang 98, NXBGDVN) -----------------------HẾT------------------------ Họ tên học sinh: SBD . ..................... Chữ ký giám thị 1: .... Chữ ký giám thị 2: ....................... ĐỀ CHÍNH THỨC MÔN: NGỮ VĂN 8 I. HƯỚNG DẪN CHUNG - Giáo viên vận dụng hướng dẫn chấm phải chủ động, linh hoạt, tránh cứng nhắc, máy móc và phải biết cân nhắc trong từng trường hợp cụ thể, cần khuyến khích những bài làm thể hiện rõ sự sáng tạo. Chấp nhận bài viết không giống đáp án, có những ý ngoài đáp án, nhưng phải có căn cứ xác đáng và lí lẽ thuyết phục, không trái với chuẩn mực đạo đức và pháp luật... - Giáo viên cần đánh giá bài làm của thí sinh một cách tổng thể ở từng câu và cả bài, không đếm ý cho điểm, đánh giá bài làm của học sinh trên cả hai phương diện: kiến thức và kỹ năng. Trong quá trình chấm, cần tôn trọng tính sáng tạo của học sinh, chú ý xem xét những bài làm thực sự có năng khiếu văn... - Hướng dẫn chấm chỉ nêu những ý chính và các thang điểm cơ bản, trên cơ sở đó, giáo viên có thể thống nhất để định ra các ý chi tiết và các thang điểm cụ thể hơn. II. HƯỚNG DẪN CỤ THỂ CÂU NỘI DUNG ĐIỂM Câu 1 1 Trong văn bản, ông chủ đã đem miếng đất sét đỏ ra nhào nặn, đập dẹt rồi lại 1.5 nhào nặn, đập dẹt. Sau đó, ông đặt miếng đất sét lên một cái bàn xoay vào rồi đặt vào lò nung với sức nóng khủng khiếp. Tiếp đến, ông lại quét chất lỏng có mùi khó chịu lên nó rồi lại đặt vào lò nóng gấp đôi lần trước. 2 Chi tiết “bàn xoay”, “lò nung” trong văn bản tượng trưng cho những khó 1.5 khăn, thử thách, những gian lao vất vả, sức chịu đựng mà con người trải qua trong cuộc sống . 3 - Biện pháp tu từ được sử dụng trong câu: nhân hóa - Phân tích được hiệu quả của các phép tu từ: 2.0 + Tạo ra cách diễn đạt sinh động, giàu giá trị biểu cảm, gợi tả hình ảnh. + Thể hiện trạng thái cảm xúc ngạc nhiên, vui sướng của miếng đất sét khi phát hiện ra mình đã trở nên xinh đẹp .. HS cũng có thể có cách diễn đạt khác nhưng hợp lý vẫn cho điểm Câu 2 Đoạn văn 1.Về kĩ năng: nghị luận - Yêu cầu HS biết cách trình bày một đoạn văn nghị luận xã hội. xã hội - Đảm bảo bố cục: Mở đoạn, thân đoạn, kết đoạn rõ ràng, hợp lý. 2. Về nội dung: HS có nhiều cách trình bày, diễn đạt khác nhau nhưng phải đảm bảo một số nội dung cơ bản trong bài viết: a. Mở đoạn: - Giới thiệu vấn đề: Ý nghĩa của những khó khăn, thử thách đối với con 0.5 người b. Thân đoạn: 4.0 Giải thích: khó khăn, thử thách là gì? + Khó khăn, thử thách là những yếu tố gây cản trở đến việc triển khai một việc làm, một kế hoạch, một tiềm năng nào đó mà buộc con người ta phải vượt qua. + Cuộc sống không khi nào hết những thử thách là một sự nhận thức về quy luật hoạt động của đời sống, nó vừa như một sự đúc rút, thưởng thức, vừa như một sự nhắc nhở, cảnh báo nhắc nhở so với mọi người : muốn vươn tới thành công thì cần phải dũng cảm đối mắt và vượt qua thử thách. Bàn luận: Tại sao con người cần phải dũng cảm đối diện và vượt qua khó khăn, thử thách? + Khó khăn, thử thách là điều tất yếu trong đời sống con người. + Con người cần phải trải qua những thử thách để trưởng thành. + Con người cần phải gan góc biết đương đầu và vượt qua thử thách thì mới hoàn toàn có thể sống sót và hướng tới thành công xuất sắc. + Để vượt qua thử thách, con người cần có sức mạnh và luôn luôn rèn luyện để có sức mạnh cả về vật chất lẫn niềm tin. + Trong trong thực tiễn đời sống, có rất nhiều người đã quả cảm thắng lợi bản thân, vượt qua những thử thách để đến với thành công xuất sắc, góp thêm phần thôi thúc sự phát triển của xã hội. Mở rộng. + Phê phán những người đã đầu hàng trước nghịch