Tài liệu hướng dẫn dạy học trực tuyến. dạy học qua truyền hình môn Mĩ thuật
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Tài liệu hướng dẫn dạy học trực tuyến. dạy học qua truyền hình môn Mĩ thuật, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút TẢI VỀ ở trên
TÀI LIỆU HƯỚNG DẪN DẠY HỌC TRỰC TUYẾN, DẠY HỌC QUA TRUYỀN HÌNH MÔN MĨ THUẬT (Tài liệu đọc) ------------------ HƯỚNG DẪN DẠY HỌC TRỰC TUYẾN 1. Một số vấn đề chung về dạy học trực tuyến: Dạy học trực tuyến (hay còn gọi là dạy học online) là phương thức dạy và học thông qua các thiết bị điện tử có kết nối mạng. (máy tính, điện thoại thông minh ). Dạy học trực tuyến làm cho người dạy và người học không bị hạn chế bởi khoảng cách địa lý. Các môn học/ hoạt động giáo dục trong nhà trường hiện nay đều có thể tổ chức dạy học trực tuyến. Dạy học trực tuyến tạo cơ hội cho giáo viên và học sinh rèn kỹ năng sử dụng các công cụ, các phương tiện thông tin và truyền thông – nền tảng để số hóa các các hoạt động giáo dục cũng như áp dụng vào công việc và cuộc sống sau này. Giáo viên có thể xem lại bài giảng để rút kinh nghiệm, học sinh có thể xem lại bài học nếu không kịp nghe, kịp theo trong giờ học. Dạy học trực tuyến là một phương thức dạy học được nhiều nơi sử dụng với các cấp độ khác nhau, tạo thuận lợi, thích ứng bối cảnh thời đại, với nhu cầu năng động của người học trong bối cảnh hiện nay. Một số hạn chế, khó khăn khi tổ chức dạy học trực tuyến: Giáo viên cần phải có kỹ năng ứng dụng công nghệ thông tin thành thạo, việc này khá khó khăn đối với các giáo viên lớn tuổi. Giáo viên khó áp dụng thuần túy các bước lên lớp, các quy trình dạy học quen thuộc như trên lớp học trực tiếp. Học sinh không được quản lý chặt chẽ nên dễ lơ là, sao nhãng và bị thoát ly khỏi bài giảng. Học sinh khó thực hiện các bài tập trải nghiệm, thực hành. Việc triển khai hoạt động nhóm,trưng bày sản phẩm cũng gặp khó khăn. Có thể khó khăn và không hiệu quả với 1 số học sinh không có phong cách học tập qua nghe, nhìn và nghiên cứu. Ngược lại, dạy học trực tuyến sẽ rất hiệu quả đối với những học sinh có phong cách học tập này. 2. Một số lưu ý để dạy học trực tuyến hiệu quả đối với môn mĩ thuật ở cấp 1 tiểu học 2.1 Tổ chức dạy học trực tuyến với môn mĩ thuật. 2.1.1 Lựa chọn nội dung: Dạy học trực tuyến rất khó tập trung học sinh chú ý trong thời gian dài. Đồng thời mọi hoạt động diễn ra đều phải nối tiếp, có logic, dẫn dắt tạo sự bất ngờ để thu hút sự theo dõi, tham gia liên tục trong suốt quá trình tham gia học tập. Một tiết dạy học trực tuyến sẽ khó có hiệu quả đối với các bài học/ chủ đề học tập đơn lẻ rời rạc. Vì vậy, giáo viên nên chọn những chủ đề học tập có nội dung gần gũi với học sinh, không quá trừu tượng, không mất nhiều thời gian hướng dẫn giải thích. Ví dụ: Về những nhân vật trong các phim hoạt hình quen thuộc Những màu sắc dễ nhận biết, dễ gọi tên Những con vật quen thuộc trong cuộc sống Chọn chủ đề có sự liên quan đến nhiều vấn đề của cuộc sống, có thể biểu đạt được nhiều ngôn ngữ tạo hình và có nhiều khía cạnh khai thác trong một thời gian dài: 3 tuần, 4 tuần Học sinh được trải nghiệm trong và sau giờ học. Học sinh có sự chuẩn bị và nuôi dưỡng cảm xúc trước, trong và sau giờ học. Việc kéo dài các yêu cầu tạo hình cho một chủ đề cụ thể sẽ là tiền đề cho giải pháp “Lớp học đảo ngược” thường được áp dụng dạy học trực tuyến nói chung và phù hợp với dạy học trực tuyến đối với môn mĩ thuật nói riêng. Ví dụ: Chọn chủ đề “Những bông hoa đẹp” để thể hiện các yêu cầu về tạo hình xuyên suốt trong 5 tuần học. Tuần 1: Làm quen, nhận diện những bông hoa đơn lẻ; Tuần 2: Thực hành vẽ, cắt dán tạo hình những bông hoa cụ thể Tuần 3: Thực hành vẽ. cắt dán tạo hình những bông hoa cụ thể (tiếp) Tuần 4: Hoàn thiện bức tranh vẽ về “Những bông hoa đẹp” Tuần 5: Tặng bức tranh “Những bông hoa đẹp” cho người thân 2.1.2 Lựa chọn phương pháp dạy học: Một số phương pháp dạy học áp dụng hiệu quả khi dạy học môn mĩ thuật trực tuyến. - Dự án: Thiết kế 1 dự án học tập là giải pháp các môn học thường sử dụng cho dạy học trực tuyến. Khi thực hiện một dự án học tập trực tuyến, học sinh được giao các nhiệm vụ cá nhân hoặc nhóm. Nếu nhiệm vụ cá nhân, học sinh sẽ chủ động giải quyết các vấn đề được giao trong quá trình chuẩn bị, trong quá trình tham gia học 2 trực tuyến. Nếu nhiệm vụ nhóm thì trong 1 giờ trực tuyến, giáo viên có thể tạo thành những phòng họp nhỏ để học sinh có thể trao đổi, thảo luận, giải quyết các vấn đề chung của cả nhóm. Giáo viên sẽ lần lượt tham gia hỗ trợ, động viên và cùng làm việc với học sinh ở các phòng họp nhỏ, trước khi tổ chức hoạt động chung của lớp ở phòng họp lớn. Học qua trải nghiệm là một đặc tính của môn mĩ thuật. Vì thế, áp dụng học theo dự án sẽ phù hợp khi tổ chức dạy học trực tuyến. Mặt khác, sử dụng phương pháp dạy học theo dự