Giải pháp nâng cao chất lượng rèn kĩ năng viết văn miêu tả cho học sinh lớp 4

docx19 trang | Chia sẻ: Chan Chan | Ngày: 10/02/2026 | Lượt xem: 19 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Giải pháp nâng cao chất lượng rèn kĩ năng viết văn miêu tả cho học sinh lớp 4, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút TẢI VỀ ở trên
 THUYẾT MINH MÔ TẢ GIẢI PHÁP 
1.Tên giải pháp “Giải pháp nâng cao chất lượng rèn kĩ năng viết văn miêu tả cho học 
sinh lớp 4”
 2.Giải pháp được áp dụng lần đầu .
 Giải pháp được áp dụng vào khối 4, trường Tiểu học Đồng Kỳ năm học 2018 - 2019 và 
năm học 2019 - 2020. 
3. Các thông tin cần bảo mật : không có
4. Mô tả các giải pháp cũ thường làm.
 Trong chương trình Tiếng Việt Tiểu học, văn miêu tả chiếm khá nhiều thời lượng. Ở 
lớp 4 văn miêu tả có 30 tiết, chiếm khoảng 50% thời lượng toàn bộ chương trình tập 
làm văn). Văn miêu tả được chia thành các kiểu bài khác nhau căn cứ vào đối tượng 
miêu tả. Các kiểu bài miêu tả ở lớp 4 bao gồm: Tả đồ vật, tả cây cối, tả con vật.
 Để thực hiện nội dung theo yêu cầu rèn kỹ năng viết văn miêu tả cho học sinh giáo 
viên thường dùng các phương pháp sau:
+ Phương pháp hỏi đáp : 
 - Giáo viên nêu đề bài
 • Một vài học sinh nhắc lại đề bài.
 • Giáo viên giúp học sinh nắm yêu cầu và gạch chân các từ ngữ trọng tâm chính 
 của đề bài.
 • Giáo viên giúp học sinh cách làm bài bằng các câu hỏi gợi mở( bài văn gồm mấy 
 phần) mở bài giới thiệu gì? Thân bài nêu nội dung gì? Kết bài nội dung gì ? kết 
 hợp giáo viên đưa ra dàn ý.
 + Phương pháp quan sát: Giáo viên đưa ra cho học sinh bài văn mẫu, tranh ảnh, đồ 
vật, giáo viên dùng bảng phụ đưa ra bài làm. + Luyện tập thực hành: HS dựa vào gợi ý bài văn mẫu tự viết bài. 
 • GV thu bài - giáo viên chấm - nhận xét đánh giá bài làm của học sinh. 
Bảng số liệu khảo sát chất lượng học sinh vào cuối năm học 2017-2018.
 Thời TSHS Điểm 9-10 Điểm 7-8 Điểm 5-6 Điểm dưới 5
 gian
 Cuối SL TL SL TL SL TL SL TL
 năm 29
 4 13,7% 10 34,3% 12 41,3% 3 10,7%
 học
* Qua những giải pháp và bảng khảo sát chất lượng học sinh trên tôi thấy còn nhiều hạn 
chế như:
+ Giáo viên còn nói nhiều, học sinh thụ động vào phần hướng dẫn của giáo viên không 
phát huy được sự sáng tạo, vốn hiểu biết của các em hướng đến bài văn nội dung giống 
nhau không phong phú .Hầu hết bài làm của các em còn mang tính sao chép lệ thuộc 
vào thầy cô và bạn dẫn đến kết quả là trí tưởng tượng, khả năng quan sát còn nhiều hạn 
chế.
+ Với cách làm việc máy móc, dập khuôn theo mẫu nên khả năng nói và viết của các em 
là rất khó khăn, lúng túng dẫn tới các em chưa xác định được cách viết văn , lỗi thường 
mắc phải.
+ Các em chưa hiểu thế nào là văn miêu tả, cấu tạo bài văn miêu tả.
+ Chưa biết quan sát các đối tượng miêu tả chỉ nó chung chung dẫn tới việc tìm ý và lập 
dàn ý rất khó khăn.
+ Chưa biết lựa chọn vốn từ ngữ khi miêu tả, câu văn còn lủng củng chưa sáng tạo.
+ Chưa có thói quen sử dụng biện pháp so sánh, nhân hóa khi làm văn.
