Phương pháp sử dụng Đồ dùng trực quan trong giảng dạy Công nghệ

doc19 trang | Chia sẻ: Chan Chan | Ngày: 06/02/2026 | Lượt xem: 6 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Phương pháp sử dụng Đồ dùng trực quan trong giảng dạy Công nghệ, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút TẢI VỀ ở trên
 PHÒNG GD&ĐT TÂN YÊN
 TRƯỜNG THCS TÂN TRUNG
 SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
 Đề tài: 
GIÚP HỌC SINH HỨNG THÚ HỌC MÔN CÔNG NGHỆ
 QUA TIẾT THỰC HÀNH
 Giáo viên: Nguyễn Hải Yến
 Tổ: Khoa học tự nhiên
 Năm học: 2019 - 2020 
 A. ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Cơ sở lý luận.
 Cùng với sự phát triển của xã hội loài người, cuộc cách mạng khoa học 
công nghệ như một luồng gió mới thổi vào và làm lay động nhiều lĩnh vực trong 
cuộc sống. Hơn bao giờ hết con người đang đứng trước những diễn biến thay đổi 
to lớn, phức tạp về lịch sử xã hội và khoa học- kỹ thuật. Nhiều mối quan hệ mâu 
thuẫn của thời đại cần được giải quyết trong đó có mâu thuẫn yêu cầu ngành 
GD- ĐT nói chung và người thầy chúng ta nói riêng phải giải quyết ngay, đó là 
mâu thuẫn giữa quan hệ sức ép của khối lượng tri thức ngày càng tăng và sự tiếp 
nhận của con người có giới hạn, bởi vì sự nhận thức của con người nói chung là 
tuyệt đối và không có giới hạn song sự thu nhận, hiểu biết kiến thức của mỗi con 
người đều hữu hạn và tương đối.
 Nhiệm vụ trên đây đã đặt ra cho người giáo viên bên cạnh việc bồi dưỡng 
kiến thức chuyên môn thì phải cải tiến phương pháp dạy học nâng cao chất 
lượng giáo dục để đáp ứng yêu cầu của tình hình mới 
 Như chúng ta đã biết, môn C«ng nghÖ có vị trí và ý nghĩa quan trọng đối 
với việc giáo dục thế hệ trẻ. Từ những hiểu biết ®¬n gi¶n vÒ trång trät sÏ gióp 
c¸c em biÕt c¸c c«ng viÖc trong cuéc sèng h»ng ngµy, gióp c¸c em cã thÓ ®Þnh 
h­íng nghÒ nghiÖp trong t­¬ng lai.
 Như chúng ta thấy, con đường nhận thức ngắn nhất sẽ là con đường “Đi từ 
trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng” và phương tiện hết sức cần thiết để 
đi được trên “Con đường” nhận thức này chính là các “Dụng cụ trực quan”.
 Đặc biệt trong hướng dạy học mới hiện nay, “Hướng tích cực hoá hoạt 
động học tập của học sinh”, yêu cầu người giáo viên phải biết tạo điều kiện cho 
học sinh tự tìm tòi, khai thác kiến thức, biết điều khiển hoạt động nhận thức của 
mình bằng các “Đồ dùng trực quan”, chính vì thế mà “Đồ dùng trực quan” đã 
trở thành một nhân tố khá quan trọng trong hoạt động dạy học, vì nó vừa là 
phương tiện giúp học sinh khai thác kiến thức, vừa là nguồn tri thức đa dạng, 
phong phú mà học sinh rất dễ nắm bắt. Chúng ta cũng biết, Hội nghị BCH TƯ Đảng lần thứ 2 khoá VIII đã nhấn 
mạnh:“Đổi mới mạnh mẽ phương pháp GD-ĐT khắc phục lối truyền thụ một 
chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học. Từng bước áp dụng 
các phương pháp tiên tiến và phương pháp hiện đại vào quá trình dạy- học đảm 
bảo điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu cho học sinh ”
 Trong việc đổi mới, cải tiến phương pháp dạy học, việc phát huy tính tích 
cực của học sinh có ý nghĩa rất quan trọng. Bởi vì xét cho cùng công việc giáo 
dục phải được tiến hành trên cơ sở tự nhận thức, tự hành động. Giáo dục phải 
được thực hiện thông qua hành động và hành động của bản thân (tư duy và thực 
tiễn). Vì vậy việc khơi dậy, phát triển ý thức, ý chí, năng lực, bồi dưỡng, rèn 
luyện phương pháp tự học là con đường phát triển tối ưu của giáo dục. 
