Tài liệu 50 Ý tưởng khởi động và 25 kĩ thuật dạy học

docx17 trang | Chia sẻ: Chan Chan | Ngày: 06/02/2026 | Lượt xem: 5 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Tài liệu 50 Ý tưởng khởi động và 25 kĩ thuật dạy học, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút TẢI VỀ ở trên
 50 Ý TƯỞNG KHỞI ĐỘNG VÀ 25 KĨ THUẬT DẠY HỌC.
 Một tiết dạy thành công là một tiết dạy đạt được mục tiêu chứ không phải 
là một tiết dạy
 1. Tổng kết
 Những bức tranh, hoạt hình hay đồ vật
 Sử dụng để liên kết với bài học trước đó và kích thảo luận, tóm tắt
 2. Chú thích bằng một sơ đồ
 Sơ đồ gắn nhãn hay chú thích dựa trên công việc của bài học trước. Có thể 
thực hiện dưới hình thức hoạt động nhóm hoặc cả lớp.
 3. Viết một bài thơ với chữ cái đầu
 Theo cặp, lấy một thuật ngữ mới quan trọng, xây dựng mỗi dòng mới sẽ 
được bắt đầu bằng một chữ cái trong thuật ngữ. Viết một “bài thơ ngắn” sử dụng 
các chữ cái và phản ánh được nội dung của khái niệm. Có ví dụ từ những năm 
trước.
 4. Bản đồ khái niệm
 Viết ra những thuật ngữ/ý tưởng từ bài học trước lên bảng. Yêu cầu học 
sinh xây dựng và giải thích mối liên kết giữa các thuật ngữ.
 5. Những điểm lỗi
 Đưa ra một bức tranh với những thứ không phù hợp với địa điểm, thời kỳ. 
Yêu cầu học sinh nhận diện những điểm lỗi và sau đó giải thích lý do.
 6. Nhóm 4
 Chia lớp theo cặp hoặc nhóm 4 người. Chiếu 4 đoạn văn lấy từ bài học 
trước lên máy chiếu, đánh số từ 1 – 4, yêu cầu mỗi cá nhân phải giải thích cho 
nhóm.
 7. Nhớ tranh
 Phát cho học sinh bản sao chép của một bức tranh để nghiên cứu và ghi 
nhớ trong 2 phút. Sau đó chúng phải trả lại tranh và cung cấp phản hồi về những 
chi tiết mà chúng có thể nhớ được. Điều này tốt cho việc tập trung chú ý vào 
những nguồn tại liệu có hình ảnh chi tiết.
 7. Bản đồ tư duy
 Viết ra những chủ đề của bài học trước lên giữa bảng, với những thuật ngữ 
thích hợp. Học sinh phải hoàn thành bản đồ tư duy để thể hiện những gì chúng đã 
học.
 9. Giải thích biểu đồ
 Giải thích một cách đơn giản, tuần tự các biểu đồ và đề xuất chú thích cho 
mỗi biểu đồ.
 10. Dữ liệu giả
 Minh hoạ dữ liệu, có chứa một số số liệu giả mạo liên quan đến một chủ 
đề đã học. Học sinh làm việc theo cặp và tìm ra những con số có nhiều khả năng 
là không chính xác và phải giải thích cho sự lựa chọn của chúng.
 11. Từ khoá
 Thẻ từ/định nghĩa
 Ghép những thẻ có chứa từ khoá với những thẻ có định nghĩa tương ứng. 
Có thể thực hiện hoạt động theo cặp, hoặc cả lớp trên màn hình máy chiếu.
 12. Chữ cái đầu tiên Viết chữ cái đầu tiên của từ khoá đã học trong bài trước lên bảng. Học sinh 
phải xác định thuật ngữ và định nghĩa chúng. Ví dụ như: Uốn khúc: RC, RB, C, 
OBL
 13. Bingo
 Học sinh được đưa cho 15 từ liên quan đến 1 chủ đề. Chúng phải chọn ra 
8 từ và viết lên thẻ bingo. Giáo viên gọi tên theo thứ tự quan trọng và học sinh 
phải giải thích các thuật ngữ.
 14. Đô-mi-nô
 Nối các ký hiệu/định nghĩa/từ khoá. Có thể thực hiện hoạt động này theo 
cặp đôi hoặc là cả lớp trên máy chiếu, với tất cả học sinh là một hệ thống đô-mi-
nô
 15. Pictionary (Tôi vẽ bạn đoán)
 Học sinh hoặc giáo viên vẽ một đối tượng hoặc tính năng đã học trong một 
nửa học kỳ vừa qua mà không nói hay viết. Những bạn khác phải đoán được thuật 
ngữ trong một khoảng thời gian cho phép và viết nó xuống. Không gọi ra!
 16. Đếm ngược
 Cho học sinh 30 – 60 giây sắp xếp lại trật tự của một từ khoá mới
 17. Tôi là ai/cái gì/ở đâu?
 Một học sinh bị bịt mắt và phần còn lại của lớp/nhóm được đưa cho một 
định nghĩa, địa điểm hay đối tượng. Học sinh bịt mắt có 2 phút để hỏi câu hỏi 
có/không từ những người khác để khám phá ra câu trả lời.
 18. Trò chơi tìm chữ
 Trong trò chơi có chứa các từ khoá hoặc thông tin có thể sử dụng các manh 
mối/định nghĩa để kích hoạt những kiến thức trước đó. Trò chơi điền chữ cũng 
vậy. Trang hữu ích: www.puzzlemaker.com19. Tìm từ khác nhất
 Chiếu bộ 4 từ lên màn hình và học sinh phải tìm ra một từ khác nhất và giải 
thích tại sao. Lý do được đưa ra là phần quan trọng nhất của hoạt động.
 20. Điều cấm kỵ
 Học sinh làm việc theo cặp/nhóm nhỏ sử dụng các tấm thẻ với 4 từ cấm kỵ. 
Một học sinh nói về từ chính trong một phút mà không dừng lại giữa chừng và sử 
dụng bất kỳ từ cấm kỵ nào.
 21. Quần vợt bằng lời nói
 Cả lớp chia thành 2 nhóm lần lượt nói một từ liên quan đến chủ đề hiện tại. 
Không thể lặp lại từ. Điểm ghi theo trò quần vợt.
 22. Tiêu đều – thiếu từ
 Giống như chương trình truyền hình cảu Anh “Tôi có tin cho bạn phải 
không?” Các tiêu đề được hiển thị nhưng với những từ khoá được dấu kín. Học 
sinh phải đoán các từ khoá.
 23. Điều khoản phân loại
 Làm việc theo cặp, Học sinh thảo luận và sắp xếp một loạt các từ thành các 
nhóm liên quan và đặt tên hoặc tiêu đề cho mỗi nhóm từ.
