Tài liệu Chuyên đề Tiếng Việt 1 (Học vần) - Năm học 2022-2023 - Nguyễn Thị Bích
Bạn đang xem nội dung tài liệu Tài liệu Chuyên đề Tiếng Việt 1 (Học vần) - Năm học 2022-2023 - Nguyễn Thị Bích, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút TẢI VỀ ở trên
TRƯỜNG TH TÂN SỎI CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TỔ CHUYÊN MÔN KHỐI 1 Độc lập – Tự do – Hạnh phúc Tân Sỏi, ngày 24 tháng 12 năm 2022 CHUYÊN ĐỀ TIẾNG VIỆT PHÂN MÔN: HỌC VẦN - KHỐI LỚP 1 NĂM HỌC: 2022- 2023 Thời gian thực hiện chuyên đề : ngày 24 tháng 12 năm 2022 Địa điểm tổ chức: Trường Tiểu học Tân Sỏi Chủ trì chuyên đề : Vũ Thanh Giang, Tổ trưởng Tổ 1 Dạy minh họa: Nguyễn Thị Bích, dạy lớp 1B. Mục tiêu của chuyên đề: - Thống nhất các bước lên lớp quy trình dạy, với dạng bài dạy âm, vần. - Cách vận dụng phương pháp và hình thức tổ chức dạy học trong dạy học vần để tất cả học sinh cùng làm việc. - Thống nhất các phương pháp rèn cho học sinh những kĩ năng: (nghe, nói, đọc, viết). - Thống nhất cách trình bày bảng, sử dụng đồ dùng trong dạy học. A. NHẬN ĐỊNH VỀ DẠY HỌC MÔN TIẾNG VIỆT TRONG THỜI GIAN QUA: PHÂN MÔN HỌC VẦN: 1. ĐỐI VỚI GIÁO VIÊN a) Ưu điểm: Được sự quan tâm chỉ đạo của các cấp quản lý, + Phối hợp tổ mạng lưới chuyên môn, thường xuyên tổ chức các hội nghị chuyên đề, các tiết hội giảng, dự giờ, thăm lớp hỗ trợ việc nâng cao chất lượng dạy – học. + Kịp thời ban hành các văn bản hướng dẫn chuyên môn có liên quan, giúp cơ sở chủ động trong quá trình chỉ đạo. + Thường xuyên tổ chức các phong trào dạy và học (Hội thi giáo viên dạy giỏi, viết chữ đẹp, đồ dùng dạy học, ứng dụng CNTT trong dạy học, ) trong năm giúp đội ngũ giáo viên có dịp chia sẻ, học hỏi kinh nghiệm lẫn nhau trong giảng dạy. + Đảm bảo công tác thông tin hai chiều trong chỉ đạo chuyên môn, - Đa số giáo viên dạy lớp 1 nhiệt tình trong công tác, có tinh thần tự học, tự rèn nâng cao nghiệp vụ chuyên môn, có nhiều năm giảng dạy lớp 1. - Ban giám hiệu trường đặc biệt quan tâm đến chất lượng khối 1, hỗ trợ cho khối nhiều lĩnh vực đáp ứng nhu cầu giảng dạy. - Cơ sở vật chất từng phòng lớp, bàn ghế, phương tiện phục vụ dạy học trang bị cho khối 1 từng bước được cải thiện. - Phụ huynh học sinh đa số đều rất quan tâm đến việc học tập của con em mình. b) Tồn tại, hạn chế: - Trong giảng dạy phân môn, không ít giáo viên còn: 1 + Chưa chú ý nhiều đến việc đổi mới phương pháp dạy học, còn nặng theo hướng truyền đạt, giảng giải theo tài liệu có sẵn trong SGK, SGV, chưa có tính sáng tạo trong việc đầu tư cho kế hoạch bài học. + Một số giáo viên khi nhận lớp có mức độ chênh lêch về trình độ học sinh (do học sinh đã học trước chương trình), đã mạnh dạn chọn con đường dạy lướt rồi yên tâm mà mình đã dạy tốt vì đa số học sinh đọc được, bỏ quên một số đối tượng yếu kém, chưa biết mặt chữ. + Còn lúng túng trong việc vận dụng, phối hợp các phương pháp, biện pháp, hình thức tổ chức dạy học dẫn đến tình trạng tiết dạy nặng nề, chưa thật sự phát huy tính tích cực, chủ động học tập của học sinh. - Trong mỗi tiết dạy, giáo viên còn nói khá nhiều, đa số chưa phát huy khả năng tự học, tự phát hiện của học sinh, chưa bao quát hết mọi đối tượng, chưa phát huy hết tính ưu việt của hoạt động nhóm, đặc biệt là vai trò của nhóm trưởng. 