+ Khả năng giao cảm với đối tượng miêu tả còn hạn chế; cảm xúc, tình cảm không tự 
nhiên, có sự gượng ép. + Các em còn ngại khi viết văn. 
5. Sự cần thiết phải áp dụng giải pháp. 
 Xã hội đang trên đà phát triển công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đòi hỏi con 
người cũng phải phát triển về ngôn ngữ, tư duy óc sáng tạo vốn hiểu biết về thiên nhiên, 
con người, môi trường. Môn Tiếng Việt là môn có tầm quan trọng bậc nhất trong các 
môn học ở Tiểu học nó giúp các em hình thành và phát triển các kỹ năng sử dụng Tiếng 
Việt( đọc, nghe, nói , viết) là công cụ để giao tiếp và tư duy là hành trang cho những 
năm tháng học ở nhà trường và cũng như trong suốt cuộc đời, song trong môn Tiếng 
Việt thì phân môn chiếm nhiều thời gian nhất là tập làm văn và chủ yếu là văn miêu tả. 
Đề tài văn miêu tả vô cùng phong phú đó là thế giới xung quanh ta với những đường 
nét, âm thanh,màu sắc, hương vị....mà người miêu tả cảm nhận được.
 Với ý nghĩa quan trọng của phân môn Tập làm văn và thực trạng khi dạy học môn học 
này ở trường Tiểu học hiện nay, tôi đã lựa chọn “Giải pháp nâng cao chất lượng rèn kỹ 
năng viết văn miêu tả cho học sinh lớp 4” để nghiên cứu với mong muốn dạy tốt phân 
môn này sẽ đáp ứng được kĩ năng viết của học sinh viết đúng và hay. Việc học các bài 
văn miêu tả sẽ giúp các em có tâm hồn, trí tuệ phong phú hơn, giúp các em cảm nhận 
được sự vật xung quanh tinh tế và sâu sắc hơn. Do đó, việc hướng dẫn, rèn kĩ năng cho 
các em cách làm bài văn miêu tả là rất cần thiết.
6. Mục đích của giải pháp.
- Giúp học sinh hiểu và nắm chắc được dạng văn miêu tả.
- Học sinh viết bài biết sử dụng hình ảnh so sánh nhân hóa, câu văn sinh động.
- HS có được năng lực cộng tác, tự tin chia sẻ có cơ hội được bày tỏ vốn hiểu biết và óc 
quan sát sáng tạo cá nhân.
- HS hứng thú trong học tập.
- Nâng cao chất lượng môn Tiếng Việt.
- Rèn kỹ năng viết, kỹ năng quan sát, dùng từ ngữ có hình ảnh. - HS hoàn thành nội dung học tập ngay tại lớp.
7. Nội dung
7.1.Thuyết minh giải pháp “Giải pháp nâng cao chất lượng rèn kỹ năng viết văn miêu tả 
cho học sinh lớp 4”.
 Bước1: Giúp học sinh hiểu rõ thế nào là văn miêu tả và cấu tạo của bài văn miêu tả.
 Muốn viết được một bài văn tốt đúng yêu cầu trước hết học sinh phải nắm được 
dạng văn mà mình viết đó là dạng văn gì vậy khi dạy văn miêu tả để học sinh xác định 
được thì điều đầu tiên khi tôi dạy là hình thành xây dựng khái niệm bằng cách đưa ra 
cho học sinh một đoạn văn với yêu cầu. Đoạn văn sau miêu tả những sự vật nào?
 Trước mặt tôi, một cây sòi cao lớn toàn thân phủ đầy lá đỏ. Bên cạnh đó, như để tôn 
thêm màu đỏ chói lọi kia lại là mau vàng rực rỡ của mấy cây cơm nguội. Một làn gió rì 
rào chạy qua,những chiếc lá rập rình lay động như những đốm lửa vàng ,lửa đỏ bập 
bùng cháy. Tôi rẽ lá ,nhẹ nhàng men theo một lạch nước để đến cạnh cây sòi. Nước róc 
rách chảy, lúc trườn lên mấy tảng đá trắng, lúc luồn dưới mấy gốc cây ẩm mục.
 - GV yêu cầu tìm các sự vật trong bài, mỗi sự vật được tác giả miêu tả như thế nào 
?
- HS tìm và hình dung về cây sòi, cây cơm nguội, lạch nước.