 Qua giảng dạy môn C«ng nghÖ ở trường THCS đặc biệt là từ khi thực hiện 
thay sách giáo khoa và đổi mới phương pháp dạy học tôi nhận thấy đây là một 
vấn đề bổ ích về lí luận cũng như thực tiễn. Nó có ý nghĩa rất lớn đối với việc 
nâng cao chất lượng bộ môn bởi vì đối tượng là học sinh THCS thì về mặt thể 
chất cũng như tinh thần, sự nhận thức, năng lực tư duy của các em đã phát 
triển ở mức độ cao hơn các em ở bậc tiểu học và các em ở lớp trên thì cao hơn 
các em ở lớp dưới. Nếu được khơi dậy đúng mức tính tích cực, sự chủ động 
trong học tập cũng như các hoạt động khác không những làm cho các em thu 
nhận được một lượng tri thức tốt nhất cho bản thân mà còn là cơ sở vững chắc 
để các em bước vào bậc THPT – nơi mà các em sẽ phải có năng lực tư duy và ý 
thức tự học cao hơn.
 Từ trước tới nay đã có rất nhiều người đề cập đến vấn đề phát huy tích tính 
cực của học sinh trong học tập C«ng nghÖ bậc THCS. Tuy nhiên những vấn đề 
mà các nhà nghiên cứu đưa ra chỉ áp dụng vào một bậc học cụ thể mà ít đi sâu 
vào một khối lớp cụ thể vi vậy trong khuôn khổ bài viết này tôi chỉ xin lưu ý đến 
một khía cạnh gắn liền với việc giảng dạy nhiều năm môn C«ng nghÖ, đó là một 
số biện pháp sử dụng đồ dùng trực quan trong dạy học C«ng nghÖ với mục đích 
là góp một phần nhỏ bé vào việc nâng cao chất lượng giảng dạy môn C«ng nghÖ 
ở trường THCS nơi tôi đang giảng dạy, đồng thời cũng là để trao đổi, học tập kinh nghiệm của các thầy giáo, các đồng nghiệp nhằm nâng cao trình độ chuyên 
môn cũng như phương pháp dạy học. Những vấn đề mà tôi nêu ra trên cơ sở 
được trang bị những kiến thức cơ bản nhất, phương pháp dạy học C«ng nghÖ 
cũng như việc sử dụng đồ dùng trực quan, thực nghiệm sư phạm ở trường 
THCS. 
 Nếu thầy giáo chỉ làm chức năng truyền thụ kiến thức thì sẽ thực hiện 
phương châm “Thầy giáo là trung tâm’’ học sinh sẽ thụ động tiếp nhận kiến 
thức, sẽ học thuộc lòng những gì thầy giáo giảng và cho ghi cũng như trong sách 
đã viết. Đó chính là cách giảng dạy giáo điều, nhồi sọ biến giáo viên thành 
người thuyết trình, giảng giải và học sinh thụ động tiếp nhận những điều đã 
nghe, đã đọc. Có nhà giáo dục đã gọi đó là cách “Nhai kiến thức rồi mớm cho 
học sinh”.
 Chúng ta đều biết rằng việc dạy học được tiến hành trong một quá trình 
thống nhất gồm hai khâu có tác dụng tương hỗ nhau: giảng dạy và học tập. Cả 
việc giảng dạy và học tập đều là một quá trình nhận thức, tuân theo những quy 
luật nhận thức. Nhận thức trong dạy học được thể hiện trong hoạt động của giáo 
viên và học sinh đối với việc truyền thụ và tiếp thu một nội dung khoa học được 
quy định trong chương trình với những phương pháp dạy học thích hợp, những 
phương tiện hình thức cần thiết để đạt được kết quả nhất định đã đề ra.
 Từ lâu các nhà sư phạm đã nhận thức được tầm quan trọng và ý nghĩa của 
việc phát huy tính tích cực của học sinh trong học tập. Nhà giáo dục người Đức 
là Disterverg đã khẳng định đúng đắn rằng: “Người giáo viên tồi truyền đạt chân 
lí, người giáo viên giỏi dạy cách tìm ra chân lí”.
 Điều này có nghĩa rằng người giáo viên không chỉ giới hạn công việc của 
mình ở việc đọc cho học sinh ghi chép những kiến thức có sẵn, bắt các em học 
thuộc lòng rồi kiểm tra điều ghi nhớ của các em thu nhận được ở bài giảng của 
giáo viên hay trong sách giáo khoa. Điều quan trọng là giáo viên cung cấp cho 
các em những kiến thức cơ bản (bao gồm kiến thức khoa học, sự hiểu biết về các quy luật, nguyên lí và các phương pháp nhận thức ) làm cơ sở định hướng cho 
việc tự khám phá các kiến thức mới, vận dụng vào học tập và cuộc sống. 
 Vì vậy, việc cho các em quan sát đồ dùng trực quan rồi từ đó các em rút ra 
những nhận xét, tiếp thu tri thức, bồi dưỡng, rèn luyện về học tập là con đường 
phát triển tối ưu của giáo dục - đó chính là con đường lấy học sinh làm trung 
tâm, làm chủ thể của việc nhận thức với sự hướng dẫn, giáo dục tích cực có hiệu 
quả của giáo viên, điều này được thực hiện trên cơ sở hoạt động tích cực, tự giác 
của học sinh. Đây là tính ưu việt của phương pháp phát huy tính tích cực của 
học sinh được gọi là phương pháp dạy học mới để phân biệt với phương pháp 
dạy học cũ hay còn gọi là kiểu dạy học truyền thống.