2. ĐỐI VỚI HỌC SINH a. Ưu điểm: -Tất cả trẻ em đúng 6 tuổi đều được vào học lớp 1, được gia đình quan tâm, thậm chí có nhiều gia đình “cùng học” với trẻ. - Ở những vùng có điều kiện, đa số trẻ đều qua lớp mẫu giáo, được chuẩn bị các kỹ năng thích ứng với hoạt động học tập giúp các em có tư thế sẵn sàng học tập khi vào học lớp 1. b. Tồn tại, hạn chế: - Cùng vào lớp 1 nhưng mức độ chuẩn bị tâm lý của mỗi trẻ đều khác nhau, một số trẻ đã qua môi trường mẫu giáo, làm quen với môi trường học tập, số khác đăc biệt với những vùng khó khăn, vùng nông thôn sâu chưa được chuẩn bị gì, hoàn toàn xa lạ với trường lớp, với hoạt động học tập. - Một số học sinh do học trước chương trình nên cảm thấy chán nản, không hứng thú khi đến lớp. Nhưng đến lúc bạn bè bắt nhịp với mình thì các em không theo kịp vì chủ quan, ỷ lại. - Vào lớp 1, trẻ chưa nhận được sự trợ giúp cũng như quan tâm, kèm cặp từ phía gia đình, người thân. B. BÁO CÁO PHÂN MÔN HỌC VẦN: I. MỤC TIÊU: Phân môn học vần giúp học sinh: 1. Đọc, viết được các vần, từ và câu ứng dụng ở mỗi bài vừa học .Từ đó giúp cho học sinh biết nhận diện mặt chữ, đọc trơn khá nhanh, viết chữ khá đúng mẫu. 2. Luyện nói từ 4-5 câu theo chủ đề trong mỗi đơn vị bài học. Giúp học sinh rèn kĩ năng tự nói, tự tin hơn khi giao tiếp. II. NỘI DUNG DẠY HỌC: - Phần học vần có 103 bài (83 bài thuộc tập 1 và 20 bài thuộc tập 2), trong đó có 28 bài học âm, 75 bài học vần, mỗi bài được trình bày trên 2 trang sách, dạy trong 2 tiết, thời lượng mỗi tiết là 35 phút có nghỉ giải lao giữa tiết từ 3 đến 5 phút. Mỗi tuần có 5 bài được dạy trong 10 tiết và 2 tiết tập viết, nội dung bài tập viết không trình bày trong sách GV mà đưa vào vở tập viết. Trong phần học vần: 2 + Làm quen với âm và chữ: 24 bài. + Dạy học âm, vần mới : 64 bài + Ôn tập âm , vần: 15 bài III. CÁC PHƯƠNG PHÁP ĐƯỢC SỬ DỤNG CHỦ YẾU: 1. Phương pháp sử dụng đồ dùng dạy học trực quan. 2. Phương pháp đàm thoại. 3. Phương pháp trò chơi. 4. Phương pháp thảo luận nhóm.. II. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 1. Lĩnh hội, áp dụng các ưu điểm của chương trình Tiếng Việt Công nghệ giáo dục. Trong phần hình thành kiến thức, khi phân tích cấu tạo vần, tiếng chứa vần, học sinh sẽ nắm chắc kiến thức về ngữ âm và nhớ vần lâu hơn. Nếu chỉ theo các phương pháp đơn thuần, học sinh chỉ được so sánh điểm giống và khác nhau rồi đánh vần, đọc tiếng, tôi thấy hiệu quả nhớ vần chưa cao. Vì vậy, tôi đã áp dụng kiến thức của chương trình Công