án, các hoạt động trong một giờ học sẽ linh hoạt, phong phú, thay đổi trạng thái và cuốn hút người học – khắc phục được hạn chế của việc dạy học trực tuyến. Ví dụ: Tổ chức dạy học theo dự án chủ đề: “Vẽ về mẹ” bằng hình thức trực tuyến. Giáo viên giao nhiệm vụ cho từng học sinh trong khâu chuẩn bị bài học: Quan sát, suy nghĩ về mẹ: Hình dáng, việc làm, đặc điểm của mẹ em trong gia đình. Bước 1. Tổ chức cho học sinh kể câu chuyện về người mẹ thân yêu cho cả lớp nghe. Có thể mời 1 số phụ huynh cùng tham gia học cùng các con để bài học thêm sinh động. Bước 2. Yêu cầu học sinh ghi ra giấy những đặc điểm về hình dáng, việc làm của mẹ, viết những cảm xúc của em về người mẹ thân yêu. Bước 3. Tổ chức cho học sinh vẽ về người mẹ. Bước 4. Thành lập các nhóm nhỏ, thực hiện ở các phòng họp zoom nhỏ để học sinh thảo luận, trao đổi và bình chọn 1 – 2 bức tranh để trình bày trước lớp. Bước 5. Tổ chức cho học sinh trình bày trước lớp và kết thúc dự án. - Tranh luận, phản đối Đây là một phương pháp dạy học nhằm tăng cường tính tương tác – khắc phục một trong những hạn chế của dạy học trực tuyến. Cách thức tổ chức: Giáo viên nêu vấn đề; học sinh tranh luận ủng hộ hoặc phản đối vấn đề giáo viên đã nêu. Sau đó, giáo viên tổng kết các mặt ưu điểm và hạn chế của vấn đề qua sự phát hiện của 2 nhóm: ủng hộ và phản đối. Giáo viên cần nêu vấn đề và giao nhiệm vụ để học sinh có thời gian chuẩn bị Học sinh trong lớp sẽ được chia thành 2 nhóm để giải quyết 2 nhiệm vụ độc lập: Ủng hộ và phản đối. Khi tổ chức dạy học trực tuyến sử dụng phương pháp này, đòi hỏi giáo viên phải quan sát nhanh, tương tác liên tục với học sinh. Hướng dẫn học sinh sử dụng các chức năng của phần mềm dạy học như: comment, các hiệu ứng phát tín hiệu được trao đổi để tham gia vào quá trình tranh luận, phản đối. Giáo viên có thể sử dụng chức năng share để lồng ghép các đoạn clip hoạt hình, các slide cần thiết để để gợi ý nội dung cần tranh luận. 3 Ví dụ: Tổ chức dạy học mĩ thuật theo chủ đề: “Em rèn luyện sức khỏe” Giáo viên hướng dẫn học sinh khai thác đề tài thông qua việc nêu vấn đề để học sinh tranh luận: “Nếu vẽ về đề tài Em rèn luyện sức khỏe, bắt buộc phải vẽ em bé đang tập thể dục”. Nhiệm vụ của học sinh: chia mỗi nhóm sẽ chọn 1 trong 2 nhiệm vụ: ủng hộ hoặc phản đối. Học sinh bàn bạc nhau để tìm lý lẽ giải thích cho câu trả lời “đồng ý” hoặc “không đồng ý” với mệnh đề cô giáo nêu trên. Bước 1. Nêu vấn đề cho học sinh biết và phân nhóm, giao nhiệm vụ cho các nhóm thuộc về nhóm: đồng ý (ủng hộ) hay không đồng ý (phản đối) Bước 2. Thiết lập những phòng zoom nhỏ để các nhóm thảo luận và viết tổng hợp các lý lẽ bảo vệ cho quan điểm của nhóm mình. Bước 3. Tổ chức cho học sinh thực hành: tranh luận: ủng hộ và phản đối theo hình thức: mỗi nhóm cử 1 người lần lượt thể hiện quan điểm của nhóm mình. Trong bước này, giáo viên cho học sinh phát biểu thông qua việc học sinh bấm nút giơ tay tương tác trên phần mềm dạy học. Bước 4. Giáo viên kết thúc cuộc tranh luận và đưa ra những kết luận, kết quả của phần tranh luận: ủng hộ và phản đối của các nhóm mà giáo viên thu nhận được. Những kết luận này hướng vào mục tiêu chính: khai thác chủ đề của bài vẽ “Em rèn luyện sức khỏe” Một số lưu ý khi thực hiện phương pháp tranh luận: ủng hộ và phản đối: + Học sinh không hiểu nhiệm vụ + Học sinh khó thể hiện lý lẽ thuộc nhiệm vụ của nhóm + Học sinh có thể bị hiểu nhầm nhiệm vụ: ủng hộ hoặc phản đối + Học sinh dễ sa đà vào những lý lẽ lan man, không tập trung + Học sinh không nghe ý kiến tranh luận của nhóm đối diện nên đưa ra những lý lẽ không tập trung + Giáo viên khó tổng hợp lại được những lý lẽ của 2 nhóm để định hướng vào mục tiêu bài học. . Để khắc phục những tình trạng này, giáo viên nên tổ chức thử nghiệm bằng những nhiệm vụ đơn giản, gần gũi với trẻ trước. Sau đó, rút kinh nghiệm và thực hiện trong một/ một số hoạt động của bài học. Nếu lớp học tương tác tốt, học sinh tập trung và nêu ra được đầy đủ các mặt của một vấn đề sau khi thực hiện nhiệm vụ: ủng hộ/ phản đối, giáo viên có thể sử dụng cho nhiều mục đích khác nhau trong bài học. - Đóng vai: 4 Đóng vai là một phương pháp quen thuộc thường được giáo viên sử dụng dạy học tương tác trên lớp. Mặc dù vậy, việc sử dụng phương pháp này trong dạy học trực tuyến vẫn có thể mang lại những kết quả tốt nhờ khả năng thu hút, hấp dẫn học sinh tương tác trước màn hình máy tính, với các bạn và thầy/ cô ở xa. Để sử dụng phương pháp đóng vai có hiệu quả trong dạy học trực tuyến đối với môn mĩ thuật, giáo viên có thể cùng tham gia đóng vai với học sinh với vai trò “host”. Từ đó, điều khiển, gợi mở, khai thác vốn sống, tư duy tạo hình của học sinh thông qua các nhân vật, sự vật mà học sinh đóng vai. Phương pháp đóng vai có thể sử dụng trong các hoạt động khai thác chủ đề, báo cáo kết quả sản phẩm của các bài