 Xuất phát từ tình hình thực tế đất nước, đặc biệt là trước công cuộc cách 
mạng khoa học kỹ thuật ngày càng phát triển như vũ bão, việc chỉnh lý chương 
trình giáo dục và thay đổi nội dung sách giáo khoa là một vấn đề rất cấp thiết và 
vô cùng quan trọng. Chính vì lẽ đó mà “Giáo dục là quốc sách hàng đầu”.
 Nhằm để thực hiện tốt mục tiêu giáo dục và chương trình giáo dục đổi mới 
hiện nay, người giáo viên cần phải đổi mới phương pháp dạy học cho phù hợp 
với hướng dạy học “Lấy học sinh làm trung tâm”. Một trong những phương 
pháp đặc trưng bộ môn C«ng nghÖ là phương pháp “Sử dụng dụng cụ trực quan” 
trong giảng dạy. 
 Từ thực tế cho thấy chuẩn bị “Đồ dùng trực quan” làm dụng cụ trực quan là 
công tác rất khó khăn, rất công phu và rất tốn kém như: 
 + Sử dụng “Đồ dùng trực quan” như thế nào để đảm bảo tính trực quan.
 + Sử dụng “Đồ dùng trực quan” như thế nào để đạt hiệu quả cao trong 
giảng dạy C«ng nghÖ lại là một vấn đề càng khó khăn hơn. Đó cũng chính là 
vấn đề của mỗi người giáo viên C«ng nghÖ đã và đang quan tâm hiện nay, với 
hy vọng góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy bộ môn C«ng nghÖ. Vì vậy mà 
trong bài viết này tôi xin trình bày: “Phương pháp sử dụng Đồ dùng trực quan 
trong giảng dạy C«ng nghÖ ” sẽ giúp cho việc dạy học theo phương pháp mới và việc thực hiện chương trình giáo dục mới sẽ đạt hiệu quả cao hơn như mong 
muốn.
2. C¬ së thùc tiÔn
 Cơ sở lí luận của việc sử dụng đồ dùng trực quan trong dạy học C«ng nghÖ 
ở trường THCS. Hiện nay có nhiều quan niệm, ý kiến khác nhau về vấn đề phát 
huy tính tích cực của học sinh trong dạy học nói chung, dạy học C«ng nghÖ nói 
riêng. Việc xây dựng cơ sở lí luận là điều quan trọng trong thực tiễn dạy học bộ 
môn.
 Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn đối với học sinh. Các em phải được rèn 
luyện ở mức độ cao hơn khả năng tự học, tự nhận thức và hành động cũng như 
có những tìm tòi trong tư duy,sáng taọ.
 So sánh kiểu dạy học truyền thống và phương pháp dạy học nhằm phát huy 
tính tích cực của học sinh thông qua việc tiếp cận, làm việc với đồ dùng trực 
quan chúng ta thấy rõ những điều khác biệt cơ bản trong quá trình dạy và học. 
Xin trích dẫn một vài ví dụ của giáo sư Phan Ngọc Liên và tiến sĩ Vũ Ngọc Anh 
để thấy rõ sự khác biệt đó:
 KIỂU DẠY HỌC TRUYỀN PPDH PHÁT HUY TÍNH TÍCH 
 THỐNG CỰC CỦA HS
 1. Cung cấp nhiều sự kiện, được 1. Cung cấp những kiến thức cơ bản 
 xem là tiêu chí cho chất lượng được chọn lựa phù hợp với yêu cầu, trình 
 giáo dục. độ của HS, nhằm vào mục tiêu đào tạo.
 2. GV là nguồn kiến thức duy 2. Ngoài bài giảng của GV ở trên lớp HS 
 nhất, phần lớn thời gian trên lớp được tiếp xúc với nhiều nguồn kiến thức 
 dành cho GV thuyết trình, giảng khác, vốn kiến thức đã học, kiến thức 
 giải, HS thụ động tiếp thu kiến của bạn bè, SGK, tài liệu tham khảo, 
 thức thông qua nghe và ghi lại lời thực tế cuộc sống.
 của GV. 3. Học sinh chỉ làm việc một mình 3. HS ngoài việc tự nghiên cứu còn trao 
 trên lớp, ở nhà hoặc với GV khi đổi, thảo luận với các bạn trong tổ, lớp, 
 kiểm tra. trao đổi ngoài giờ. HS đề xuất ý kiến, 
 thắc mắc, trao đổi với GV.
 4. Nguồn kiến thức thu nhận được 4. Nguồn kiến thức của HS thu nhận rất 
 của HS rất hạn hẹp, thường giới phong phú, đa dang
 hạn ở các bài giảng của GV, SGK
 5. Hình thức tổ chức dạy học chủ 5. Dạy ở trên lớp, ở thực địa, ngay t¹i gia 
 yếu ở trên lớp ®×nh, líp häc, các hoạt động ngoại 
 khoá....