 24. 60 giây thử thách
 Học sinh được cho một phút để viết ra tất cả các từ khoá mà chúng có thể 
nghĩ ra để làm với 1 chủ đề.
 25. Chủ đề mới
 Mục tiêu bí ẩn Cho cả lớp thấy một đối tượng bí ẩn. Yêu cầu học sinh đưa ra các dự đoán 
xem nó là gì với 5 câu hỏi (cái gì, ai, ở đâu, khi nào, tại sao)
 26. Phân tích tranh ảnh
 Cho cả lớp xem tranh/ảnh liên quan đến chủ đề mới. Học sinh tiến hành 
quan sát và đặt câu hỏi thích hợp.
 27. Khái niệm châm biếm
 Dùng bong bóng lời nói để thảo luận về ý kiến của 4 nhân vật khác nhau là 
những người đang liên quan đến các vấn đề hay chủ đề được quan tâm. Từ đó lấy 
cơ sở để xác định quan điểm của học sinh.
 28. Tư duy điện ảnh
 Học sinh nhắm mắt. Giáo viên đọc một phần của câu chuyện hoặc một 
đoạn miêu tả cho lớp học. Sau khi giáo viên kết thúc, học sinh tiếp tục nhắm mắt 
và tiếp tục “chạy bộ phim” trong đầu chúng. Sau đó đưa phản hồi.
 29. Sắp xếp chuỗi/tiên đoán
 Làm việc theo cặp, học sinh được cung cấp một số sự kiện/quy trình trên 
các tấm thẻ. Học sinh thảo luận và xếp các thẻ vào chuỗi logic, sau đó thuyết trình 
bảo vệ ý kiến của mình.
 30. Tiên đoán
 Điều gì sẽ xảy ra là chúng ta .? Tại sao bạn nghĩ rằng đây là?
 31. Phản biện
 Giáo viên tuyên bố quan điểm không phổ biến hoặc cực đoan về một vấn 
đề nhằm thúc đẩy thảo luận về các quan điểm thay thế
 32. Điểm khác biệt
 Học sinh được đưa ra hai hình ảnh hoặc bản đồ ví dụ như: một ngôi làng 
của năm 1990 và 2000 và phải phát hiện sự khác biệt giữa chúng.
 33. Câu hỏi thông thái
 Thảo luận cặp đôi, sau đó chia sẻ ý tưởng với cặp khác bằng một câu hỏi 
như: Bạn sẽ chuẩn bị gì để chết?. Ví dụ: giới thiệu một đơn trong tác phẩm Vua 
Martin Luther.
 34. Video clip
 Cả lớp xem một đoạn trích ngắn, hấp dẫn, sau đó thảo luận trên phạm vi cả 
lớp (ví dụ: cái gì, ở đâu, tại sao, khi nào, như thế nào?)
 35. Kết hợp từ
 Để giới thiệu bất kỳ chủ đề nào, học sinh có thể được yêu cầu viết ra 10 từ 
mà chúng nghĩ đến khi nghe từ được giáo viên lựa chọn
 36. Lưới KWL
 Học sinh điền những chi tiết ngắn gọn trên một lưới KWL thể hiện những 
gì chúng: Đã biết (hoàn thành khi bắt đầu chủ đề) muốn biết (hoàn thành khi bắt 
đầu chủ đề) đã học (hoàn thành ở cuối chủ đề)
 37. Bút đánh dấu
 Học sinh được phát một tờ thông tin, sau đó chúng phải chọn và đánh dấu 
hoặc gạch chân những thông tin xác đáng hay quan điểm thích hợp
 38. Những từ không biết Phát cho học sinh những từ có liên quan đến chủ đề mới, đảm bảo có 
khoảng trống đủ lớn bên cạnh các từ đó. Học sinh sẽ sử dụng một hệ thống ví dụ 
như màu sắc đèn giao thông để chỉ ra những từ chúng hiểu và không hiểu.
 39. Các câu hỏi
 Kết nối các tấm thẻ
 Phát cho mỗi học sinh một tấm thẻ trên đó có các câu hỏi và câu trả lời 
không liên quan gì đến nhau. Một học sinh bắt đầu quá trình kết nối bằng cách 
đọc câu hỏi của chúng và người có câu trả lời phù hợp sẽ đọc tiếp câu hỏi của 
mình cho mọi người.
 40. Kiêng có/không
 Hai học sinh được gọi lên trước lớp. Chúng được hỏi một loạt các câu hỏi 
nhanh nhưng để được quyền hỏi thì trong lượt của mình chúng phải trả lời câu 
hỏi mà không được nói “có” hoặc “không”
 41. Đúng/sai
 Giáo viên đọc một loạt các đoạn văn hoặc chiếu chúng lên. Tất cả học sinh 
đồng thời giơ thẻ “đúng” hoặc “sai” cho mỗi đoạn văn.
 42. Ghế nóng
 Học sinh được ngồi vào chiếc ghê nóng sẽ nói chuyện với phần còn lại của 
cả lớp hoặc trả lời các câu hỏi.
 43. Viết câu hỏi
 Một câu trả lời hoặc một từ được đưa ra bởi giáo viên. Học sinh trong lớp 
phải viết ra những câu hỏi cho câu trả lời đó.
 44. Nhiều lựa chọn
 Chiếu lên một loạt khoảng 5 – 10 câu hỏi nhanh nhiều lựa chọn. Một bạn 
làm tình nguyện viên sẽ ghi lại kết quả các câu trả lời. Cả lớp sẽ đưa ra câu trả lời 
bằng cách chỉ ngón tay cái lên hoặc chỉ ngón tay cái xuống.
 45. Ai là triệu phú
 Hỏi và trả lời theo kiểu ai là triệu phú theo cặp. Cuối cùng cặp nào sẽ giàu 
có nhất?
 46. Làm thầy/cô giáo
 Một bạn tình nguyện đứng lên trước lớp và các bạn học sinh khác sẽ hỏi 
bạn đó 5 câu hỏi liên quan đến bài học trước
 47. Bom tấn
 Học sinh du lịch qua các ô lưới có chứa các từ viết tắt để trả lời các câu hỏi
 48. Ba lần liên tiếp
 Chia lớp thành 2 đội hoặc nam – nữ. Hai đội cùng thi đấu xem đội nào có 
thể trả lời đúng được 3 câu hỏi liên tiếp. Nếu 2 đội hoà thì giống như phần chơi 
“Cái chết đột ngột” của chương trình truyền hình Anh tên “The Weakest Link” 
thì sẽ có một loạt các câu hỏi nhanh 2 đội thay nhau lần lượt trả lời các câu hỏi, 
đội nào trả lời sai trong lượt của mình sẽ thua.