tạo hình 2D, 3D và các bài lý thuyết khác. Ví dụ: Giáo viên có thể tổ chức cuộc thi “Sắc đẹp của các con vật” khi thực hiện hoạt động trưng bày sản phẩm tạo hình sau khi học sinh thực hành xong phần tạo hình các con vật thân yêu. Trước đó, học sinh đã tư duy về con vật, đã tạo hình được con vật theo ý thích, ý tưởng riêng của mình/ hoặc của nhóm về: tính cách, đặc điểm, màu sắc, thói quen, điểm tốt, điểm đáng yêu của con vật đó. Khi thực hiện hoạt động Trưng bày sản phẩm qua trực tuyến, giáo viên lần lượt cho các học sinh đóng vai con vật mà mình đã tạo hình để tham gia cuộc thi sắc đẹp. Khi đó, học sinh sẽ phải lột tả được tất cả những ý tưởng của mình trong quá trình tạo hình con vật đó. Khi sử dụng phương pháp “Đóng vai” trong bài học trực tuyến, giáo viên có thể động viên các thành viên trong gia đình tham gia học tập cùng con, thông qua mỗi điểm cầu để học sinh tự tin hơn, sáng tạo hơn khi thể hiện. - Trò chơi: Trò chơi là một phương pháp hiệu quả khi tổ chức dạy học trực tuyến. Trò chơi có thể thực hiện xen kẽ trong quá trình dạy học để học sinh bớt đi sự căng thẳng, mệt mỏi khi ngồi trước màn hình quá lâu. Học sinh sẽ được tái tạo lại năng lượng khi tham gia các trò chơi trong quá trình học tập. Phương pháp này có thể được coi là giải pháp “phá băng” hiệu quả. Trò chơi có thể được sử dựng trong hoạt động khởi động để tập trung học sinh bắt đầu cho 1 bài học mới. Trò chơi có thể được sử dụng trong phần giới thiệu bài học. Tò chơi có thể sử dụng trong phần củng cố kiến thức sau mỗi hoạt động Trò chơi có thể sử dụng trong các hoạt động kết thúc bài học để tổng kết nội dung bài học và kết thúc bài học trong sự vui vẻ, khỏe mạnh, sẵn sàng cho các bài học tiếp theo. Giáo viên có thể sử dụng các trò chơi online được thiết kế và cho phép tải miễn phí trên mạng internet, có thể tham khảo ở các phần mềm dạy học, tham khảo 5 trong các kho học liệu điện tử 1 Ví dụ: Giáo viên có thể sử dụng phần mềm trò chơi “Chiếc nón kỳ diệu” online hiện nay được cung cấp miến phí trên internet và rất dễ sử dụng. Sử dụng trò chơi này để lựa chọn ngẫu nhiên học sinh được phát biểu; lựa chọn ngẫu nhiên học sinh được share bài lên màn hình cho cả lớp xem; lựa chọn ngẫu nhiên học sinh được quà tặng của cô giáo sau buổi học - KWL: KWL là một phương pháp dạy học nhằm hệ thống kiến thức, kỹ năng trước, trong và sau quá trình học tập một bài học, một chủ đề học tập cụ thể. Giáo viên có thể sử dụng phương pháp này để học sinh tự xác định những năng lực của mình đạt được sau một quá trình học tập trực tuyến. Từ đó, giáo viên cùng học sinh, gia đình học sinh có hướng để hỗ trợ nâng cao năng lực và phẩm chất cho học sinh theo đúng mục tiêu môn học. Vào đầu mỗi buổi học, giáo viên có thể đưa những 1 bảng những thông tin (có thể là hệ thống chỉ số, chỉ báo liên quan đến kiến thức và năng lực) về những vấn đề liên quan đến bài học. Học sinh quan sát và ghi chép lại rồi nêu lên trước lớp: - Những vấn đề mà mình đã biết, đã có thể làm được - Những vấn đề mà mình muốn biết, muốn làm được Giáo viên sẽ giải thích để học sinh hiểu rằng: có nhiều vấn đề chưa biết, có nhiều việc các em chưa làm được. Những điều đó sẽ được cô giáo hướng dẫn trong bài học/ chủ đề học tập hôm nay (W). Muốn học được một nội dung cụ thể, muốn làm được một việc cụ thể bao giờ cũng phải dựa trên nền tảng đã có sẵn (K). Kết thúc giờ học, giáo viên cho học sinh soát lại các chỉ số ban đầu và đề nghị học sinh xác định những gì đã học được, những kỹ năng nào đã học được, đã thành thạo được thông qua bài học hôm nay (L) Know: Biểu thị những gì học sinh đã biết Want: Biểu thị những gì học sinh muốn biết Learnsd: Biểu thị những gì học sinh học được Ví dụ: Bảng chỉ báo các nội dung, kỹ năng liên quan đến yêu cầu cần đạt của bài học/ chủ đề học tập: Tạo hình một con vật bằng cách xé dán Chỉ báo liên quan đến yêu cầu cần đạt của bài học K W Hình dáng con vật Đặc điểm đặc biệt của con vật 1 Mọi tham khảo đều phải đảm bảo tính bản quyền khi sử dụng. 6 Màu sắc con vật Các bộ phận của con vật Cách xé một tờ giấy để tạo hình Cách dán các tờ giấy với nhau để tạo hình Cách bôi keo, hồ Cách sử dụng các loại băng keo Làm thế nào để mọi người cùng yêu thích con vật đó . Kết thúc bài học, giáo viên share lại các chỉ báo này và thêm cột (L) để học sinh xác định những điều mình đã học được qua bài học. Những phương pháp nêu trên không phải duy nhất và hiệu quả nhất trong quá trình dạy học trực tuyến với môn mĩ thuật. Giáo viên cần có sự sáng tạo trong quá trình tổ chức giảng dạy với các giải pháp về kỹ thuật, thủ thuật dạy học khác nhau đan xen. Cơ hội tập trung học sinh vào bài học trong mỗi tiết dạy trực tuyến là rất khó nên trong quá trình dạy học, giáo viên rất có thể phải thay đổi chiến thuật tùy vào các tình huống cụ thể. Phương pháp dạy học chỉ có thể phát