 Như vậy qua so sánh hai kiểu dạy học trên thì ta thấy phương pháp phát 
huy tính tích cực của học sinh sẽ đem lại hiệu quả cao hơn .Tuy nhiên nó đòi hỏi 
giáo viên và học sinh phải được “Tích cực hoá’’ trong quá trình dạy- học, phải 
chủ động sáng tạo. Muốn đạt được điều đó GV cần áp dung nhiều phương pháp 
dạy - học trong đó có phương pháp sử dụng đồ dùng trực quan. Cần phải tiếp thu 
những điểm cơ bản có tính nguyên tắc của cách dạy truyền thống song phải luôn 
luôn đổi mới, làm một cuộc cách mạng trong người dạy và người học để khắc 
phục sự bảo thủ, thụ động như: Giáo viên chỉ chuẩn bị giảng những điều học 
sinh dễ nhớ, học sinh chỉ chú trọng ghi lời giảng của giáo viên và kiến thức 
trong sách để trình bày lại khi kiểm tra. 
 3. Mục đích của việc nghiên cứu:
 Về lí luận và thực tiễn, việc phát huy tính tích cực của học sinh trong việc 
 sử dụng đồ dùng trực quan trong học tập môn C«ng nghÖ là điều cần thiết và 
 quan trọng để nâng cao hiệu quả giáo dục. Đó chính là lí do chủ yếu để nghiên 
 cứu vấn đề này. Nội dung gồm:
a. Cơ sở lí luận của việc sử dụng đồ dùng trực quan trong dạy-học C«ng nghÖ 
b. Thực tiễn của việc sử dụng đồ dùng trực quan trong dạy -học ở trườngTHCS. c. Những biện pháp sư phạm để phát huy sử dụng đồ dùng trực qua có hiệu quả.
 4. Phương pháp nghiên cứu:
 a- Đối tượng nghiên cứu.
 - Nội dung chương trình SGK.
 - Sách hướng dẫn giáo viên, phân phối chương trình C«ng nghÖ THCS, và 
các tài liệu có liên quan
 - Đối tượng HS THCS đặc biệt là HS lớp 7,líp 9.
 - Giáo viên dạy bộ môn và thực trạng việc sử dụng đồ dùng trực quan ở 
trường THCS hiện nay.
 b- Nhiệm vụ, mục đích.
 - Nhìn rõ thực trạng việc sử dụng đồ dùng trực quan ở trường THCS 
những ưu điểm, nhược điểm.
 - Nguyên tắc và phương pháp sử dụng đồ dùng trực quan. 
 - Rút ra những yêu cầu chung và bài học kinh nghiệm khi sử dụng đồ 
dùng trực quan trong giảng dạy gắn với yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học 
m«n C«ng nghÖ .
 c- Phương pháp nghiên cứu.
 - Phương pháp phân tích, tổng hợp, ®iều tra, phán đoán.
 - Phương pháp thực nghiệm.
 - Phương pháp khảo sát đánh giá.
 B. NỘI DUNG THỰC HIỆN
I. Thùc tr¹ng cña vÊn ®Ò:
 Thực tiễn của việc dạy học phát huy tính tích cực của học sinh trong 
trường THCS hiện nay. Trong vài năm gần đây, bộ môn C«ng nghÖ trong trường THCS đã được 
chú trọng hơn trước. §· ®­îc cung cấp thêm các trang thiết bị và tài liệu tham 
khảo phục vụ cho việc dạy và học.
 Tuy nhiên qua vài năm giảng dạy bộ môn này tôi thấy rằng việc dạy học 
môn C«ng nghÖ hiện nay vẫn còn giặp rất nhiều khó khăn, nhưng trở ngại nhất 
là việc phát huy tính tích cực của học sinh trong việc quan sát, sử dụng đồ dùng 
trực quan, tuy đã được phổ biến, học tập bồi dưỡng thường xuyên theo chu kỳ 
nhưng kết quả đạt được không đáng là bao. Thực trạng của vấn đề này có thể 
giải thích ở những nguyên nhân cơ bản sau đây: 
 Thứ nhất là vẫn tồn tại một quan niệm cố hữu cho rằng môn C«ng nghÖ là 
những môn phụ. Điều này được thể hiện việc quan tâm đến chất lượng bộ môn 
từ cấp lãnh đạo chưa đúng mức. 
 Thứ hai là về cơ sở vật chất phục vụ giảng dạy và học tập tuy đã được đầu 
tư nhưng vẫn còn thiếu so với yêu cầu giáo dục hiện nay về đồ dùng dạy. Tình 
trạng dạy chay vẫn còn khá phổ biến. Trong suốt quá trình học bộ môn C«ng 
nghÖ lớp7 vµ cả thầy và trò chưa bao giờ có điều kiện tham quan m« h×nh trång 
c©y ¨n qu¶ ®iÓn h×nh, hoÆc v­ên c©y nh©n gièng vì không có kinh phí. Điều đó 
làm cho vốn kiến thức kiến thức của các em chỉ bó gọn trong sách vở và bài 
giảng . 