 49. Ô lưới trả lời
 Học sinh sẽ được phát một tờ giấy có các ô lưới ví dụ 3×3, 4×3, trong tờ 
giấy đó mỗi ô sẽ có chữ hoặc là bức tranh. Giáo viên sẽ đưa ra những gợi ý bằng một thuật ngữ hay bức tranh tại một thời điểm và học sinh phải khoanh tròn vào 
ô đúng.
 50. Chữ bí ẩn
 Giáo viên sẽ chiếu cho cả lớp xem một phần của trang giấy có chứa chữ bí 
ẩn liên quan đến bài học trước hoặc bài học mới. Mỗi cặp học sinh được hỏi giáo 
viên một câu hỏi, sau đó tất cả học sinh phải viết ra từ bí bẩn mà chúng nghĩ là 
gì.
 TỔNG HỢP 22 KĨ THUẬT DẠY HỌC
 Mình chuyên cung cấp Laptop, bút trình chiếu cao cấp, chuột không 
dây phục vụ thầy cô giáo. Mời các bạn tham khảo.
 - Sản phẩm của mình cam kết chất lượng, bảo hành dài nhất VN, chế 
độ BH linh hoạt, tại chỗ. May đẹp, cấu hình cao, chạy nhanh.
 ĐT, Zalo 0833703100
 1. Kỹ thuật “khăn trải bàn”
 Thế nào là kĩ thuật “khăn trải bàn”?
 Là hình thức tổ chức hoạt động mang tính hợp tác kết hợp giữa hoạt động 
cá nhân và hoạt động nhóm nhằm:
 - Kích thích, thúc đẩy sự tham gia tích cực
 - Tăng cường tính độc lập, trách nhiệm của cá nhân HS
 - Phát triển mô hình có sự tương tác giữa HS với HS
 Cách tiến hành kĩ thuật “Khăn trải bàn”
 bàn”Ky-thuat-khan-trai-ban.png
 - Hoạt động theo nhóm (4 người / nhóm) (có thể nhiều người hơn)
 - Mỗi người ngồi vào vị trí như hình vẽ minh họa
 - Tập trung vào câu hỏi (hoặc chủ đề,...)
 - Viết vào ô mang số của bạn câu trả lời hoặc ý kiến của bạn (về chủ đề...). 
Mỗi cá nhân làm việc độc lập trong khoảng vài phút
 - Kết thúc thời gian làm việc cá nhân, các thành viên chia sẻ, thảo luận và 
thống nhất các câu trả lời
 - Viết những ý kiến chung của cả nhóm vào ô giữa tấm khăn trải bàn (giấy 
A0)
 Một vài ý kiến về kĩ thuật “Khăn trải bàn”
 - Kĩ thuật này giúp cho hoạt động nhóm có hiệu quả hơn, mỗi học sinh đều 
phải đưa ra ý kiến của mình về chủ đề đang thảo luận, không ỷ lại vào các bạn 
học khá, giỏi.
 - Kĩ thuật này áp dụng cho hoạt động nhóm với một chủ đề nhỏ trong tiết 
học, toàn thể học sinh cùng nghiên cứu một chủ đề.
 - Sau khi các nhóm hoàn tất công việc giáo viên có thể gắn các mẫu giấy 
“khăn trải bàn” lên bảng để cả lớp cùng nhận xét. Có thể dùng giấy nhỏ hơn, dùng 
máy chiếu phóng lớn
 - Có thể thay số bằng tên của học sinh để sau đó giáo viên có thể đánh giá 
được khả năng nhận thức của từng học sinh về chủ đề được nêu.
 2. Kỹ thuật "động não"
 1. Khái niệm: Động não (công não) là một kỹ thuật nhằm huy động những tư tưởng mới 
mẻ, độc đáo về một chủ đề của các thành viên trong thảo luận. Các thành viên 
được cổ vũ tham gia một cách tích cực, không hạn chế các ý tưởng (nhằm tạo ra 
"cơn lốc” các ý tưởng). Kỹ thuật động não do Alex Osborn (Mỹ) phát triển, dựa 
trên một kỹ thuật truyền thống từ Ấn độ.
 2. Quy tắc của động não
 Không đánh giá và phê phán trong quá trình thu thập ý tưởng của các thành 
viên;
 Liên hệ với những ý tưởng đã được trình bày;
 Khuyến khích số lượng các ý tưởng;
 Cho phép sự tưởng tượng và liên tưởng.
 Các bước tiến hành
 1. Người điều phối dẫn nhập vào chủ đề và xác định rõ một vấn đề;
 2. Các thành viên đưa ra những ý kiến của mình: trong khi thu thập ý kiến, 
không đánh giá, nhận xét. Mục đích là huy động nhiều ý kiến tiếp nối nhau;
 3. Kết thúc việc đưa ra ý kiến;
 4. Đánh giá:
 Lựa chọn sơ bộ các suy nghĩ, chẳng hạn theo khả năng ứng dụng
 - Có thể ứng dụng trực tiếp;
 - Có thể ứng dụng nhưng cần nghiên cứu thêm;
 - Không có khả năng ứng dụng.
 Đánh giá những ý kiến đó lựa chọn* Rút ra kết luận hành động.
 3. Ứng dụng
 Dùng trong giai đoạn nhập đề vào một chủ đề;
 Tìm các phương án giải quyết vấn đề;
 Thu thập các khả năng lựa chọn và ý nghĩ khác nhau.
 4. Ưu điểm
 Dễ thực hiện;
 Không tốn kém;
 Sử dụng được hiệu ứng cộng hưởng, huy động tối đa trí tuệ của tập thể;
 Huy động được nhiều ý kiến;
 Tạo cơ hội cho tất cả thành viên tham gia.
 5. Nhược điểm
 Có thể đi lạc đề, tản mạn;
 Có thể mất thời gian nhiều trong việc chọn các ý kiến thích hợp;
 Có thể có một số HS "quá tích cực", số khác thụ động. Kỹ thuật động não 
được áp dụng phổ biến và nguời ta xây dựng nhiều kỹ thuật khác dựa trên kỹ 
thuật này, có thể coi là các dạng khác nhau của kỹ thuật động não.
 3. Kỹ thuật XYZ
 là một kỹ thuật nhằm phát huy tính tích cực trong thảo luận nhóm. X là số 
người trong nhóm, Y là số ý kiến mỗi người cần đưa ra, Z là phút dành cho mỗi 
người.
 Ví dụ kỹ thuật 635 thực hiện như sau:
 Mỗi nhóm 6 người, mỗi người viết 3 ý kiến trên một tờ giấy trong vòng 5 
phút về cách giải quyết 1 vấn đề và tiếp tục chuyển cho người bên cạnh; Tiếp tục như vậy cho đến khi tất cả mọi người đều viết ý kiến của mình, có 
thể lặp lại vòng khác;
 Con số X-Y-Z có thể thay đổi;
 Sau khi thu thập ý kiến thì tiến hành thảo luận, đánh giá các ý kiến.