huy tối đa tác dụng khi giáo viên sử dụng thành thạo các công cụ dạy học trực tuyến, các phần mềm, phương tiện dạy học trực tuyến. Chỉ có như vậy, giáo viên mới làm chủ được quá trình dạy học, tự tin xử lý các tình huống diễn ra trong môi trường tương tác ảo. Việc sử dụng thành thạo các hiệu ứng, các chức năng của các phần mềm dạy học là điều cần thiết và quyết định sự thành công của một tiết học. Tuy nhiên, đối với dạy trực tuyến ở cấp tiểu học, giáo viên không nên quá làm dụng các hiệu ứng, các chức năng ở các phần mềm này mà nên sử dụng đúng yêu cầu, phù hợp với mỗi hoạt động, mỗi nội dung bài học. Bởi lẽ: các hiệu ứng cho thể đòi hỏi chất lượng đường truyền, các yếu tố kỹ thuật liên quan và có thể xung đột nhau. Những vấn đề đó có thể làm gián đoạn quá trình dạy học, làm ảnh hưởng đến sự tập trung cũng như cảm xúc của học sinh trong quá trình học tập. 2.1.3 Sắp xếp tiến trình dạy học: Việc sắp xếp tiến trình bài dạy học trực tuyến cần tôn trọng các bước trong quy trình dạy học đã được quy định: Khởi động, khám phá, luyện tập thực hành và vận dụng. Tuy nhiên, với phương thức dạy học trực tuyến, giáo viên cũng không nên đặt ra kỳ vọng về tính hiệu quả tương đương hoặc giống như dạy học trực tiếp tập trung trên lớp học bởi môi trường và điều kiện học tập, không gian học tập là hoàn toàn 7 khác nhau. Yêu cầu cần đạt sẽ được đặt ra sau một giai đoạn học tập chứ không nhất thiết phải sau mỗi bài học/ mỗi chủ đề học tập. Xác định được điều này, giáo viên và học sinh sẽ giảm được áp lực qua mỗi tiết dạy, mỗi bài dạy. Chính vì vậy, tiến trình dạy học có thể linh hoạt theo các tình huống cụ thể, không nhất thiết theo thứ tự như trên. Thậm chí giáo viên có thể bổ sung thêm hoạt động bổ trợ phù hợp với hình thức dạy học trực tuyến ngoài các hoạt động quy định trên đây. 2.1.4 Kiểm tra đánh giá: Kiểm tra thường xuyên ý thức học tập và sự tiến bộ của học sinh qua mỗi nội dung, mỗi giai đoạn học tập, qua sản phẩm của học sinh. Tổ chức kiểm tra đánh giá kết quả học tập của môn mĩ thuật khi dạy học trực tuyến, giáo viên nên lồng ghép vào các hoạt động dạy học, không tổ chức hoạt động đánh giá độc lập như tổ chức học trực tiếp để tránh gây căng thẳng cho học sinh và kết quả kiểm tra đánh giá đảm bảo được tính khách quan, độ tin cậy và độ giá trị cần thiết. 2.2 Áp dụng hình thức “Lớp học đảo ngược” trong giờ dạy trực tuyến Lớp học đảo ngược (Flipped classroom) là một giải pháp dạy học trong đó, giáo viên cung cấp nội dung cho học sinh để học sinh chủ động học trước khi vào lớp. Với hình thức đào tạo trực tuyến, tài liệu học tập được giảng viên cung cấp trên hệ thống e-learning. Học sinh sẽ học trong hai không gian: ngoài lớp và trong lớp. Lớp học đảo ngược chuyển sự hướng dẫn học tập sang mô hình lấy người học làm trung tâm, trong đó thời gian lên lớp được sử dụng để khám phá sâu hơn các chủ đề. Ở lớp học đảo ngược, người học sẽ chú trọng nhớ và hiểu ngoài lớp học. Khi đến lớp, giáo viên sẽ chú trọng giúp học sinh ứng dụng, phân tích, đánh giá và sáng tạo. Điều này ngược lại với lớp học truyền thống rất chú trọng giúp người học giải quyết mọi vấn đề tại lớp học. Giáo viên Học sinh - Tự học, tự xem tài liệuT - Ghi chú những điều chưa Học trước khi vào Tài liệu học tập liên quan, video rõ, chưa hiểu, chuẩn bị các lớp bài giảng nội dung, các câu hỏi cần trao đổi trong giờ học Điều phối lớp học Chủ động tham gia lớp học Trong lớp học Trả lời câu hỏi, tình huống thực Đặt câu hỏi, thực hành, thảo tế của người học luận, ứng dụng các kiến thức Lớp học đảo ngược được triển khai theo 3 bước. Bước 1: Học trước trên cơ sở các tài liệu, video clip hướng dẫn của giáo viên Bước 2: Thực hiện giờ học trực tuyến với giáo viên và các bạn cùng lớp. 8 Bước 3: Hoàn tất môn học trên lớp làm cho người học có trải nghiệm học tập với nhiều hình thức đa dạng; làm tăng tính tương tác. 3. Hướng dẫn xây dựng kế hoạch bài dạy dạy học trực tuyến 3..1 Xác định đối tượng dạy học của giờ học mĩ thuật: - Lứa tuổi: Học sinh ở các lớp khác nhau có các lứa tuổi khác nhau, ứng với nó có các yêu cầu về cách tổ chức dạy học, giải pháp dạy học trực tuyến khác nhau. Học sinh lứa tuổi càng nhỏ, giáo viên càng hạn chế các phương pháp dạy học thuyết trình, giải thích mà tăng cường các kỹ thuật dạy học có tính tương tác. Học sinh ở lứa tuổi lớn hơn, giáo viên sử dụng linh hoạt các phương pháp dạy học vừa có tính tương tác vừa sử dụng phương pháp dạy học thuyết trình, giải thích, minh họa. - Đặc điểm tâm lý: Học sinh lứa tuổi tiểu học khó có thể tập trung cao vào bài học trong một thời gian dài. Giai đoạn này, việc giao lưu, làm việc nhóm và quan sát thực tiễn là điều cần thiết. Tuy nhiên, với dạy học trực tuyến, điều này là không thể. Vì thế, trong quá trình dạy học, giáo viên phải tạo ra các tình huống khác nhau, làm thay đổi quá trình