nghệ giáo dục, giúp học sinh phân tích cấu tạo vần theo cấu trúc (âm chính, âm cuối), khả năng kết hợp dấu thanh của các vần. Khi đó học sinh nhớ cấu trúc và đánh vần tốt hơn rất nhiều, khả năng ghép âm, vần tạo tiếng cũng được nâng cao do các em không gặp khó khăn khi kết hợp với các thanh. Học sinh sẽ nhớ được dấu hiệu kết hợp như với các vần có âm cuối t, c, p, ch sẽ chỉ kết hợp được với hai thanh(sắc, nặng), các vần còn lại sẽ kết hợp được với 6 thanh. 2. Ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học Nếu chỉ dạy chay với bảng đen, phấn trắng, không đổi mới, không sử dụng các phương tiện hỗ trợ dạy học thì học sinh sẽ chỉ thụ động, không tích cực, hứng thú với bài học của mình. Vì vậy, tôi đã thiết kế và sử dụng các bài giảng điện tử, qua đó học sinh rất hứng thú, tích cực lĩnh hội kiến thức và nhớ được các vần cũng như bài học một cách chủ động và hiệu quả hơn rất nhiều. Học sinh được nghe bản ghi âm cách đọc chuẩn, được xem video hoặc hình ảnh sinh động trên màn chiếu. Điều đó đã kích thích tư duy các em khiến các em hợp tác hơn nhiều so với lối dạy viết vần lên bảng và chỉ cho học sinh đọc theo. Trong hoạt động Viết, việc ứng dụng công nghệ thông tin để học sinh vừa được quan sát trực quan, vừa được nghe hướng dẫn mẫu trên màn hình sẽ khắc phục được hạn chế khi giáo viên hướng dẫn trực tiếp là có thể sẽ bị khuất tầm nhìn của một số học sinh ở vị trí không thuận lợi khi giáo viên đứng viết mẫu. Bên cạnh đó, giáo viên sẽ có thời gian quan sát học sinh nhiều hơn so với khi giáo viên mải viết và hướng dẫn mẫu trực tiếp trên bảng lớp. Thực tế cho thấy, khi học sinh được xem các video hướng dẫn viết mẫu, các em có hứng thú hơn rất nhiều. Giáo viên đã tạo được sự thu hút, tập trung với học sinh bởi sự sinh động trong các video, học sinh có thể xem đi xem lại nhiều lần nếu chưa nhớ cách viết. 3. Áp dụng các trò chơi học tập Để khơi gợi, tăng cường sự hứng thú và giúp học sinh nhớ vần một cách tốt hơn, tôi đã sử dụng một số trò chơi để các em có thể khắc sâu bài học sau mỗi phần vận dụng trải nghiệm hoặc mở đầu tiết học mới. Ví dụ trò chơi Rung chuông vàng, Tôi là 3 ai, Xì điện, Đố bạn,... Khi áp dụng tôi thấy học sinh hào hứng, hăng hái và nhớ vần tốt hơn hẳn so với khi chỉ cho học sinh nêu các vần hay tiếng chứa vần đơn thuần bởi học sinh có cơ hội được thể hiện mình nhiều hơn, vừa được chơi, vừa được đọc, viết, nói, nghe mà không hề cảm thấy quá tải hay mệt mỏi. III. BÀI HỌC KINH NGHIỆM 1. Tự đánh giá Qua giảng dạy với tiêu chí luôn đặt sự chủ động học tập của học sinh để giúp các em xây dựng và phát triển năng lực học tập, sau một học kì vận dụng với nhiều bài học phần vần, tôi nhận thấy lớp 1A đã có nhiều tiến bộ rõ rệt.Cụ thể: - Học sinh tỏ ra hứng thú, tích cực chủ động hơn trong giờ học. - Nhiều học sinh có biểu hiện ham học, chịu khó học bài hơn. - Hệ thống