- HS tìm và ghi được kết quả sau.
 Hình Tiếng 
 TT Tên sự vật Màu sắc Chuyển động
 dáng động
 lá rập rình lay động như 
 1 Cây sòi Cao lớn lá đỏ chói lọi 
 những đốm lửa đỏ
 lá vàng rực lá rập rình lay động như 
 2 Cây cơm nguội 
 rỡ những đốm lửa vàng 3 Lạch nước róc rách
 Vậy để biết được đặc điểm của các sự vật trên thì tác giả cần phải sử dụng các giác 
quan nào? 
 - HS trình bày ( bằng mắt, bằng tai .....)
Vậy theo các bạn thế nào là miêu tả? 
HS suy nghĩ và bày tỏ ý kiến.
 - GV giúp đỡ và chỉnh sửa lại ý hiểu của học sinh.
 Như vậy, văn miêu tả là thể loại văn dùng lời nói có hình ảnh và có cảm xúc làm cho 
người nghe người đọc hình dung một cách rõ nét, cụ thể về người, vật, cảnh vật, sự việc 
như nó vốn có trong đời sống. Một bài văn miêu tả hay phải được thể hiện rõ nét, chính 
xác, sinh động đối tượng miêu tả mà còn thể hiện được trí tưởng tượng, cảm xúc và 
đánh giá của người viết với đối tượng được miêu tả. Các bài văn miêu tả ở tiểu học chỉ 
yêu cầu tả những đối tượng mà học sinh yêu mến, thích thú. Vì vậy, qua bài làm của 
mình, các em phải gửi gắm tình yêu thương với những gì mình miêu tả.
 Trong chương trình Tiếng Việt lớp 4 thì các đối tượng cần tả là đồ vật, cây cối, con 
vật.
 Cấu tạo chung của bài văn miêu tả gồm 3 phần: Mở bài, thân bài và kết bài.
 Bước 2: Hướng dẫn học sinh quan sát đối tượng miêu tả. 
Ví dụ: Khi dạy học sinh viết đoạn miêu tả đặc điểm bên ngoài chiếc cặp, giáo viên cho 
học sinh tự quan sát và nói cho nhau nghe về đặc điểm bên ngoài của chiếc cặp. 
- HS tự do bày tỏ ý kiến.
+ Hãy quan sát và ghi nhớ các đặc điểm bên ngoài của chiếc cặp.
(Cặp còn mới hay đã cũ ?
 Cặp hình gì? Kích thước thế nào?
 Cặp màu gì? Làm bằng vải hay da? Quai cặp như thế nào? 
 Mặt cặp, nắp cặp được trang trí thế nào?
 Khóa cặp nằm ở đâu, đóng mở cặp có âm thanh gì?...) 
 + Hướng dẫn học sinh trình tự quan sát: Nên để cho học sinh tự tìm cho mình một trình 
tự quan sát, giáo viên chỉ là người hướng dẫn, dẫn dắt các em để các em tìm ra được 
những điểm mới lạ, riêng biệt với đối tượng mà mình muốn miêu tả. HS có thể lựa chọn.
 + Quan sát đối tượng từ gần đến xa hoặc từ xa đến gần.
 + Quan sát đối tượng từ ngoài vào trong và từ trong ra ngoài.
 Bước 3: Hướng dẫn tìm ý và lập dàn bài cụ thể.
 Để viết được một bài văn hay thì học sinh cần phải có thói quen lập dàn bài chi tiết. 
Vì vậy, sau khi hướng dẫn học sinh kỹ năng quan sát, các em có những ghi chép về đối 
tượng miêu tả thì các em cần có kĩ năng chọn lọc các chi tiết quan sát được và sắp xếp 
chúng thành một dàn bài chi tiết.
 GV có thể đưa ra bài văn miêu tả có mấy phần là những phần nào ?
 Biện pháp này là bước cơ bản giúp học sinh viết được một bài văn miêu tả có chất 
lượng. Sau khi học sinh đã có một vốn từ TV nhất định liên quan đến yêu cầu của bài 
tập, GV cho học sinh lập dàn ý chi tiết và trình bày miệng dàn ý vừa lập. GV giúp học 
sinh sửa lỗi dùng từ, đặt câu, diễn đạt,... để hoàn thiện những ý cơ bản nhất theo yêu 
cầu của đề bài.