theo dõi bài học của học sinh; tạo ra những vấn đề mang tính thách thức để tập trung học sinh giải quyết quên đi sự đơn điệu nhàm chán. Giáo viên cũng yêu cầu học sinh trang phục nghiêm túc khi tham gia học trực tuyến để đảm bảo tính kỷ luật học tập. Học sinh sẽ học với trạng thái ổn định hơn. - Sức khỏe: Để đảm bảo sức khỏe cho học sinh, giáo viên luôn yêu cầu các em ngồi học đảm bảo khoảng cách hợp lý với màn hình máy tính; Tư thế ngồi thoải mái, tránh mỏi cổ, mỏi lưng, tránh bị gù. Học sinh tiểu học cần có sự vận động nhất định trong thời gian ngồi nghe bài giảng. Vì thế, có thể xen giữa các hoạt động học tập, giáo viên có thể tổ chức cho học sinh tập 1 số động tác thể dục như: vươn vai, chạy tại chỗ; hoặc tổ chức thi chống đẩy xem ai chống được nhiều hơn... vừa tạo không khí lớp học vừa tạo điều kiện cho học sinh thư giãn sau một khoảng thời gian học tập. 3.2 Xác định điều kiện của giờ dạy mĩ thuật: - Không gian học tập: Xác định không gian học tập trên mạng internet, các nền tảng số. Vì vậy, không thể thiết kế bài dạy trực tiếp trên lớp áp dụng cho không gian học tập này. Giáo viên cần lựa chọn giải pháp truyền đạt ngắn gọn, xúc tích, dễ hiểu, không mất nhiều thời gian. Trạng thái biểu cảm mang nhiều yếu tố kịch từ ngôn ngữ hình thể, điệu bộ đến ánh mắt, âm lượng, độ cao thấp của giọng nói sao cho truyền cảm, tránh đều đều, không tạo sự chú ý qua màn hình. Học tập trên không gian mạng cũng tiềm ẩn nhiều nguy cơ nên giáo viên cần có 9 sự chuẩn bị để sẵn sàng ứng phó: + Sự cố rớt mạng, lag mạng là điều hoàn toàn có thể xảy ra dẫn đến kết quả là bài học bị gián đoạn ở toàn bộ bài học hoặc xảy ra ở một số điểm kết nối của học sinh. Trong các tình huống này, giáo viên nên giữ thông tin với học sinh bằng cách gọi điện thoại. Hướng dẫn các em kiểm tra thiết bị, thoát ra rồi vào lại phòng học... + Trong quá trình học tập, có thể có những yếu tố nhiễu từ 1 điểm kết nối học tập của học sinh. Giáo viên nên nhẹ nhàng nhắc nhở để các điểm kết nối đó khắc phục ngay tránh ảnh hưởng tới không gian lớp học chung. + Học sinh tiểu học do tính hiếu động nên có thể chạm vào các phím chức năng của máy tính làm gián đoạn quá trình học tập. Các em cũng có thể đùa nghịch, mất tập trung trong quá trình học tập. Giáo viên nên hướng dẫn và giao kết với học sinh được làm việc gì và không nên làm việc ngay từ đầu giờ học; khích lệ những học sinh tập trung làm bài; nhắc nhở, phê bình những học sinh chưa tập trung làm bài - Nền tảng kỹ thuật: Hiện nay có nhiều nền tảng kỹ thuật phục vụ cho việc học trực tuyến, phổ biến như : zoom, google meet, Microsoft team2 Giáo viên lựa chọn phần mềm thích hợp và thống nhất với phụ huynh cài đặt, cùng con sử dụng phần mềm để học tập. Dạy học trực tuyến sẽ thành công nếu giáo viên sử dụng thành tạo, làm chủ các phần mềm, nền tảng kỹ thuật phục vụ cho việc dạy học. - Thiết bị học tập: Với giáo viên: Cần sử dụng máy tính để bàn hoặc laptop có kết nối đường mạng hữu tuyến để dạy học để đảm bảo tính ổn định, hình ảnh và chất lượng đường truyền. Với hoc sinh, tùy điều kiện, các em có thể sử dụng máy tính để bàn, laptop, máy tính bảng, thâm chí cả điện thoại thông minh để học tập. Trong điều kiện hiện nay, thiết bị học tập của học sinh còn nhiều thiếu thốn. Đây chính là những hạn chế cho việc tổ chức dạy học trực tuyến ở các trường học. Việc đầu tư thiết bị học tập thông minh cho học sinh là việc làm cần thiết. Một mặt đẩy nhanh tiến độ giáo dục số trong các trường học. Mặt khác, học sinh sử dụng thiết bị số trong học tập sẽ làm tăng cơ hội phát triển xã hội số trong thời gian tới. 3.6 Xác định tiến trình dạy học Bước 1. Ổn định tổ chức 2 Tài liệu Tập huấn kỹ năng sử dụng công nghệ thông tin được phổ biến trong đợt tập huấn. 10 Bước 2. Tổ chức cho học sinh báo cáo kết quả các công việc đã chuẩn bị được giao trước giờ học. Bước 3. Tổ chức cho học sinh tiến hành các công việc để hoàn thành 1 bài học/ 1 chủ đề học tập với mục đích cụ thể. Bước 4. Nhận xét, đánh giá. HƯỚNG DẪN DẠY HỌC QUA TRUYỀN HÌNH 1. Một số vấn đề chung về dạy học qua truyền hình Học qua truyền hình, là sự kết hợp giữa âm thanh và hình ảnh nhận được ngay lập tức trên màn hình TV, nó đến gần và nhanh hơn nhiều tảng trực tuyến khác Ngoài ra, đối với những vùng sâu vùng xa, sóng truyền hình phát huy được thế mạnh phủ sóng, giúp các em học sinh ở những vùng khó khăn vẫn có cơ hội được trau dồi tri thức, kỹ năng. Không phải giáo viên nào cũng có thể dạy học trên truyền hình được, mà phải là những giáo viên có chuyên môn giỏi, có khả năng tương tác được với các công cụ, phương triện truyền hình. Dạy học qua truyền hình có thể sử dụng tất cả các thiết bị hỗ trợ âm thanh và hình ảnh khác và kết hợp hiệu quả chúng với nhau. Hình ảnh, biểu đồ, phim, slide vi mô, đồ thị, bảng, máy chiếu trên cao đều có thể được sử