tri thức và kĩ năng hình thành ở học sinh mang tính hệ thống, vững chắc hơn. Các em có thể dễ dàng nhớ được các vần để vận dụng đọc tiếng, từ, câu, đoạn tốt hơn, đảm bảo tốc độ hơn. - Nhiều học sinh viết bài đúng, đẹp hơn. Từ kết quả trên, tôi nhận thấy các biện pháp mà mình đã áp dụng thực sự mang hiệu quả cao. Tôi tin rằng biện pháp đổi mới của tôi có thể áp dụng được cả với các dạng bài khác, ở các lớp 1 khác trong trường và các đơn vị trường bạn. Chắc chắn các em học sinh sẽ tích cực tham gia các hoạt động học tập và chất lượng học sinh sẽ được tăng lên rõ rệt. 2. Kết luận Giáo viên đóng vai trò rất quan trọng trong việc hỗ trợ những vướng mắc, khó khăn của học sinh để giúp các em hoàn thành nhiệm vụ. Từ đó, dần dần các em sẽ được hình thành thói quen và lĩnh hội kiến thức một cách chủ động. Điều đó đòi hỏi giáo viên phải không ngừng học hỏi, nâng cao trình độ, hiểu học sinh để giúp các em phát huy được năng lực của mình một cách tốt nhất. Với sự hỗ trợ của thiết bị dạy học hiện đại như máy chiếu, giáo viên lên kho dữ liệu dạy học tải các học liệu về. Việc này đã khiến cho giáo viên không còn phải viết bảng nhiều và có thời gian kiểm tra, hướng dẫn học sinh nhiều hơn. Việc lĩnh hội, chắt lọc những ưu điểm của những chương trình khác để áp dụng vào giảng dạy khiến cho các em học sinh thích thú và tạo thành thói quen tốt giúp các em càng thêm nắm chắc kiến thức cho mình. Học sinh tiến tới đọc, viết, nói, nghe một cách thành thạo. 3. Đề xuất, kiến nghị - Đối với nhà trường + Luôn quan tâm đến việc đổi mới phương pháp dạy học của giáo viên. + Tạo điều kiện về thời gian, tổ chức các lớp chuyên đề về đổi mới phương pháp để giáo viên đúc rút kinh nghiệm nâng cao chất lượng dạy, học đạt hiệu quả. - Đối với phụ huynh + Mua sắm đầy đủ đồ dùng học tập. + Thường xuyên kết hợp với giáo viên để động viên nhắc nhở và tìm ra biện pháp học tập tốt cho học sinh,đem lại hiệu quả cao trong học tập. - Đối với giáo viên + Thường xuyên tự học hỏi, tự bồi dưỡng trau dồi kiến thức, nâng cao năng lực chuyên môn, nghiệp vụ; có kỹ năng sư phạm, tận tụy với học sinh. 4 + Luôn chủ động, sáng tạo trong dạy học để góp phần nâng cao hiệu quả dạy học. - Đối với học sinh: + Học sinh cần có ý thức tự giác cao trong học tập và rèn luyện. + Phải có tính kiên trì, có ý thức tự học ở nhà cũng như ở lớp,ham học hỏi, cần cù chịu khó trong học tập. Trong bản báo cáo không tránh khỏi những thiếu sót, tôi mong nhận được ý kiến đóng góp của đồng chí, đồng nghiệp để các biện pháp của tôi thực hiện có hiệu quả hơn, góp phần nâng cao chất lượng dạy học môn Tiếng Việt nói chung và dạy học phần vần nói riêng. Xin chân thành cảm ơn! Tiến Thắng, ngày 24 tháng 12 năm 2022 XÁC NHẬN CỦA Người viết báo cáo BAN GIÁM HIỆU NHÀ TRƯỜNG Hoàng Thị Yến 5
File đính kèm:
tai_lieu_chuyen_de_tieng_viet_1_hoc_van_nam_hoc_2022_2023_ng.doc