 4. Kỹ thuật "bể cá"
 là một kỹ thuật dùng cho thảo luận nhóm, trong đó một nhóm HS ngồi giữa 
lớp và thảo luận với nhau, còn những HS khác trong lớp ngồi xung quanh ở vòng 
ngoài theo dõi cuộc thảo luận đó và sau khi kết thúc cuộc thảo luận thì đưa ra 
những nhận xét về cách ứng xử của những HS thảo luận.
 Trong nhóm thảo luận có thể có một vị trí không có người ngồi. HS tham 
gia nhóm quan sát có thể ngồi vào chỗ đó và đóng góp ý kiến vào cuộc thảo luận, 
ví dụ đưa ra một câu hỏi đối với nhóm thảo luận hoặc phát biểu ý kiến khi cuộc 
thảo luận bị chững lại trong nhóm. Cách luyện tập này được gọi là phương pháp 
thảo luận “bể cá”, vì những người ngồi vòng ngoài có thể quan sát những người 
thảo luận, tương tự như xem những con cá trong một bể cá cảnh. Trong quá trình 
thảo luận, những người quan sát và những người thảo luận sẽ thay đổi vai trò với 
nhau.
 Bảng câu hỏi dành cho những người quan sát
 Người nói có nhìn vào những người đang nói với mình không?
 Họ có nói một cách dễ hiểu không?
 Họ có để những người khác nói hay không?
 Họ có đưa ra được những luận điểm đáng thuyết phục hay không?
 Họ có đề cập đến luận điểm của người nói trước mình không?
 Họ có lệch hướng khỏi đề tài hay không?
 Họ có tôn trọng những quan điểm khác hay không?
 5. Kỹ thuật "ổ bi"
 là một kỹ thuật dùng trong thảo luận nhóm, trong đó HS chia thành hai 
nhóm ngồi theo hai vòng tròn đồng tâm như hai vòng của một ổ bi và đối diện 
nhau để tạo điều kiện cho mỗi HS có thể nói chuyện với lần lượt các HS ở nhóm 
khác.
 Cách thực hiện:
 Khi thảo luận, mỗi HS ở vòng trong sẽ trao đổi với HS đối diện ở vòng 
ngoài, đây là dạng đặc biệt của phương pháp luyện tập đối tác;
 Sau một ít phút thì HS vòng ngoài ngồi yên, HS vòng trong chuyển chỗ 
theo chiều kim đồng hồ, tương tự như vòng bi quay, để luôn hình thành các nhóm 
đối tác mới.
 7. Kỹ thuật tranh luận ủng hộ – phản đối
 Tranh luận ủng hộ – phản đối (tranh luận chia phe) là một kỹ thuật dùng 
trong thảo luận, trong đó đề cập về một chủ đề có chứa đựng xung đột. Những ý 
kiến khác nhau và những ý kiến đối lập được đưa ra tranh luận nhằm mục đích 
xem xét chủ đề dưới nhiều góc độ khác nhau. Mục tiêu của tranh luận không phải 
là nhằm “đánh bại” ý kiến đối lập mà nhằm xem xét chủ đề dưới nhiều phương 
diện khác nhau.
 Cách thực hiện
 Các thành viên được chia thành hai nhóm theo hai hướng ý kiến đối lập 
nhau về một luận điểm cần tranh luận. Việc chia nhóm có thể theo nguyên tắc ngẫu nhiên hoặc theo nguyên vọng của các thành viên muốn đứng trong nhóm 
ủng hộ hay phản đối.
 Một nhóm cần thu thập những lập luận ủng hộ, còn nhóm đối lập thu 
thập những luận cứ phản đối đối với luận điểm tranh luận.
 Sau khi các nhóm đã thu thập luận cứ thì bắt đầu thảo luận thông qua đại 
diện của hai nhóm. Mỗi nhóm trình bày một lập luận của mình: Nhóm ủng hộ đưa 
ra một lập luận ủng hộ, tiếp đó nhóm phản đối đưa ra một ý kiến phản đối và cứ 
tiếp tục như vậy. Nếu mỗi nhóm nhỏ hơn 6 người thì không cần đại diện mà mọi 
thành viên có thể trình bày lập luận.
 Sau khi các lập luận đã đưa ra thì tiếp theo là giai đoạn thảo luận chung 
và đánh giá, kết luận thảo luận.
 8. Kỹ thuật thông tin phản hồi trong quá trình dạy học
 Thông tin phản hồi trong quá trình dạy học là GV và HS cùng nhận xét, 
đánh giá, đưa ra ý kiến đối với những yếu tố cụ thể có ảnh hưởng tới quá trình 
học tập nhằm mục đích là điều chỉnh, hợp lí hoá quá trình dạy và học.
 Những đặc điểm của việc đưa ra thông tin phản hồi tích cực là:
 Có sự cảm thông;
 Có kiểm soát;
 Được người nghe chờ đợi;
 Cụ thể;
 Không nhận xét về giá trị;
 Đúng lúc;
 Có thể biến thành hành động;
 Cùng thảo luận, khách quan.
 Sau đây là những quy tắc trong việc đưa thông tin phản hồi:
 Diễn đạt ý kiến của Ông/Bà một cách đơn giản và có trình tự (không nói 
quá nhiều);
 Cố gắng hiểu được những suy tư, tình cảm (không vội vã);
 Tìm hiểu các vấn đề cũng như nguyên nhân của chúng;
 Giải thích những quan điểm không đồng nhất;
 Chấp nhận cách thức đánh giá của người khác;
 Chỉ tập trung vào những vấn đề có thể giải quyết được trong thời điểm 
thực tế;
 Coi cuộc trao đổi là cơ hội để tiếp tục cải tiến;
 Chỉ ra các khả năng để lựa chọn. Có nhiều kỹ thuật khác nhau trong việc 
thu nhận thông tin phản hồi trong dạy học. Ngoài việc sử dụng các phiếu đánh 
giá, sau đây là một số kỹ thuật có
 9. Kỹ thuật tia chớp
 Kỹ thuật tia chớp là một kỹ thuật huy động sự tham gia của các thành viên 
đối với một câu hỏi nào đó, hoặc nhằm thu thông tin phản hồi nhằm cải thiện tình 
trạng giao tiếp và không khí học tập trong lớp học, thông qua việc các thành viên 
lần lượt nêu ngắn gọn và nhanh chóng (nhanh như chớp!) ý kiến của mình về câu 
hỏi hoặc tình trạng vấn đề.