dụng trong kỹ thuật giảng dạy qua TV. Việc dạy và học qua truyền hình rất thích hợp để: Mở rộng và làm phong phú thêm kinh nghiệm học tập trên lớp của học sinh. Tạo sự quan tâm thực sự đối với chủ đề hoặc chủ đề đang được dạy. Cung cấp nhiều trải nghiệm khác biệt so với phương pháp học truyền thống Kích thích những học sinh học chậm, thụ động hơn bằng cách phát triển một cách tiếp cận mới với những học sinh này Cung cấp cơ hội học hỏi, tạo ra các sản phẩm có thể cải thiện khả năng học tập Tuy nhiên, việc dạy học qua truyền hình cũng vướng nhiều bất cập, hạn chế sau đây: - Không xây dựng được sự tương tác giữa thầy và trò. Dạy học qua truyền hình khiến học sinh không có hành động nào khác ngoài việc xem và nghe và không có sự tham gia của người học trong chương trình nên sẽ không có giao tiếp, tương tác, trưng bày, trao đổi, nhận xét, đánh giá sản phẩm như cách học truyền thống. Đôi khi, học sinh sẽ quên hoặc lơ đãng trong lúc học. Vì không có sự quản lý và tương tác trực tiếp của giáo viên, cũng như hiếm có những bài kiểm tra hay công cụ quản lý học tập, việc học trên truyền hình chỉ đơn thuần cung cấp kiến thức, 11 nên khó có thể kiểm soát được học sinh. Một trong những vấn đề hay gặp phải ở học sinh, đó sự lơ đễnh, nhất là về cuối bài. Gián đoạn và mất tập trung ở phần cuối bài giảng có thể làm giảm nghiêm trọng hiệu quả của bài học. Dạy học trên truyền hình không phải lúc nào cũng phù hợp với nhu cầu của tất cả mọi người. Nó chỉ có thể được điều chỉnh cho nhóm cụ thể nếu nhu cầu của nhóm được xác định trước đó. Giáo viên lớp không kiểm soát được tốc độ phát triển của một bài học trên TV. Đôi khi, bài giảng đó diễn ra quá nhanh đối với học sinh đang theo học và tốc độ của bài giảng là không kiểm soát được. Xã hội đang ngày một phát triển, với sự bùng nổ của công nghệ, giáo dục cũng đang trên đà thích nghi và đưa ra những phương pháp mới. Tuy nhiên, bất kể phương pháp nào cũng sẽ có những ưu và nhược điểm nhất định. Dạy học trên truyền hình có thể xem lại để học lại nếu chưa nắm vững bài học và có thể học mọi lúc mọi nơi trên nhiều thiết bị khác nhau 2. Một số lưu ý để dạy học qua truyền hình hiệu quả đối với môn mĩ thuật ở cấp tiểu học: 2.1 Tổ chức dạy học qua truyền hình với các bài tập thực hành - Lựa chọn nội dung: Giáo viên nên lựa chọn những nội dung gần gũi, cách thức tạo hình đơn giản, dễ thao tác, làm mẫu, không mất quá nhiều thời gian để hoàn thành bài tập với các vật liệu dễ kiếm, phù hợp với điều kiện địa phương. Khác với dạy học trực tuyến, dạy học qua truyền hình nên lựa chọn theo hình thức modul, dứt điểm hoàn thành 1 công đoạn, một hoạt động để tạo ra được sản phẩm cụ thể sau mỗi bài học. Các modul sẽ được kết nối ở một bài tập sau cùng (nếu có) Dạy học qua truyền hình nên lựa chọn nội dung các bài thực hành 3D bởi tính linh hoạt và sinh động của nó. Các bài học lý thuyết, lịch sử mĩ thuật nên thiết kế ở trạng thái các bài kể chuyện lịch sử sẽ mang lại hiệu quả cao hơn. - Lựa chọn phương pháp dạy học: Dạy học qua truyền hình chú trọng một số phương pháp thuyết trình, minh họa, làm mẫu Giáo viên dạy học trên truyền hình phải chú ý tác phong hướng đến sự chuẩn mực; hình ảnh đẹp hướng đến sự thu hút học sinh trong quá trình theo dõi; giọng nói, cách diễn đạt cô đọng, xúc tích hướng đến sự dễ hiểu, không làm khó vấn đề. - Sắp xếp tiến trình dạy học: Khởi động trước giờ học: Có phần làm quen, động viên học sinh và nêu trước một 12 số vấn đề liên quan đến bài học. Hướng dẫn thực hành: Giáo viên thao tác thông qua hoạt đọng tạo hình cụ thể kèm lời nói, thuyết minh với cách sử dụng ngôn ngữ dễ hiểu, gần gũi với học sinh. Sau mỗi công đoạn tạo hình, giáo viên có thể dừng lại để giải thích thêm hoặc đặt ra những câu hỏi gợi trí tò mò, tưởng tượng của học sinh và giáo viên phải tự trả lời bằng các hoạt động tiếp theo và kết quả đạt được sau hoạt động đó. Tổng kết, hoàn thiện sản phẩm: Giáo viên có thể trưng bày sản phẩm và hệ thống lại quá trình, công đoạn, cách thức, kỹ thuật tạo hình; động viên, khích lệ học sinh cùng làm theo. - Lựa chọn cách thức kiểm tra đánh giá: Dạy học qua truyền hình hướng tới hoạt động tự kiểm tra, đánh giá của học sinh. 2.2 Sử dụng các kỹ xảo truyền hình để tăng tính tương tác, tính tập trung chú ý và cuốn hút học sinh vào tiến trình bài học Ở nội dung này, giáo viên đầu tư suy nghĩ, tạo ý tưởng và cùng với các kỹ thuật viên, quay phim thiết kế trên các công cụ truyền hình để phục vụ quá trình dạy học. 3. Hướng dẫn xây dựng kế hoạch bài dạy dạy học qua truyền hình - Xác định đối tượng dạy học của giờ học mĩ thuật: - Xác định phương pháp dạy học, phương pháp tổ chức các hoạt động học tập cho học sinh: - Hình ảnh, ngôn ngữ cơ thể, lời nói của giáo viên - Sưu tầm, ứng dụng phần mềm trò chơi và thiết kế trò chơi trong giờ học - Lựa chọn giải pháp