Ví dụ: Với đề bài “Tả chiếc cặp sách của em” (SGK Tiếng Việt 4- T2- trang 18) cần hướng 
dẫn học sinh lập được một dàn ý chi tiết như sau:
* Mở bài (trực tiếp hay gián tiếp)
 - Mở bài trực tiếp: Giới thiệu ngay vào sự vật cần miêu tả.
 - Mở bài gián tiếp: Nói chuyện khác để dẫn vào sự vật cần miêu tả. 
* Thân bài : Học sinh tả chiếc cặp từ ngoài vào trong.
 Bên ngoài: Hình dáng, kích thước, màu sắc, chất liệu, cấu tạo, đặc điểm nổi bật
 Bên trong: Mấy ngăn? công dụng của từng ngăn? 
 * Kết bài (mở rộng hay không mở rộng)
 - Kết bài không mở rộng: Chỉ kết lại ngắn gọn về sự vật miêu tả.
 - Kết bài mở rộng: Mở rộng nhiều vấn đề xung quanh sự vật được miêu tả.
 Sau khi lập được dàn ý, GV cho học sinh trình bày miệng dàn ý vừa viết nhằm rèn kĩ 
năng diễn đạt, liên kết cấu tạo thành đoạn, bài tránh rơi vào lủng củng, câu què, câu 
cụt, dùng từ thiếu chính xác.
 Bước 4: Mở rộng vốn từ ngữ và lựa chon từ ngữ miêu tả.
 Muốn lựa chọn từ ngữ để đặt câu, viết thành những câu văn có hình ảnh, học sinh 
phải có vốn từ phong phú. Do vậy, giáo viên cần giúp học sinh tích luỹ vốn từ miêu tả và 
làm giàu tưởng tượng của các em trong làm văn miêu tả.
* Tích luỹ vốn từ:
 - Vốn từ được tích luỹ từ nhiều nguồn: giao tiếp hàng ngày; đọc sách, báo; xem, nghe 
truyền hình truyền thanh; trao đổi với bạn bè; cô giáo cung cấp;..
 - Ghi chép khi được nhận các từ ngữ dùng để miêu tả theo các chủ đề, cụ thể như:
 + Các từ thường dùng trong miêu tả cây cối: xanh mướt, mơn mởn; khẳng khiu; xum 
xuê; rực rỡ; đo đỏ;
 + Các từ thường dùng trong miêu tả đồ vật: tròn xoe, nhỏ nhắn,...
 + Các từ thường dùng trong miêu tả con vật: tinh nhanh, rón rén, oai vệ,...
 + Các từ miêu tả đó thường là những từ láy, gợi lên hình ảnh, âm thanh,. . để miêu tả 
cho sinh động.
 Bước 5:Luyện tập cách sử dụng các biện pháp tu từ và bộc lộ cảm xúc - Văn miêu tả nhằm giúp người đọc hình dung ra sự vật, sự việc một cách sinh động, 
cụ thể. Vì thế, khi viết văn, người ta thường dùng liên tưởng, so sánh. Nhờ có liên tưởng, 
so sánh mà văn miêu tả khơi gợi được trí tưởng tượng, óc sáng tạo của người đọc.
 - Do đó, khi hướng dẫn học sinh quan sát, giáo viên cần hướng dẫn học sinh phát hiện 
ra những nét giống nhau giữa các sự vật hiện tượng. Hay nói cách khác, khi quan sát, 
học sinh phải hình dung được trong đầu xem hình ảnh mình vừa quan sát được giống 
với những hình ảnh nào mà mình đã biết.
 Ví dụ: Khi hướng dẫn học sinh quan sát cây bàng, giáo viên cho học sinh quan sát và 
học sinh tự miêu tả một đoạn văn, học sinh trình bày cho các bạn nghe các bạn nhận 
xét đoạn văn nào hay hơn của các bạn , vì sao nó hay để học sinh nhận ra khi viết văn 
học sinh cần sử dụng các biện pháp so sánh và nhân hóa trong bài để đạt kết quả cao 
học sinh có thể tự đặt ra câu hỏi như:
 + Khi nhìn từ xa trông cây như thế nào? Cây cao thế nào? Dáng cây ra sao?
 + Rễ cây trên mặt đất trông như thế nào? Nhìn rễ cây em có liên tưởng đến hình ảnh 
gì? Màu sắc của lá thay đổi theo mùa như thế nào?.....