cảnh, có khi chỉ là trở ngại rất nhỏ và đồng ý thất bại... Bài học nhận thức và hành động: + Mỗi người và xã hội cần phải có dũng khí, bản lĩnh để gật đầu và đương đầu với thử thách. + Học sinh cần nỗ lực rèn kiến thức và kỹ năng sống, có tri thức, niềm tin vào đời sống, . c. Kết đoạn: 0.5 - Đưa ra cảm nghĩ của bản thân PHẦN III: TẠO LẬP VĂN BẢN Bài văn 1. Yêu cầu về kĩ năng: nghị luận - Xác định đúng kiểu bài nghị luận chứng minh. - Bố cục bài văn đủ ba phần: mở bài, thân bài, kết bài - Có lí lẽ, dẫn chứng phong phú, đồng thời cũng cần bộc lộ cảm xúc chân thành. Cần chú ý các từ ngữ quan trọng trong mệnh đề và biết chọn các ý tiêu biểu có trong văn bản để bài viết có sức thuyết phục cao. - Diễn đạt trôi chảy, mạch lạc, giàu cảm xúc, giàu hình ảnh lưu ý những bài viết thể hiện năng khiếu văn chương 2. Yêu cầu về kiến thức: HS có nhiều cách làm bài, tuy nhiên cần đảm bảo những định hướng sau: I. Mở bài: 1.0 - Dẫn dắt và đưa ra ý kiến. - Giới thiệu bài thơ II. Thân bài: 10.0 Luận điểm 1: Bài thơ giúp chúng ta cảm nhận được tình yêu thương của em dành cho mẹ, vị trí đặc biệt của mẹ trong tâm hồn em. * Em bé ngồi đợi mẹ đến tối - Bối cảnh: Trời tối - Hành động của em bé: “nhìn ra ruộng lúa”, nhìn “vầng trăng” - Nghệ thuật: Điệp ngữ (“nhìn ra ruộng lúa”, “nhìn vầng trăng”), hình ảnh “vầng trăng” gắn với nỗi nhớ, mong ngóng, chời đợi. - Mẹ vẫn chưa về: + Em “chưa nhìn thấy mẹ” + Đồng lúa thì “lẫn vào đêm” + Ngọn lửa “chưa nhen” + Căn nhà “trống trải” -> Cảnh vật buồn hiu hắt như đang ngóng đợi mẹ về cùng em bé => Em bé yêu mẹ rất nhiều, em biết mẹ đang phải lao động cực khổ, kiếm từng đồng tiền nuôi em, em mong ngóng mẹ về mà không chịu đi ngủ, em cứ thức chờ mẹ mãi Nhà thơ Vũ Quần Phương xa mẹ từ khi còn nhỏ. Có lẽ vì vậy mà khi viết về mẹ, mỗi vần thơ của ông đều như chạm đến những cảm xúc sâu lắng nhất trong lòng người đọc. Đó là biểu hiện của tình mẫu tử thiêng liêng. * Em bé đợi mẹ đến khuya, mẹ mới về - Bối cảnh: “Trời về khuya” - Cảnh vật: Đom đóm bay ngoài ao, đom đóm đã vào nhà, “Trời về khuya lung linh trắng”, “vườn hoa mận trắng” -> Cảnh vật có phần tươi hơn dù đêm đã muộn, vui theo nỗi vui của em bé khi mẹ đã về nhà. - Mẹ đã về: + Mẹ đã về nhưng trong em bé, “nỗi đợi vẫn nằm mơ” -> Em rất thương mẹ, nhưng dường như ngày nào mẹ cũng đi làm về muộn, em ngày nào cũng đợi ngóng mẹ về, giờ hành động đó đã quen đến nỗi trong mơ em vẫn mơ là mình đang đợi mẹ về. Luận điểm 2: Bài thơ còn khắc họa một cách chân thực, cảm động hình ảnh người mẹ tần tảo, lam lũ vì mưu sinh, và vì con.” - Mẹ làm lụng cần mẫn, vất vả lam lũ: + Mẹ lẫn trên cánh đồng Đồng lúa lẫn vào đêm + Bàn chân mẹ lội bùn ì oạp phía đồng xa - Tình yêu thương của mẹ: Mẹ đã bế vào nhà -> Sau một ngày làm việc vất vả, mẹ trở về nhà, âu yếm yêu thương bế em bé đi ngủ. => Những bài thơ viết về mẹ luôn có sức lay động, truyền cảm đặc biệt, bởi tình mẫu tử là tình cảm thiêng liêng đối với mỗi con người. Ai trong thẳm sâu tâm hồn, trái tim mình đều có hình bóng người mẹ kính yêu. * Cảm nhận của em về nội dung, nghệ thuật của bài thơ - Chỉ ra nội dung hoặc nghệ thuật cụ thể của bài thơ khiến em yêu thích và có nhiều cảm xúc, suy nghĩ - Nêu lý do khiến em yêu thích chi tiết, hình ảnh, khía cạnh nội dung hay nghệ thuật của bài thơ III. Kết bài: - Khẳng định lại ý nghĩa của bài thơ. - HS nêu những suy nghĩ riêng của mình về vấn đề, gửi gắm mong ước, 1.0 niềm tin . (Trân trọng những cách diễn đạt khác nếu hợp lí) -----------------------HẾT------------------------
File đính kèm:
de_khao_sat_hsg_ngu_van_8_co_dap_an.docx