không gian lớp học: + Tiết học có nhóm nhỏ học sinh cùng tham gia ghi hình + Tiết học không có học sinh cùng tham gia ghi hình 4. Ứng dụng một số phần mềm đồ họa, phần mềm trình chiếu để thiết kế trình chiếu một số nội dung trọng tâm của bài học 5. Tiến trình dạy học Bước 1. Khởi động, giới thiệu bài học Bước 2. Làm mẫu, thị phạm, hướng dẫn cụ thể Bước 3. Hướng dẫn học sinh tự đối chiếu sản phẩm của mình với hướng dẫn và sản phẩm của giáo viên sau tiết dạy. 6. Minh họa 01 Kế hoạch bài dạy dạy học truyền thống (theo 2345/BGDĐT- GDTH) 13 DH CHỦ ĐỀ “ĐỒ CHƠI” Đối tượng: HS lớp 2 – Mĩ thuật ứng dụng I. Mục tiêu. Sau khi hoàn thành bài học chủ đề này, học sinh sẽ: - Nhận biết được đặc điểm của đồ chơi quen thuộc. - Thao tác thành thạo các cách dán, ghép, cắt, gọt để tạo hình một đồ chơi. - Quý trọng những sản phẩm được làm ra từ sự thông minh và chịu khó của mọi người. * PC và NL cần hình thành và phát triển qua bài học: - Hình thành PC “Chăm chỉ” thông qua việc thực hiện bài tập; - Hình thành và phát triển NL “Tự chủ và tự học” thông qua việc tự suy nghĩ và tái hiện về đặc điểm 1 đồ chơi; NL “Giải quyết vấn đề và sáng tạo” trong các hoạt động sáng tạo cá nhân. - Hình thành các NL đặc thù môn Mĩ thuật thông qua các hoạt động sáng tạo cá nhân trong quá trình tạo sản phẩm đồ chơi. II. Giải pháp tạo hình và phương tiện, đồ dùng thiết bị dạy – học - Tạo hình sản phẩm 3D; - HS sử dụng các vật liệu cũ và các vật liệu khác liên quan để thực hiện nhiệm vụ tạo hình. III. PP và hình thức tổ chức DH và thời gian hoàn thành - Sử dụng PP DH dự án để hướng dẫn HS thực hiện bài tập. - Hình thức tổ chức DH trong lớp, ngoài lớp học - HS hoàn thành bài tập theo chủ đề “Đồ chơi” trong thời gian 2 tiết học. IV. Tiến trình Các Thiết bị, Thời hoạt Hoạt động của GV Hoạt động của đồ dùng lượng động (Nói/Làm) HS DH học Tiết học thứ nhất 10 Khởi Treo tranh, ảnh và đề nghị HS Theo dõi, quan Tranh phút động trả lời các câu hỏi: sát và trả lời các ảnh chụp bắt - Đâu là Tranh vẽ? câu hỏi của GV. đồ vật đầu HS cũng có thể thật/ đồ vào - Đâu là ảnh chụp vật thật? đặt ra những câu vật đồ 14 Các Thiết bị, Thời hoạt Hoạt động của GV Hoạt động của đồ dùng lượng động (Nói/Làm) HS DH học bài - Tranh, ảnh chụp đồ chơi? hỏi về những chơi của học - Em nào biết/em nào không hình ảnh đồ vật trẻ em biết/chưa được xem các đồ chơi mà mình chưa trong hình? biết tên, chưa nhìn thấy bao giờ. Giới thiệu về lợi ích và tầm Trả lời các câu Một số quan trọng, tính thẩm mĩ của đồ hỏi mà GV nêu. đồ chơi chơi đối với trẻ em. Có thể đưa ra thân Đề nghị HS trả lời các câu hỏi: những nhận xét quen với HS - Các em nhỏ có thích chơi đồ của cá nhân chơi không? mình về những đồ chơi - Hãy kể tên một số đồ chơi mà em biết? - Các em gái thích chơi đồ chơi nào trong số các đồ chơi các em vừa kể? - Các em trai thích chơi đồ chơi nào trong số các đồ chơi các em vừa kể? - Hãy kể một số màu sắc của đồ chơi mà em nhớ. - Hãy mô tả hình dáng một số đồ chơi mà em thích 10 Khám Thành lập nhóm theo sở thích Nói về những đồ GV phút phá của HS: Nhóm ô tô, nhóm búp chơi mà mình/ chuẩn bị Thành bê, nhóm máy bay nhóm mình cùng một số đồ lập Đề nghị HS trả lời câu hỏi: sở thích. chơi thật nhóm Trả lời những mà lại - Tại sao các em lại chọn những gần gũi và tiến đồ chơi này? câu hỏi mà GV hành gợi ý nhằm mục để trưng hợp - Trong những đồ chơi này, đồ đích nhận diện bày, gợi tác chơi nào được cả nhóm thích một cách rõ ràng ý cho HS làm nhất? hình thù các đồ hồi tưởng 15 Các Thiết bị, Thời hoạt Hoạt động của GV Hoạt động của đồ dùng lượng động (Nói/Làm) HS DH học việc Gợi ý cho HS nói về sở thích cá vật thật mà đã lại hình nhân, sở thích chung của nhóm khi được đồ chơi tạo dáng, lựa chọn một số đồ chơi chung hình, mô phỏng. màu sắc Hướng dẫn HS khai thác chủ đề HÌnh dung và và một số trên cơ sở những sở thích chung nhớ lại một số đồ đặc điểm mà nhóm đã cùng chọn: vật có hình dáng khác liên quan. - Hình dáng, màu sắc đồ chơi đó gần giống với như thế nào? những đồ chơi quen thuộc của - Đồ chơi đó có những chi tiết các em. (giống ở gì? bộ phận nào? - Đồ chơi đó có hình dáng gần Khác ở bộ phận với vật dụng nào mà em và gia nào? Thiếu chi đình hay sử dụng? (chai lọ, vỏ tiết gì?...) hộp, các loại quả )? 