 Nguyên nhân thứ ba là việc phát huy tính tích cực học tập của học sinh 
trong học tập bộ môn C«ng nghÖ còn nhiều hạn chế một phần là do chính những 
cơ chế, những quy định từ cấp trên. M«n C«ng nghÖ ch­a bao giê ®­îc chän lµ 
m«n dù thi c¸c cÊp.
 Ngoài ra cách tổ chức một số cuộc thi cử cũng còn nhiều hạn chế, đó là 
chỉ chú trọng về mặt kiểm tra lí thuyết mà coi nhẹ thực hành, ít chú ý đến việc 
phát triển năng lực sáng tạo.
 Cuối cùng điều quan trọng là ý thức trách nhiệm của mỗi giáo viên trong 
việc thực hiện các phương pháp dạy học phù hợp trong đó phải nói đến phương 
pháp sử dụng đồ dùng trực quan để đem lại hiệu quả cho tiết dạy cũng như chất lượng bộ môn ngày một nâng cao. Mỗi một GV – HS phải hiểu rõ sự nguy hại 
của việc thi gì học nấy sẽ làm cho học vấn của học sinh bị què quặt, thiếu toàn 
diện..... 
 II. Các biện pháp cụ thể:
 1/ Tình hình sử dụng các dụng cụ trực quan đối với việc dạy học trước 
đây:
 - Trước đây, đa số các trường đều thiếu thốn về cơ sở vật chất, nghèo nàn 
về các thiết bị dạy học đối với bộ môn. 
 - Theo quan niệm giáo dục lạc hậu trước đây cho rằng dụng cụ trực quan là 
phương tiện cần thiết để giáo viên truyền thụ kiến thức mới, dụng cụ minh hoạ 
cho các kiến thức đã truyền đạt, còn đối với học sinh chỉ có tác dụng chấp nhận 
và ghi nhớ.
 - Theo phương pháp sử dụng này thì dụng cụ trực quan chưa phát huy hết 
vai trò của mình, đôi khi chưa thể hiện được tính trực quan và tính khoa học của 
nó, giờ dạy C«ng nghÖ sẽ rơi vào những hạn chế sau:
 + Giáo viên chưa phát huy được tính tích cực, chủ động của học sinh trong 
việc lĩnh hội kiến thức.
 + Các kiến thức trång trät do giáo viên cung cấp học sinh sẽ không hiểu 
sâu, nhớ kỹ bằng chính các em tự nhận thức.
 + Các nguồn trí thức từ dụng cụ trực quan chưa thực sự hấp dẫn đối với các 
em. Do đó không gây hứng thú học tập, không có khả năng phát triển tư duy.
 + Chưa tạo cho học sinh các kỹ năng quan trọng như: biÕt ch¨m sãc c©y 
trång, nh©n gièng cc©y ¨n qu¶, bãn ph©n thóc, lµm xiro 
 2. Những biện pháp mới đã thực hiện:
 Để cải tiến phương pháp giảng dạy phù hợp với chương trình giáo dục mới 
ở bộ môn C«ng nghÖ, thiết bị các trường học đã trang bị khá đầy đủ các loại 
dụng cụ trực quan, chủ yếu là các loại sau: - Hình vẽ, tranh, ảnh.
 - Mô hình.
 Đối với các loại phương tiện này thì người giáo viên C«ng nghÖ cần có 
phương pháp sử dụng như thế nào.
 a/ Đối với hình vẽ, tranh, ảnh:
 *) Đối với hình vẽ: 
 Học sinh lớp7 cũng như các lớp khác rất thích xem tranh ảnh, 
 Vì vậy giáo viên phải làm nổi néi dung tranh ¶nh để gây hứng thú cho học 
sinh, kích thích óc tò mò, phát triển năng lực nhận thức. Từ đó làm cho các em 
kh¸m ph¸ ®­îc kiÕn thøc cña bµi häc
 Tuy nhiên phải chọn thời gian phù hợp để đưa tranh ¶nh ra. Khi sử dụng, 
giáo viên phải phân tích, định hướng cho học sinh, tự mình đánh giá ®­îc ngô ý 
cña tranh ¶nh ®ã . 
 Ví dụ: Khi giảng bài “Gièng vËt nu«i” dạy đến mục I. “Kh¸i niÖm vÒ 
gièng vËt nu«i” giáo viên cho học sinh quan sát tranh vÏ c¸c gièng vËt nu«i cã ë 
®Þa ph­¬ng vµ c¸c h×nh vÏ SGK sẽ gây được hứng thú cho học sinh trong việc 
t×m ra kh¸i niÖm gièng vËt nu«i lµ g×?
 VÝ dô: d¹y trong bµi 12-C«ng nghÖ 9 “NhËn biÕt mét sè lo¹i s©u, bÖnh h¹i 
c©y ¨n qu¶” muèn ®Ó häc sinh nhËn biÕt ®­îc ®Æc ®iÓm h×nh th¸i cña c¸c lo¹i 
s©u h¹i c©y ¨n qu¶, Gi¸o viªn treo c¸c h×nh ¶nh c¸c lo¹i s©u ë giai ®o¹n tr­ëng 
thµnh ®Ó häc sinh quan s¸t sau ®ã ho¹t ®éng nhãm t×m ra ®­îc ®Æc ®iÓm cña c¸c 
lo¹i s©u vµ c¸c giai ®o¹n biÕn th¸i cã nh­ vËy míi t¹o kh«ng khi s«i næi trong 
líp häc, häc sinh høng thó häc tËp. 