 Quy tắc thực hiện: Có thể áp dụng bất cứ thời điểm nào khi các thành viên thấy cần thiết và 
đề nghị;
 Lần lượt từng người nói suy nghĩ của mình về một câu hỏi đã thoả thuận, 
ví dụ: Hiện tại tôi có hứng thú với chủ đề thảo luận không?
 Mỗi người chỉ nói ngắn gọn 1-2 câu ý kiến của mình;
 Chỉ thảo luận khi tất cả đã nói xong ý kiến.
 thể áp dụng trong dạy học nói chung và trong thu nhận thông tin phản 
hồi.
 10. Kỹ thuật "3 lần 3"
 Kỹ thuật “3 lần 3“ là một kỹ thuật lấy thông tin phản hồi nhằm huy động 
sự tham gia tích cực của HS.
 Cách làm như sau:
 HS được yêu cầu cho ý kiến phản hồi về một vấn đề nào đó (nội dung buổi 
thảo luận, phương pháp tiến hành thảo luận...).
 Mỗi người cần viết ra: - 3 điều tốt; - 3 điều chưa tốt; - 3 đề nghị cải tiến.
 Sau khi thu thập ý kiến thì xử lý và thảo luận về các ý kiến phản hồi.
 11. Kỹ thuật lược đồ tư duy
 1. Khái niệm
 Lược đồ tư duy (còn được gọi là bản đồ khái niệm) là một sơ đồ nhằm trình 
bày một cách rõ ràng những ý tưởng mang tính kế hoạch hay kết quả làm việc 
của cá nhân hay nhóm về một chủ đề. Lược đồ tư duy có thể được viết trên giấy, 
trên bản trong, trên bảng hay thực hiện trên máy tính.
 2. Cách làm
 Viết tên chủ đề ở trung tâm, hay vẽ một hình ảnh phản ánh chủ đề.
 Từ chủ đề trung tâm, vẽ các nhánh chính. Trên mỗi nhánh chính viết một 
khái niệm, phản ánh một nội dung lớn của chủ đề, viết bằng CHỮ IN HOA. 
Nhánh và chữ viết trên đó được vẽ và viết cùng một màu. Nhánh chính đó được 
nối với chủ đề trung tâm. Chỉ sử dụng các thuật ngữ quan trọng để viết trên các 
nhánh.
 Từ mỗi nhánh chính vẽ tiếp các nhánh phụ để viết tiếp những nội dung 
thuộc nhánh chính đó. Các chữ trên nhánh phụ được viết bằng chữ in thường.
 Tiếp tục như vậy ở các tầng phụ tiếp theo
 3. Ứng dụng
 Lược đồ tư duy có thể ứng dụng trong nhiều tình huống khác nhau như:
 Tóm tắt nội dung, ôn tập một chủ đề;
 Trình bày tổng quan một chủ đề;
 Chuẩn bị ý tưởng cho một báo cáo hay buổi nói chuyện, bài giảng;
 Thu thập, sắp xếp các ý tưởng;
 Ghi chép khi nghe bài giảng.
 4. Ưu điểm
 Các hướng tư duy được để mở ngay từ đầu;
 Các mối quan hệ của các nội dung trong chủ đề trở nên rõ ràng;
 Nội dung luôn có thể bổ sung, phát triển, sắp xếp lại;
 Học sinh được luyện tập phát triển, sắp xếp các ý tưởng.
 12. Kỹ thuật KWL - KWLH KWL do Donna Ogle giới thiệu năm 1986, vốn là một hình thức tổ chức 
dạy học hoạt động đọc hiểu. Học sinh bắt đầu bằng việc động não tất cả những gì 
các em đã biết về chủ đề bài đọc. Thông tin này sẽ được ghi nhận vào cột K của 
biểu đồ. Sau đó học sinh nêu lên danh sách các câu hỏi về những điều các em 
muốn biết thêm trong chủ đề này. Những câu hỏi đó sẽ được ghi nhận vào cột W 
của biểu đồ. Trong quá trình đọc hoặc sau khi đọc xong, các em sẽ tự trả lời cho 
các câu hỏi ở cột W. Những thông tin này sẽ được ghi nhận vào cột L. (Trích từ 
Ogle, D.M. (1986). K-W-L: A teaching model that develops active reading of 
expository text. Reading Teacher, 39, 564-570)
 Biểu đồ KWL
 Mục đích sử dụng biểu đồ KWL
 Biểu đồ KWL phục vụ cho các mục đích sau:\
 Tìm hiểu kiến thức có sẵn của học sinh về bài đọc
 Đặt ra mục tiêu cho hoạt động đọc
 Giúp học sinh tự giám sát quá trình đọc hiểu của các em
 Cho phép học sinh đánh giá quá trình đọc hiểu của các em.
 Tạo cơ hội cho học sinh diễn tả ý tưởng của các em vượt ra ngoài khuôn 
khổ bài đọc.
 Sử dụng biểu đồ KWL như thế nào
 1. Chọn bài đọc. Phương pháp này đặc biệt có hiệu quả với các bài đọc 
mang ý nghĩa gợi mở, tìm hiểu, giải thích
 2. Tạo bảng KWL. Giáo viên vẽ một bảng lên bảng, ngoài ra, mỗi học sinh 
cũng có một mẫu bảng của các em. Có thể sử dụng mẫu sau.
 Bang-KWL.
 3. Đề nghị học sinh động não nhanh và nêu ra các từ, cụm từ có liên quan 
đến chủ đề. Cả giáo viên và học sinh cùng ghi nhận hoạt động này vào cột K. 
Hoạt động này kết thúc khi học sinh đã nêu ra tất cả các ý tưởng. Tổ chức cho 
học sinh thảo luận về những gì các em đã ghi nhận.
 Một số lưu ý tại cột K
 Chuẩn bị những câu hỏi để giúp học sinh động não. Đôi khi để khởi động, 
học sinh cần nhiều hơn là chỉ đơn giản nói với các em : “Hãy nói những gì các 
em đã biết về...”
 Khuyến khích học sinh giải thích. Điều này rất quan trọng vì đôi khi những 
điều các em nêu ra có thể là mơ hồ hoặc không bình thường.
 4. Hỏi học sinh xem các em muốn biết thêm điều gì về chủ đề. Cả giáo viên 
và học sinh ghi nhận câu hỏi vào cột W. Hoạt động này kết thúc khi học sinh đã 
nêu ra tất cả các ý tưởng. Nếu học sinh trả lời bằng một câu phát biểu bình thường, 
hãy biến nó thành câu hỏi trước khi ghi nhận vào cột W.
 Một số lưu ý tại cột W
 Hỏi những câu hỏi tiếp nối và gợi mở. Nếu chỉ hỏi các em : “Các em muốn 
biết thêm điều gì về chủ đề này?” Đôi khi học sinh trả lời đơn giản “không biết”, 
vì các em chưa có ý tưởng. Hãy thử sử dụng một số câu hỏi sau :
 “Em nghĩ mình sẽ biết thêm được điều gì sau khi em đọc chủ đề này?”