Với những hiểu biết của học sinh như trên, học sinh không những viết ra những điều 
mình quan sát được mà còn có thể viết ra những câu văn giàu hình ảnh.
Chính vì vậy, khi dạy văn miêu tả cho học sinh, giáo viên cần chú ý hướng dẫn các em 
sử dụng các hình ảnh so sánh, nhân hóa. Muốn được như vậy, giáo viên phải hướng dẫn 
các em quan sát thật kĩ những sự vật mà mình muốn miêu tả, từ đó các em có sự so 
sánh, liên tưởng xem các hình ảnh đó giống với cái gì để viết được những câu văn hay 
và sinh động.
Dưới đây là một đoạn văn mà học sinh đã quan sát, miêu tả rất kĩ về cây bàng. Trong 
đoạn văn này, em đã biết sử dụng những hình ảnh so sánh, nhân hóa rất sinh động và 
gợi cảm. 
Đoạn văn học sinh viết về cây bàng.
 Ngoài ra, khi viết văn một yếu tố rất cần đó là cảm xúc của người viết. Văn
miêu tả muốn hay thì không chỉ có cái tài quan sát, thể hiện bằng các từ ngữ, hình ảnh 
của người viết mà còn cần phải có tình cảm của người viết lồng vào đó. Nếu bài văn 
không có tình cảm thì dù có miêu tả phong phú và mới mẻ đến đâu thì bài văn cũng 
không thể gây được xúc động trong lòng người đọc. Giáo viên phải luôn chú ý, nhắc nhở các em xen lẫn tình cảm, cảm xúc của mình vào 
từng câu văn.
 Bước 6:Thường xuyên kiểm tra đánh giá kĩ năng viết văn của từng học sinh.
 - Để đánh giá học sinh việc phân loại đối tượng học sinh là rất cần thiết đối với mỗi giáo 
viên. Trên cơ sở đó, giáo viên biết mình cần quan tâm đến học sinh ? Học sinh này yếu 
những kĩ năng gì ? Học sinh kia yếu những kĩ năng gì ? để có biện pháp rèn luyện thích 
hợp.
 - Việc đánh giá học sinh tôi đã thực hiện theo TT22/2016TT- BGDĐT thông tư sửa đổi 
một số điều quy định đánh giá học sinh Tiểu học.
 + Đánh giá thường xuyên: Tổ chức việc đánh giá trong mỗi tiết học cô dùng lời nói chỉ 
ra chỗ đúng, chưa đúng viết vào vở nhận xét của học sinh có biện pháp sửa đổi kịp thời, 
các bạn được tham gia đánh giá nhận xét bằng cách trao đổi bài để nhận xét của bạn 
bằng lời nói hoặc ghi nhận xét vào bài của bạn.
 + Đánh giá theo định kỳ: Thông qua các bài kiểm tra định kỳ, giáo viên căn cứ vào quá 
trình đánh giá thường xuyên để đánh giá kết quả giáo dục của học sinh sau một giai 
đoạn học tập và rèn luyện nhằn xác định mức độ hoàn thành so chuẩn kiến thức kỹ 
năng vào hình thành phát triển năng lực phẩm chất của học sinh.
 Thực tế, các biện pháp nêu trên cần được tiến hành một cách đồng thời và liên tục 
trong mỗi tiết dạy. Mặt khác, thông qua phụ huynh học sinh kiểm tra việc học ở nhà là 
một việc làm không thể thiếu, làm cơ sở cho việc tiếp thu kiến thức của các em ở lớp 
được thuận tiện hơn. Tuy nhiên, không thể ngày một ngày hai mà học sinh hình thành 
được kĩ năng mà cần phải có một quá trình lâu dài và kiên trì. Cũng không thể rèn kĩ 
năng cho tất cả các học học sinh trong cùng một lúc mà phải biết nên tập trung rèn kĩ 
năng cho học sinh nào trước, học sinh nào sau.
* Mô tả cách thức thực hiện :
 Trong thời gian giảng dạy và tìm hiểu, tôi xin mạnh dạn đưa ra tiến trình cho một tiết 
dạy Tập làm văn có sử dụng một số các biện pháp trên: Tập làm văn
LUYỆN TẬP MIÊU TẢ CÂY CỐI
(TV tập 2-trang 83)
Đề bài: Tả một cây có bóng mát( hoặc cây ăn quả,cây hoa)mà em yêu thích.