 Có thể là hình vẽ được giáo viên chuẩn bị trước, (như hình vẽ m« pháng 
c¸c ®éng t¸c cµy, bõa, ®Ëp ®Êt, mét sè lo¹i thøc ¨n cho vËt nu«i ...)
 Đối với hình vẽ: Ta cần cho học sinh tiến hành theo các bước sau:
 - Đọc tên và cho biết các c«ng viÖc ®­îc diÔn t¶ trªn h×nh vÏ .
 - Rút ra ®­îc kiÕn thøc cÇn thiÕt tõ c¸c bøc tranh đó. *) Tranh ảnh 
 - Đối với giáo viên: Tham khảo sưu tầm nhiều tranh ảnh, tư liệu có liên 
quan đến tiết dạy để minh hoạ trên lớp .
 - Đối với học sinh: Ngoài việc làm bài tập và học ở nhà học sinh sưu tầm 
trên sách báo, vÝ dô b¸o n«ng nghiÖp, b¸o khuyÕn n«ng, những tranh ảnh liên 
quan đến bài học . 
 Tranh ảnh trong SGK là một phần đồ dùng trực quan trong quá trình dạy 
học. Từ việc quan sát, học sinh sẽ đi tới công việc của tư duy trừu tượng. Thông 
qua quan sát miêu tả, tranh ảnh học sinh được rèn luyện kỹ năng diễn đạt, lựa 
chọn ngôn ngữ. Từ việc quan sát thường xuyên các tranh ảnh, giáo viên luyện 
cho các em thói quen quan sát và khả năng quan sát vật thể một cách khoa học, 
có xem xét, phân tích, giải thích để đi đến những nét khái quát rút ra những kết 
luận 
 Ví dụ : Khi dạy bài 14 “NhËn biÕt c¸c lo¹i thuèc trõ s©u” GV ph¶i s­u tÇm 
c¸c tranh ¶nh cã trong c¸c t­ liÖu, nh·n, m¸c thuèc trõ s©u. Häc sinh s­u tÇm ë 
gia ®×nh c¸c lä thuèc trõ s©u ®· dïng, c¸c tói thuèc ®· ®­îc sö dông ®em ®Õn 
líp. Tõ ®ã c¸c tranh ¶nh míi phong phó, ®a d¹ng, häc sinh dÔ ph©n biÖt ®­îc c¸c 
lo¹i thuèc kh¸c nhau
 Như vậy việc sử dụng tranh ảnh vừa khai thác được nội dung kiÕn thøc thể 
hiện trong tranh ảnh bổ sung cho bài giảng, vừa phát huy được năng lực tư duy 
cho HS, kích thích trí tưởng tượng phong phú, tạo hứng thú học tập cho các em 
* Cách sử dụng có hiệu quả:
 - Đọc tên bức tranh, xác định xem bức tranh đó thể hiện gì? 
 - Tường thuật lại néi dung bøc tranh .
 - Rút ra được ý nghĩa và néi dung kiÕn thøc. 
 b/ Mô hình:
 Mét sè m« h×nh cã s½n hoÆc gv tù s­u tÇm sÏ gióp cho tiết dạy sinh động hơn. Giáo viên giới thiệu mô hình đang sử dụng, mô hình là vật tượng trưng cho phÇn 
kiÕn thøc nµo? .
Dùng câu hỏi hướng dẫn học sinh quan sát, trả lời tìm ra các kiÕn thøc liªn quan 
 Vídụ: Trong bµi 36 “ NhËn biÕt mét sè gièng lîn qua quan s¸t vµ ®o kÝch 
th­íc c¸c chiÒu”. 
 Víi néi dung bµi häc nµy th× gi¸o viªn kh«ng thÓ ®em vËt mÉu thËt lªn líp 
®­îc mµ chØ cã thÓ dïng m« h×nh lîn. Tõ con lîn b»ng m« h×nh th× gv gi¶ng cho 
häc sinh biÕt c¸c bé phËn trªn con vËt, chØ c¸ch ®o kÝch th­íc c¸c chiÒu, qua ®ã 
häc sinh biÕt c¸ch tÝnh träng l­îng thËt cña lîn NÕu dïng m« h×nh th× häc 
sinh ®­îc thùc hµnh thªn m« h×nh c¸c em sÏ n¾m ch¾c kiÕn thøc h¬n, nhí l©u 
h¬n, thÝch thó trong viÖc häc tËp trªn líp h¬n 
 Từ các mô hình giáo viên giúp học sinh hiểu và nắm chắc các kiến thức 
 * Cách sử dụng có hiệu quả:
 - Giáo viên cho học sinh quan sát nhận biết đó là mô hình gì?
 - Cã ®ñ m« h×nh cho qu¸ tr×nh ho¹t ®éng nhãm.