 Chọn một ý tưởng từ cột K và hỏi, “Em có muốn tìm hiểu thêm điều gì có 
liên quan đến ý tưởng này không?” Chuẩn bị sẵn một số câu hỏi của riêng bạn để bổ sung vào cột W. Có thể 
bạn mong muốn học sinh tập trung vào những ý tưởng nào đó, trong khi các câu 
hỏi của học sinh lại không mấy liên quan đến ý tưởng chủ đạo của bài đọc. Chú 
ý là không được thêm quá nhiều câu hỏi của bạn. Thành phần chính trong cột W 
vẫn là những câu hỏi của học sinh.
 5. Yêu cầu học sinh đọc và tự điền câu trả lời mà các em tìm được vào cột 
L. Trong quá trình đọc, học sinh cũng đồng thời tìm ra câu trả lời của các em và 
ghi nhận vào cột W.
 Học sinh có thể điền vào cột L trong khi đọc hoặc sau khi đã đọc xong.
 Một số lưu ý tại cột L
 Ngoài việc bổ sung câu trả lời, khuyến khích học sinh ghi vào cột L những 
điều các em cảm thấy thích. Để phân biệt, có thể đề nghị các em đánh dấu những 
ý tưởng của các em. Ví dụ các em có thể đánh dấu tích vào những ý tưởng trả lời 
cho câu hỏi ở cột W, với các ý tưởng các em thích, có thể đánh dấu sao.
 Đề nghị học sinh tìm kiếm từ các tài liệu khác để trả lời cho những câu hỏi 
ở cột W mà bài đọc không cung cấp câu trả lời. (Không phải tất cả các câu hỏi ở 
cột W đều được bài đọc trả lời hoàn chỉnh)
 6. Thảo luận những thông tin được học sinh ghi nhận ở cột L
 7. Khuyến khích học sinh nghiên cứu thêm về những câu hỏi mà các em đã 
nêu ở cột W nhưng chưa tìm được câu trả lời từ bài đọc.
 Một ví dụ về biểu đồ KWL
 Chủ đề bài đọc : Trọng lực
 Bieu-do-KWL-trong-luc.png
 Câu hỏi của học sinh về Newton ở cột W không có câu trả lời trong bài 
đọc, học sinh sẽ được khuyến khích tìm kiếm câu trả lời từ các tài nguyên khác.
 Biểu đồ KWLH
 Xuất phát từ biểu đồ KWL, Ogle bổ sung thêm cột H ở sau cùng, với nội 
dung khuyến khích học sinh định hướng nghiên cứu. Sau khi học sinh đã hoàn tất 
nội dung ở cột L, các em có thể muốn tìm hiểu thêm về một thông tin. Các em sẽ 
nêu biện pháp để tìm thông tin mở rộng. Những biện pháp này sẽ được ghi nhận 
ở cột H.
 Một ví dụ về biểu đồ K-W-L-H
 Chủ đề : Khủng long
 Bieu-do-KWLH-khung-long.png
 Lưu ý
 Chuẩn bị những câu hỏi để giúp học sinh động não. Đôi khi để khởi động, 
học sinh cần nhiều hơn là chỉ đơn giản nói với các em : “Hãy nói những gì các 
em đã biết về ”
 Khuyến khích học sinh giải thích. Điều này rất quan trọng vì đôi khi 
những điều các em nêu ra có thể là mơ hồ hoặc không bình thường.
 Hỏi những câu hỏi tiếp nối và gợi mở. Nếu chỉ hỏi các em : “Các em 
muốn biết thêm điều gì về chủ đề này?” - đôi khi học sinh trả lời đơn giản “không 
biết”, vì các em chưa có ý tưởng.
 Chuẩn bị sẵn một số câu hỏi của riêng bạn để bổ sung vào cột W. Có thể 
bạn mong muốn học sinh tập trung vào những ý tưởng nào đó, trong khi các câu hỏi của học sinh lại không mấy liên quan đến ý tưởng chủ đạo của bài đọc. Chú 
ý là không được thêm quá nhiều câu hỏi của bạn. Thành phần chính trong cột W 
vẫn là những câu hỏi của học sinh.
 Ngoài việc bổ sung câu trả lời, khuyến khích học sinh ghi vào cột L 
những điều các em cảm thấy thích. Để phân biệt, có thể đề nghị các em đánh dấu 
những ý tưởng của các em.
 Khuyến khích học sinh nghiên cứu thêm về những câu hỏi mà các em đã 
nêu ở cột W nhưng chưa tìm được câu trả lời từ bài đọc.
 Ưu điểm
 Tạo hứng thú học tập cho học sinh, khi những điều các em cần học có 
liên quan trực tiếp đến nhu cầu về kiến thức của các em.
 Giúp học sinh dần dần hình thành khả năng tự định hướng học tập, nắm 
được cách học không chỉ cho môn đọc hiểu mà cho các môn học khác.
 Giúp giáo viên và học sinh tự đánh giá kết quả học tập, định hướng cho 
các hoạt động học tập kế tiếp.
 Hạn chế
 Sơ đồ cần phải được lưu trữ cẩn thận sau khi hoàn thành hai bước K và W, 
vì bước L có thể sẽ phải mất một thời gian dài mới có thể tiếp tục thực hiện.
 13. Kỹ thuật chia sẻ nhóm đôi
 Chia sẻ nhóm đôi (Think, Pair, Share) là một kỹ thuật do giáo sư Frank 
Lyman đại học Maryland giới thiệu năm 1981. Kỹ thuật này giới thiệu hoạt động 
làm việc nhóm đôi, phát triển năng lực tư duy của từng cá nhân trong giải quyết 
vấn đề.
 Ky-thuat-chia-se-nhom-doi
 Dụng cụ:
 Hoạt động này phát triển kỹ năng nghe và nói nên không cần thiết sử dụng 
các dụng cụ hỗ trợ.
 Thực hiện:
 Giáo viên giới thiệu vấn đề, đặt câu hỏi mở, dành thời gian để học sinh suy 
nghĩ.
 Sau đó học sinh thành lập nhóm đôi và chia sẻ ý tưởng, thảo luận, phân 
loại.
 Nhóm đôi này lại chia sẻ tiếp với nhóm đôi khác hoặc với cả lớp.
 Lưu ý:
 Điều quan trọng là người học chia sẻ được cả ý tưởng mà mình đã nhận 
được, thay vì chỉ chia sẻ ý kiến cá nhân.
 Giáo viên cần làm mẫu hoặc giải thích.