10 Luyện Hướng dãn HS vẽ sơ đồ tư duy Tự vẽ sơ đồ tư Một số đồ phút tập, phân tích chi tiết loại đồ chơi suy và liệt kê các vật từ vật thực mà nhóm đang nghiên cứu. chi tiết mà đồ liệu bỏ đi hành Giao nhiệm vụ: Mỗi nhóm phải chơi có. Từ đó đã được Tìm ý hoàn thiện từ 1 đến 3 đồ chơi vẽ tiếp các nhánh thêm chi tưởng bằng cách sử dụng các chai, lọ, sơ đồ về những tiết để tạo cho dự hộp bỏ đi chi tiết mà chai hình án xây lọ, vật liệu phế thành một dựng thải chưa có, cần đồ vật một phải tạo hình lắp giống tác ghép thêm cho hình đồ phẩm giống với vật vật đồ sắp đặt thật để có thể chơi. VD: có liên dùng làm đồ Vẽ thêm quan chơi mắt, dán đến thêm vây “Đồ để tạo chơi” hình con cá từ viên đá dẹt... 5 phút Huống Yêu cầu HS về nhà chọn 1 vật HS nghe và xem GV thao 16 Các Thiết bị, Thời hoạt Hoạt động của GV Hoạt động của đồ dùng lượng động (Nói/Làm) HS DH học dẫn liệu cũ đã bỏ đi đảm bảo vệ sinh hướng dẫn, ghi tác cách thực để tập tạo hình thành 1 đồ chơi. nhớ cách làm để biến một hiện Theo các bước: có thể thực hiện đồ vật cũ dự án - Tìm kiếm sách có ảnh/hình vẽ dự án sau tiết bỏ đi sau về đồ chơi mình thích để xem học. thành tiết các chi tiết cùa đồ vật đó. một đồ học chơi có - Chọn một đồ vật phế liệu cũ (vỏ hình hộp, vỏ chai nhựa...) có hình gần dáng con giống với đồ vật mình đã chọn. vật, đồ - Thêm, bớt các chi tiết vào vật vật gần liệu đã kiếm được để tạo hình. gũi với - Tìm kiếm sự hỗ trợ của cha trẻ. mẹ, anh chị em, bạn bè và người thân khác trong quá trình thực hiện bài tập. 1 tuần Thực Hướng dẫn và theo dõi HS thực Tìm kiếm sự trợ Điện hiện hiện dự án ở nhà, ở trường; hỗ giúp của GV, thoại và dự án trợ HS khi cần thiết. bạn bè, cha mẹ, các công (có thể liên hệ với Thư viện, với người thân trong cụ hỗ trợ gia đình để huy động cùng hỗ quá trình thực trực trợ HS trong quá trình các em hiện bài tập tuyến thực hiện dự án) khác Tiết học thứ hai 15 Luyện Yêu cầu HS trình bày kết quả Trưng bày tại Các sản phút tập, thực hiện dự án của nhóm mình chỗ kết quả làm phẩm đã thực sau tiết học trước. việc của nhóm hoàn hành Nhận xét, động viên và ghi mình sau tiết học thành sau Hướng nhận kết quả dự án làm việc của trước. tiết 1 và dẫn HS. Tiến hành sắp sau thời gian tiến HS Hướng dẫn nhóm sắp đặt các xếp các sản cách phẩm của nhóm hành dự sản phẩm đơn lẻ thành một tác án. xây phẩm 3D chung của nhóm và thành một tác dựng đặt tên gọi cho sản phẩm sắp đạt phẩm sắp đặt các chung. 17 Các Thiết bị, Thời hoạt Hoạt động của GV Hoạt động của đồ dùng lượng động (Nói/Làm) HS DH học sản chung đó. Thảo luận và trả phẩm Đề nghị nhóm trao đổi và trả lời lời các câu hỏi cá các câu hỏi: của GV đưa ra nhân sau - Các em hãy nói về ý tưởng của khi nhóm mình khi sắp xếp các đồ các chơi cá nhân vào trong một em đã nhóm chung? hoàn - Các em đã gặp khó khăn gì khi thành sắp xếp thành sản phẩm chung? dự án. - Các em có yêu quý và muốn giữ gìn sản phẩm mà mình làm ra không? - Các em có thể sản phẩm mình làm ra sẽ đẹp hơn nếu được sắp xếp trong một nhóm chung không? - Em sẽ nói gì với các em nhỏ tuổi hơn mình khi chơi và cất giữ đồ chơi? 15 Vận Tổ chức cho các nhóm báo cáo Nhóm trao đổi Tác phút dụng kết quả dự án thảo luận và cử 1 phẩm sắp Báo Đánh giá, nhận xét kết quả học HS trình bày: đặt của cáo tập của các nhóm, của mỗi HS - Cách thức tiến các nhóm kết sau dự án học tập chủ đề: “Đồ hành làm dự án HS. quả dự chơi” của nhóm; án - Kết quả thực theo hiện dự án của nhóm nhóm; - Ý tưởng sắp đặt tác sản phẩm của dự án thành 1 tác phẩm chung. 5 phút Tổng Khen ngợi động viên HS Làm việc theo 18 Các Thiết bị, Thời hoạt Hoạt động của GV Hoạt động của đồ dùng lượng động (Nói/Làm) HS DH học kết dự Chụp sản phẩm của nhóm để sử hướng dẫn của án dụng vào các công việc sau này GV Hướng dẫn HS thu dọn, cất giữ Thu dọn, cất giữ sản phẩm. sản phẩm 19 7. Minh họa 01 Kế hoạch bài dạy dạy học trực tuyến DH CHỦ ĐỀ “ĐỒ CHƠI” Đối tượng: HS lớp 2 – Mĩ thuật ứng dụng I. Mục tiêu. Sau khi hoàn thành bài học chủ đề này, học sinh sẽ: - Nhận biết được đặc điểm của đồ chơi quen thuộc. - Thao tác thành thạo các cách dán, ghép, cắt, gọt để tạo hình một đồ chơi. - Quý trọng những sản phẩm được làm ra từ sự thông minh và chịu khó của mọi người. * PC và NL cần hình thành và phát triển qua bài học: - Hình thành PC “Chăm chỉ” thông qua việc thực hiện bài tập; - Hình thành và phát triển NL “Tự chủ và tự học” thông qua việc tự suy nghĩ và tái hiện về đặc điểm 1 đồ chơi; NL “Giải quyết vấn đề và sáng tạo” trong các hoạt động sáng tạo cá nhân. - Hình thành các NL đặc thù môn Mĩ thuật thông qua các hoạt động sáng tạo cá nhân trong quá trình tạo sản phẩm đồ chơi. II. Giải pháp tạo hình và phương tiện, đồ dùng thiết bị dạy – học - Tạo hình sản phẩm 3D; - HS sử dụng các vật liệu cũ và các vật liệu khác liên quan để thực hiện nhiệm vụ tạo hình. III. PP và hình thức tổ chức DH và thời gian hoàn thành - Sử dụng PP DH thuyết trình, minh họa để hướng dẫn HS thực hiện bài tập. - Hình thức tổ chức DH trực tuyến - HS hoàn thành bài tập theo chủ đề “Đồ chơi” trong thời gian 1 tiết học. IV. Tiến trình Các Thiết bị, Thời hoạt Hoạt động của Hoạt động của GV (Nói/Làm) đồ dùng lượng động HS DH học Khởi Trình chiếu một số hình đồ chơi Học sinh phát Video động bắt trên power point và yêu cầu học biểu hình ảnh đầu vào sinh gọi tên các đồ chơi đó. đồ chơi 20
File đính kèm:
tai_lieu_huong_dan_day_hoc_truc_tuyen_day_hoc_qua_truyen_hin.pdf