 - Rút ra kÕt luËn, ghi nhí 
c/ S¬ ®å
 Trong giảng dạy C«ng nghÖ giáo viên có thể sử dụng s¬ đồ câm học sinh tù 
nghiªn cøu, hoÆc häc sinh ghi nhí tõ SGK sau ®ã ®iÒn lªn s¬ ®å ®ã
 - Thông qua s¬ đồ giúp học sinh hiểu và nhớ lâu hơn các phÇn kiÕn thøc.
 Qua các việc sử dụng s¬ đồ các em cũng có thể đánh giá được mét c¸ch hÖ 
thèng c¸c phÇn kiÕn thøc liªn quan, 
 VÝ dô nh­ bµi 52: “Thøc ¨n cña ®éng vËt thñy s¶n” s¬ ®å 16 mèi quan hÖ vÒ 
thøc ¨n, ®©y lµ mét mèi quan hÖ phøc t¹p nÕu chØ gi¶i thÝch th× häc sinh rÊt khã 
hiÓu song gi¸o viªn treo s¬ ®å, yªu cÇu häc sinh th¶o luËn nhãm sau ®ã lªn ®iÒn 
b¶ng vµ gi¶i thÝch th× sÏ gióp häc sinh nhí nhanh vµ hiÓu râ vÊn ®Ò h¬n 
 Chó ý: GV tránh tình trạng sử dụng quá nhiều hình ảnh, nếu lạm dụng sẽ 
làm cho tiết học kém hiệu quả vì chỉ giống như một tiết tham quan học sinh không nắm được kiến thức trọng tâm của bài học và việc sử dụng các hiệu ứng 
không phù hợp cũng dễ gây mất sự chú ý, tập của học sinh vào kiến thức cần 
đạt.
 Như vậy phương pháp sử dụng đồ dùng trực quan trong dạy học C«ng 
nghÖ ở trường THCS là một việc làm rất quan trọng, rất phong phú và có ý 
nghĩa lớn cần được mỗi thầy giáo, cô giáo quán triệt một cách sâu sắc và vận 
dụng sáng tạo trong công tác giảng dạy của mình, trong hoạt động nội khoá cũng 
như hoạt động ngoại khoá. Tuy nhiên để làm tốt việc này cần có sự chuyển biến 
mạnh mẽ mang tính cách mạng trong phương pháp dạy – học C«ng nghÖ và phải 
có thời gian kiểm nghiệm sự đúng đắn của nó so với kiểu dạy truyền thống. Mỗi 
giáo viên sau khi vận dụng các phương pháp dạy học này vào từng bài phải có 
sự nhận xét, đánh giá, rút kinh nghiệm và trao đổi, phổ biến với đồng nghiệp để 
khẳng định những biện pháp sư phạm trong việc nâng cao chất lượng bộ môn. 
Cần trách khuynh hướng “tách lí thuyết với thực tế”...đáp ứng được những yêu 
cầu phát triển kinh tế – xã hội của đất nước trong thời đại công nghiệp hoá - hiện 
đại hoá . 
 III. Các nguyên tắc cơ bản khi sử dụng phương tiện trực quan .
 Đồ dùng trực quan được sử dụng tốt sẽ huy động được sự tham gia của 
nhiều giác quan, sẽ kết hợp chặt chẽ cho được hai hệ thống tín hiệu với nhau: tai 
nghe, mắt thấy tạo điều kiện cho học sinh dÔ hiểu, nhớ lâu, phát triển năng lực 
chú ý quan sát, hứng thú của học sinh. Tuy nhiên nếu không sử dụng tốt, đúng 
mức và bị lạm dụng thì dễ làm học sinh phân tán sự chú ý, không tập trung vào 
các dấu hiệu cơ bản chủ yếu. Đồ dùng trực quan có nhiều loại. Mỗi loại lại có 
cách sử dụng riêng, nhưng phải chú ý các nguyên tắc cơ bản sau:
 1/ Phải căn cứ vào mục đích, nhiệm vụ, nội dung và hình thức của các loại 
bài học để lựa chọn dụng cụ trực quan cho thích hợp, không nên dùng quá nhiều 
dụng cụ trực quan cho một tiết dạy.
 2/ Phải có phương phương pháp thích hợp đối với mỗi loại dụng cụ trực 
quan ( Như đã nêu ở trên). 3/ Trước khi sử dụng cần phải giải thích: Dụng cụ trực quan này nhằm mục 
đích gì? Giải quyết vấn đề gì? Nội dung gì? trong bài học.
 4/ Đảm bảo tính trực quan, rõ ràng, thẩm mỹ, cần chú ý tới quy luật nhận 
thức, giáo dục thẩm mỹ cho học sinh. Không nên sử dụng dụng cụ trực quan quá 
cũ nát, các hình vẽ cẩu thả...
 5/ Biết vận dụng, sử dụng dụng cụ trực quan tới các phương pháp dạy học 
khác: như nêu vấn đề, mô tả, diễn giải...cho nhuần nhuyễn, đạt hiệu quả cao. 