 Ưu điểm:
 Thời gian suy nghĩ cho phép học sinh phát triển câu trả lời, có thời gian 
suy nghĩ tốt, học sinh sẽ phát triển được những câu trả lời tốt, biết lắng nghe, tóm 
tắt ý của bạn cùng nhóm.
 Hạn chế:
 Học sinh dễ dàng trao đổi những nội dung không liên quan đến bài học do 
giáo viên không thể bao quát hết hoạt động của cả lớp.
 Kỹ thuật chia nhóm Khi tổ chức cho HS hoạt động theo nhóm, GV nên sử dụng nhiều cách chia 
nhóm khác nhau để gây hứng thú cho HS, đồng thời tạo cơ hội cho các em được 
học hỏi, giao lưu với nhiều bạn khác nhau trong lớp. Dưới đây là một số cách 
chia nhóm:
 Chia nhóm theo số điểm danh, theo các màu sắc, theo các loài hoa, các mùa 
trong năm,...:
 - GV yêu cầu HS điểm danh từ 1 đến 4/5/6...(tùy theo số nhóm GV muốn 
có là 4,5 hay 6 nhóm,...); hoặc điểm danh theo các màu (xanh, đỏ, tím, vàng,...); 
hoặc điểm danh theo các loài hoa (hồng, lan, huệ, cúc,...); hay điểm danh theo các 
mùa (xuân, hạ, thu, đông,...)
 - Yêu cầu các HS có cùng một số điểm danh hoặc cùng một mầu/cùng một 
loài hoa/cùng một mùa sẽ vào cùng một nhóm.
 Chia nhóm theo hình ghép
 - GV cắt một số bức hình ra thành 3/4/5... mảnh khác nhau, tùy theo số HS 
muốn có là 3/4/5... HS trong mỗi nhóm. Lưu ý là số bức hình cần tương ứng với 
số nhóm mà GV muốn có.
 - HS bốc ngẫu nhiên mỗi em một mảnh cắt.
 - HS phải tìm các bạn có các mảnh cắt phù hợp để ghép lại thành một tấm 
hình hoàn chỉnh.
 - Những HS có mảnh cắt của cùng một bức hình sẽ tạo thành một nhóm.
 Chia nhóm theo sở thích
 GV có thể chia HS thành các nhóm có cùng sở thích để các em có thể cùng 
thực hiện một công việc yêu thích hoặc biểu đạt kết quả công việc của nhóm dưới 
các hình thức phù hợp với sở trường của các em. Ví dụ: Nhóm Họa sĩ, Nhóm Nhà 
thơ, Nhóm Hùng biện,...
 Chia nhóm theo tháng sinh: Các HS có cùng tháng sinh sẽ làm thành một 
nhóm
 Ngoài ra còn có nhiều cách chia nhóm khác như: nhóm cùng trình độ, nhóm 
hỗn hợp, nhóm theo giới tính,....
 Kỹ thuật giao nhiệm vụ
 Giao nhiệm vụ phải cụ thể, rõ ràng:
 - Nhiệm vụ giao cho cá nhân/nhóm nào?
 - Nhiệm vụ là gì?
 - Địa điểm thực hiện nhiệm vụ ở đâu?
 - Thời gian thực hiện nhiệm vụ là bao nhiêu?
 - Phương tiện thực hiện nhiệm vụ là gì?
 - Sản phẩm cuối cùng cần có là gì?
 - Cách thức trình bày/ đánh giá sản phẩm như thế nào?
 Nhiệm vụ phải phù hợp với: mục tiêu hoạt động, trình độ HS, thời gian, 
không gian hoạt động và cơ sở vật chất, trang thiết bị
 14. Kỹ thuật đặt câu hỏi
 Trong dạy học theo PP cùng tham gia, GV thường phải sử dụng câu hỏi để 
gợi mở, dẫn dắt HS tìm hiểu, khám phá thông tin, kiến thức, kĩ năng mới, để đánh 
giá kết quả học tập của HS; HS cũng phải sử dụng câu hỏi để hỏi lại, hỏi thêm 
GV và các HS khác về những ND bài học chưa sáng tỏ. Sử dụng câu hỏi có hiệu quả đem lại sự hiểu biết lẫn nhau giữa HS * GV 
và HS * HS. Kĩ năng đặt câu hỏi càng tốt thì mức độ tham gia của HS càng nhiều; 
HS sẽ học tập tích cực hơn.
 Mục đích sử dụng câu hỏi trong dạy học là để:
 Kích thích, dẫn dắt HS suy nghĩ, khám phá tri thức mới, tạo đ/k cho HS 
tham gia vào quá trình dạy học
 Kiểm tra, đánh giá KT, KN của HS và sự quan tâm, hứng thú của các 
em đối với ND học tập
 Thu thập, mở rộng thông tin, kiến thức
 Khi đặt câu hỏi cần đảm bảo các yêu cầu sau:
 Câu hỏi phải liên quan đến việc thực hiện mục tiêu bài học
 Ngắn gọn, rõ ràng, dễ hiểu
 Đúng lúc, đúng chỗ
 Phù hợp với trình độ HS
 Kích thích suy nghĩ của HS
 Phù hợp với thời gian thực tế
 Sắp xếp thep trình tự từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp.
 Không ghép nhiều câu hỏi thành một câu hỏi móc xính
 Không hỏi nhiều vấn đề cùng một lúc
 15. Kỹ thuật phòng tranh
 Kĩ thuật này có thể sử dụng cho hoạt động cá nhân hoặc hoạt động nhóm.
 GV nêu câu hỏi/ vấn đề cho cả lớp hoặc cho các nhóm.
 Mỗi thành viên (hoạt động cá nhân) hoặc các nhóm (hoạt động nhóm) 
phác hoạ những ý tưởng về cách giải quyết vấn đề trên một tờ bìa và dán lên 
tường xung quanh lớp học như một triển lãm tranh.
 HS cả lớp đi xem "triển lãm" và có thể có ý kiến bình luận hoặc bổ sung.
 Cuối cùng, tất cả các ph¬ương án giải quyết được tập hợp lại và tìm 
ph¬ương án tối ưu.
 16. Kỹ thuật công đoạn
 - HS được chia thành các nhóm, mỗi nhóm được giao giải quyết một nhiệm 
vụ khác nhau. Ví dụ: nhóm 1- thảo luận câu A, nhóm 2- thảo luận câu B, nhóm 
3- thảo luận câu C, nhóm 4- thảo luận câu D,...