I. MỤC TIÊU:
- Luyện tập viết các đoạn văn của bài văn miêu tả cây cối.
- Lập được dàn ý sơ lược bài văn tả cây cối nêu trong đề bài.
- Dựa vào dàn ý đã lập, bước đầu viết được các đoạn thân bài, mở bài, kết bài cho bài 
văn miêu tả cây cối đã xác định.
- HS yêu cây cối, có ý thức trồng và chăm sóc cây.
- NL tự học, Sử dụng ngôn ngữ, NL sáng tạo, NL hợp tác.
*GD BVMT: HS biết chăm sóc, bảo vệ cây xanh có thái độ gần gũi, yêu quý các loài cây 
trong môi trường thiên nhiên.
II. CHUẨN BỊ:
1. Đồ dùng
 - GV: Bảng phụ. 
 - HS: Sách, bút.
2. Phương pháp
 - Hỏi đáp, thảo luận nhóm, quan sát, thực hành.
II. CÁC HOẠT ĐỘNG DẠY - HỌC:
 Hoạt động của giáo viên Hoạt động của học sinh
 1. Khởi động (5p) - TBVN điều hành lớp hát, vận động tại 
 chỗ - GV dẫn vào bài mới 
2. HĐ thực hành (30p) 
HĐ1: Tìm hiểu yêu cầu của bài tập: Cá nhân - Cả lớp
- Cho HS đọc đề bài trong SGK. - HS gạch dưới những từ ngữ quan trọng 
 trên đề bài đã viết trước trên bảng lớp.
 Đề bài :Tả một cây có bóng mát (hoặc 
 cây ăn quả, cây hoa) mà em yêu thích
 - HS quan sát, lắng nghe
- GV cho học sinh quan sát tranh hoặc một 
số loại cây đã được chuẩn bị trước. - HS nối tiếp nêu
- Cho HS nói về cây mà em sẽ chọn tả. - 4 HS giới thiệu
Gọi HS giới thiệu trước lớp về cây mình định 
tả. 
+ GV có thể gợi ý: 
Em có kỉ niệm gì với cây đó? 
Em đã vun trồng, chăm sóc cây như thế 
nào? Quá trình phát triển của nó ra 
sao? 
Vì sao em thích loài cây đó? 
 -HS đọc:
- Gọi HS nối tiếp đọc gợi ý SGK.
 Xây dựng dàn ý: 
- GV gợi ý thêm:
 Mở bài: - Giới thiệu cây định tả
Với đề bài Tả một cây có bóng mát +Về hình 
 Thân bài: 
dáng của cây (to lớn, cành lá xum xuê; cây 
như một chiếc ô xanh hay ngọn tháp xanh -Tả bao quát
khổng lồ, ...). +Về màu sắc của lá (xanh đậm, xanh nhạt, -Tả từng bộ phận của cây( hoặc từng thời 
xanh non tơ, ...); kích thước, hình dáng của kì phát triển của cây)
chiếc lá (lá hình bầu dục, hình chiếc quạt; tán Kết bài: Nêu lợi ích và cảm nghĩ của em
lá xòe rộng, lá dày đan xen nhau kín khít, mỗi 
chiếc lá như một chiếc quạt xanh, ...). 
+Về công dụng (che bóng mát, tạo cảnh 
quan cho trường, ..); cây có bóng mát các 
em tả có điều gì đặc biệt so với những cây có 
bóng mát hay những loại cây khác: cây đã 
được trồng lâu năm, cành lá xum xuê, gốc 
cây to, ...
- GV nhắc HS lập dàn ý trước khi viết bài.
- GV nhắc HS: Các em cần viết nhanh ra giấy 
nháp dàn ý để tránh bỏ sót các ý khi làm bài. 
HĐ 2: Hướng dẫn học sinh viết bài - HS nêu dàn ý đã chuẩn bị
Lưu ý HS: Sử dụng các giác quan để quan sát, 
khi viết nên sử dụng các biện pháp nghệ 
thuật để miêu tả, thể hiện được cảm xúc... 
Khuyến khích HS khá, giỏi mở bài theo cách 
gián tiếp, kết bài theo cách mở rộng.