 * Điểm khác biệt với phương pháp sử dụng dụng cụ trực quan trước đây là 
 giáo viên phải biết hướng dẫn học sinh khai thác kiến thức qua các dụng cụ 
trực quan, đồng thời qua việc sử dụng dụng cụ trực quan ta phải rèn luyện cho 
học sinh các kỹ năng cần thiết: Kỹ năng sử dụng tranh vẽ, s¬ đồ, kỹ năng thu 
thập tư liệu qua sách tham khảo...
 IV. Hiệu quả thu được.
 Qua việc áp dụng phương pháp sử dụng dụng cụ trực quan ở chương trình 
C«ng nghÖ líp 7 mới tôi nhận thấy kết quả khả quan như sau:
- Phần lớn các em đã có ý thức học tập bộ môn và có phương pháp học tập tốt.
- Các em đã hiểu rõ và nắm chắc các khái niệm, 
- Đại bộ phận các em đã hình thành được một số kỹ năng đơn giản, 
- Cơ bản là các em biết quan sát tranh ảnh, hình vẽ để rút ra kiến thức cần nắm, 
Cơ bản là các em biết tích cực, chủ động trong việc lĩnh hội các kiến, biết liên hệ 
thực tế.
 * Kết quả cụ thể:
 Qua việc áp dụng phương pháp sử dụng một số đồ dùng trực quan phù hợp 
với nội dung bài dạy ở một số lớp điển hình để thử nghiệm có kết quả như sau:
+ 100% học sinh có sách giáo khoa, sách bài tập thực hành.
+ 90% học sinh thích học bộ môn C«ng nghÖ 
 C . KẾT LUẬN - Dụng cụ trực quan là phương tiện không thể thiếu được trong hoạt động 
dạy học. Bằng những dụng cụ trực quan sinh động, giáo viên sử dụng phương 
pháp tốt nhất giúp học sinh tự khai thác, lĩnh hội kiến thức, phát huy được vai 
trò chủ thể của học sinh trong quá trình học tập. 
 - Những dụng cụ trực quan khi sử dụng trong giảng dạy cần phải có sự lựa 
chọn cho phù hợp với nội dung bài dạy, phù hợp với trình độ nhận thức của học 
sinh, đặc biệt là những dụng cụ trực quan tạo ấn tượng, giúp học sinh khắc sâu, 
nhớ kỹ, tái hiện lại những kiến thức đã học. 
 - Về phương pháp sử dụng: phải sử dụng tinh tế, khéo léo phải đảm bảo 
tính trực quan, vừa đảm bảo tính khoa học. Điều đáng lưu ý là dụng cụ trực quan 
dù sinh động đến đâu cũng không thể giúp học học tốt nếu thiếu sự chỉ đạo tận 
tình của giáo viên bộ môn. Vậy với cương vị là người chỉ đạo, hướng dẫn, người 
giáo viên phải luôn tác động ý thức học tập của các em, phải khơi dậy trong các 
em sự tìm tòi, ham hiểu biết, sẵn sàng khám phá khoa học có như thế mới đem 
lại hiệu quả
 Điều cuối cùng là muốn thực hiện tốt phương pháp sử dụng đồ dùng trực 
quan trong giảng dạy C«ng nghÖ, đòi hỏi người giáo viên ngoài năng lực chuyên 
môn, nghiệp vụ sư phạm thì phải có ý thức trách nhiệm cao, phải có cái tâm 
mang đặc thù của nghề dạy học bởi vì phương pháp dù hay đến mấy nhưng 
người thầy không có trách nhiệm cao, không yêu nghề và thương yêu học sinh 
hết mực thì cũng không đem lại kết quả như mong muốn. Có như vậy chúng ta 
mới góp phần đào tạo thế hệ trẻ thành những người lao động làm chủ nước nhà: 
có trình độ văn hoá cơ bản, phẩm chất đạo đức tốt, có sức khoẻ, thông minh 
sáng tạo đáp ứng được những yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội của đất nước 
trong thời đại công nghiệp hoá - hiện đại hoá . 
 Với kinh nghiệm này tôi đã nghiên cứu, vận dụng và thấy kết quả tương đối khả 
quan. Tuy nhiên trong quá trình thực hiện chỉ với tư cách cá nhân và chỉ có sự 
tham khảo đóng góp ý kiến của bạn bè đồng nghiệp trong trường nên chắc chắn 
cũng còn nhiều khiếm khuyết. Tôi rất mong có sự giúp đỡ, xây dựng của các đồng nghiệp và các cấp lãnh đạo để thêm hoàn thiện, có hiệu quả, nâng cao chất 
lượng bộ môn C«ng nghÖ và góp phần thúc đẩy công cuộc đổi mới PPDH và 
thực hiện đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác quản lý và dạy 
học.
 Tân Trung, Ngµy 17 tháng 06 năm 2020
 Người thực hiện 
 Nguyễn Hải Yến

File đính kèm:

  • docphuong_phap_su_dung_do_dung_truc_quan_trong_giang_day_cong_n.doc