 - Sau khi các nhóm thảo luận và ghi kết quả thảo luận vào giấy A0 xong, 
các nhóm sẽ luân chuyển giáy AO ghi kết quả thảo luận cho nhau. Cụ thể là: 
Nhóm 1 chuyển cho nhóm 2, Nhóm 2 chuyển cho nhóm 3, Nhóm 3 chuyển cho 
nhóm 4, Nhóm 4 chuyển cho nhóm 1
 - Các nhóm đọc và góp ý kiến bổ sung cho nhóm bạn. Sau đó lại tiếp tục 
luân chuyển kết quả cho nhóm tiếp theo và nhận tiếp kết quả từ một nhóm khác 
để góp ý. - Cứ như vậy cho đến khi các nhóm đã nhận lại được tờ giấy A0 của nhóm 
mình cùng với các ý kiến góp ý của các nhóm khác. Từng nhóm sẽ xem và xử lí 
các ý kiến của các bạn để hoàn thiện lại kết quả thảo luận của nhóm . Sau khi 
hoàn thiện xong, nhóm sẽ treo kết quả thảo luận lên tường lớp học.
 17. Kỹ thuật “Trình bày một phút”
 Đây là kĩ thuật tạo cơ hội cho HS tổng kết lại kiến thức đã học và đặt những 
câu hỏi về những điều còn băn khoăn, thắc mắc bằng các bài trình bày ngắn gọn 
và cô đọng với các bạn cùng lớp. Các câu hỏi cũng như các câu trả lời HS đưa ra 
sẽ giúp củng cố quá trình học tập của các em và cho GV thấy được các em đã 
hiểu vấn đề như thế nào.
 Kĩ thuật này có thể tiến hành như sau:
 Cuối tiết học (thậm chí giữa tiết học), GV yêu cầu HS suy nghĩ, trả lời các 
câu hỏi sau: Điều quan trọng nhất các em học đuợc hôm nay là gì? Theo các em, 
vấn đề gì là quan trọng nhất mà chưa được giải đáp?...
 HS suy nghĩ và viết ra giấy. Các câu hỏi của HS có thể dưới nhiều hình 
thức khác nhau.
 Mỗi HS trình bày trước lớp trong thời gian 1 phút về những điều các em 
đã học được và những câu hỏi các em muốn được giải đáp hay những vấn đề các 
em muốn được tiếp tục tìm hiểu thêm.
 18. Kỹ thuật “Chúng em biết 3”
 GV nêu chủ đề cần thảo luận.
 Chia HS thành các nhóm 3 người và yêu cầu HS thảo luận trong vòng 
10 phút về những gì mà các em biết về chủ đề này.
 HS thảo luận nhóm và chọn ra 3 điểm quan trọng nhất để trình bày với 
cả lớp.
 Mỗi nhóm sẽ cử một đại diện lên trình bày về cả 3 điểm nói trên.
 19. Kỹ thuật “Hỏi Chuyên gia”
 HS xung phong (hoặc theo sự phân công của GV) tạo thành các nhóm 
"chuyên gia" về một chủ đề nhất định.
 Các "chuyên gia" nghiên cứu và thảo luận với nhau về những tư liệu có 
liên quan đến chủ đề mình được phân công.
 Nhóm "chuyên gia" lên ngồi phía trên lớp học
 Một em trưởng nhóm "chuyên gia" (hoặc GV) sẽ điều khiển buổi "tư 
vấn", mời các bạn HS trong lớp đặt câu hỏi rồi mời "chuyên gia" giải đáp, trả lời.
 20. Kỹ thuật “Hoàn tất một nhiệm vụ”
 GV đưa ra một câu chuyện/một vấn đề/một bức tranh/một thông điệp/... 
mới chỉ được giải quyết một phần và yêu cầu HS/nhóm HS hoàn tất nốt phần còn 
lại.
 HS/nhóm HS thực hiện nhiệm vụ được giao. HS/ nhóm HS trình bày sản phẩm.
 GV hướng dẫn cả lớp cùng bình luận, đánh giá
 Lưu ý: GV cần hướng dẫn HS cẩn thận và cụ thể để các em hiểu được 
nhiệm vụ của mình. Đây là một hoạt động tốt giúp các em đọc lại những tài liệu 
đã học hoặc đọc các tài liệu theo yêu cầu của giáo viên.
 21. Kỹ thuật “Viết tích cực”
 Trong quá trình thuyết trình, GV đặt câu hỏi và dành thời gian cho HS 
tự do viết câu trả lời. GV cũng có thể yêu cầu HS liệt kê ngắn gọn những gì các 
em biết về chủ đề đang học trong khoảng thời gian nhất định.
 GV yêu cầu một vài HS chia sẻ nội dung mà các em đã viết trước lớp.
 Kĩ thuật này cũng có thể sử dụng sau tiết học để tóm tắt nội dung đã học, 
để phản hồi cho GV về việc nắm kiến thức của HS và những chỗ các em còn hiểu 
sai.
 22. Kỹ thuật “Nói cách khác”
 GV chia HS thành các nhóm, yêu cầu các nhóm hãy liệt kê ra giấy khổ 
lớn 10 điều không hay mà thỉnh thoảng người ta vẫn nói về một ai đó/việc gì đó.
 Tiếp theo, yêu cầu các nhóm hãy tìm 10 cách hay hơn để diễn đạt cùng 
những ý nghĩa đó và tiếp tục ghi ra giấy khổ lớn.
 Các nhóm trình bày kết quả và cùng nhau thảo luận về ý nghĩa của việc 
thay đổi cách nói theo hướng tích cực.
 23.Kỹ thuật phân tích phim Video
 Phim video có thể là một trong các phương tiện để truyền đạt nội dung bài 
học. Phim nên tương đối ngắn gọn (5-20 phút). GV cần xem qua trước để đảm 
bảo là phim phù hợp để chiếu cho các em xem.
 Trước khi cho HS xem phim, hãy nêu một số câu hỏi thảo luận hoặc liệt kê 
các ý mà các em cần tập trung. Làm như vây sẽ giúp các em chú ý tốt hơn.
 HS xem phim
 Sau khi xem phim video, yêu cầu HS làm việc một mình hoặc theo cặp 
và trả lời các câu hỏi hoặc viết tóm tắt những ý cơ bản về nội dung phim đã xem.
 Kỹ thuật tóm tắt nội dung tài liệu theo nhóm
 Hoạt động này giúp HS hiểu và mở rộng hiểu biết của các em về những tài 
liệu đọc bằng cách thảo luận, nghe, đặt câu hỏi và trả lời câu hỏi. Cách thực hiện 
như sau:
 HS làm việc theo nhóm nhỏ, đọc to tài liệu được phát, thảo luận về ý nghĩa 
của nó, chuẩn bị trả lời các câu hỏi về bài đọc.
 Đại diện nhóm trình bày các ý chính cho cả lớp.
 Sau đó, các thành viên trong nhóm lần lượt trả lời các câu hỏi của các 
bạn khác trong lớp về bài đọc 

File đính kèm:

  • docxtai_lieu_50_y_tuong_khoi_dong_va_25_ki_thuat_day_hoc.docx
Bài giảng liên quan