- Gv quan sát, hướng dẫn học sinh yếu.
 - HS viết bài vào vở 
- Gọi HS đọc bài.
3. HĐ ứng dụng (1p)
- GD BVMT: Các loài cây đều rất gần gũi và 
có ích với cuộc sống con người. Mỗi loài cây 
 đều có vẻ đẹp riêng. Cần biết bảo vệ các loài 
 cây để cuộc sống luôn tươi đẹp. 
 4. HĐ sáng tạo (1p) 
 - Liên hệ bảo vệ, chăm sóc cây
 - Chia sẻ trước lớp
 - Hoàn chỉnh bài văn miêu tả cây cối 
*Kết quả đạt được: Khi tôi sử dụng giải pháp trên tôi đã tiến hành khảo sát lớp 4C trực 
tiếp tôi giảng dạy tôi thu nhận được kết quả của năm học 2018 - 2019 như sau :
 Thời gian TSHS Điểm 9-10 Điểm 7-8 Điểm 5-6 Điểm dưới 5
 Cuốinăm học SL TL SL TL SL TL SL TL
 30
 9 30% 14 46,6% 7 23,4% 0 0%
 Gần đây nhất năm học 2019 - 2020 áp dụng giải pháp trong khối, kết quả đạt được 
như sau: 
 Thời gian TSHS Điểm 9-10 Điểm 7-8 Điểm 5-6 Điểm dưới 
 5
 Cuối năm học SL TL SL TL SL TL SL TL
 96
 27 28,1% 45 46,8% 24 25,1% 0 0% ( Sản phẩm của học sinh sau khi áp dụng giải pháp)
- Nhìn vào bảng so sánh kết quả khảo sát của 2 năm học tôi nhận thấy khi sử dụng giải 
pháp trên trong quá trình dạy học học sinh đã phát huy được năng lực người học kết 
quả được nâng lên rõ rệt.
- HS đã viết đúng thể loại văn miêu tả câu văn ngắn gọn đủ ý, giàu hình ảnh lời văn tự 
nhiên không còn trong khuôn mẫu.
- HS biết chọn lọc từ ngữ, biết bộc lộ cảm xúc thật vào bài văn miêu tả.
- HS đã mạnh dạn tự tin hơn khi trình bày bài.
- HS biết kiểm tra đánh giá bạn về kiến thức kỹ năng, năng lực phẩm chất.
- HS thêm yêu thiên nhiên cảnh vật.
7.2. Phạm vi áp dụng : Tôi đã áp dụng vào học sinh lớp 4C trường Tiểu học Đồng Kỳ vào 
cuối năm học và trong tổ chuyên môn khối 4+5 được giáo viên trong tổ vận dụng giải 
pháp đạt hiệu quả.
7.3 Thuyết minh về lợi ích kinh tế, xã hội của giải pháp. 
* Với học sinh: Học sinh có kỹ năng giao tiếp với cảnh vật xung quanh quan sát biết 
chăm sóc bảo vệ môi trường. 
- Học sinh phát triển óc tư duy sáng tạo vốn hiểu biết của cá nhân. - Phát triển cho học sinh tính tư duy, độc lập khi làm việc.
* Với nhà trường: Nâng cao chất lượng viết văn của học sinh trong nhà trường góp phần 
phát triển nền giáo dục xã nhà.
 Tôi thấy không có phương pháp nào là vạn năng tối ưu chỉ có sự nhiệt tình trong giảng 
dạy sẽ đem lại hiệu quả cao.
 Trên đây là một số ý kiến nhỏ xuất phát từ việc giảng dạy trên lớp tôi thấy chất lượng 
môn TLV được cải thiện rõ rệt rất mong sự đóng góp của Ban giám hiệu, đồng nghiệp 
giúp tôi có kinh nghiệm trong quá trình giảng dạy.
 Tôi xin chân thành cảm ơn. 
* Cam kết :
 Tôi xin cam đoan những điều khai trên đây là đúng sự thực và không sao chép hoặc vi 
phạm bản quyền .
 Xác nhận của cơ quan, đơn vị Tác giả sáng 
kiến 
 (Chữ ký, dấu) ( Chữ ký họ và tên)
 Hoàng Thị Mai

File đính kèm:

  • docxgiai_phap_nang_cao_chat_luong_ren_ki_nang_viet_van_mieu_ta_c.docx