Một số biện pháp hình thành và phát triển phẩm chất nhân ái cho học sinh

pdf27 trang | Chia sẻ: Chan Chan | Ngày: 10/02/2026 | Lượt xem: 13 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Một số biện pháp hình thành và phát triển phẩm chất nhân ái cho học sinh, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút TẢI VỀ ở trên
 PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO YÊN THẾ 
 TRƯỜNG TIỂU HỌC ĐỒNG KỲ 
 BIỆN PHÁP 
 Tên biện pháp: “Một số biện pháp hình thành và phát triển phẩm chất 
 nhân ái cho học sinh” 
 Họ và tên: HOÀNG THỊ LÝ 
 Đơn vị: Trường Tiểu học Đồng Kỳ, huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang. 
XÁC NHẬN CỦA NHÀ TRƯỜNG NGƯỜI VIẾT 
 HIỆU TRƯỞNG (Ký ghi rõ họ tên) 
 Nguyễn Thị Thanh Hoàng Thị Lý 
 Yên Thế, tháng 10 năm 2023 
 MỤC LỤC 
 Nội dung Trang 
 I. PHẦN MỞ ĐẦU 2 
1. Lý do chọn biện pháp 2 
2. Mục đích nghiên cứu 2 
3. Nhiệm vụ nghiên cứu 3 
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 3 
5. Phương pháp nghiên cứu 3 
 II. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 4 
1. Cơ sở lý luận 4 
2. Cơ sở thực tiễn 4 
3. Các biện pháp 7 
 3.1. Nghiên cứu, tìm hiểu những vấn đề tâm sinh lí lứa tuổi và tình 7 
hình học sinh. 
 3.2 Biện pháp 2: Giáo viên chủ nhiệm phải là tấm gương sáng để cho 8 
học sinh noi theo. 
 3.3 Biện pháp 3: Phối hợp với phụ huynh làm gương thực hiện các 11 
biểu hiện của phầm chất nhân ái 
 3.4. Biện pháp 4: Xây dựng tập thể tự quản tích cực 13 
3.5. Động viên, khích lệ học sinh kịp thời 14 
 3.6. Biện pháp6 : Kết hợp các phương pháp dạy học, hình thức tổ chức 16 
trong các tiết học để góp phần hình thành và phát triển phẩm chất nhân 
ái 
 3.7. Biện pháp 7: Tổ chức các hoạt động trải nghiệm, lồng ghép giáo 18 
dục STEM vào trong các môn học tạo cơ hội cho các em hình thành 
phẩm chất nhân ái. 
 III. KẾT QUẢ VÀ ỨNG DỤNG 22 
1. Kết quả 22 
2. Ứng dụng 23 
IV. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 24 
1. Kết luận 24 
2. Kiến nghị 25 2 
 I. PHẦN MỞ ĐẦU 
 1. Lí do chọn đề tài: “Một số biện pháp hình thành và phát triển phẩm 
chất nhân ái cho học sinh” 
 Trong xã hội hiện tại một số người dần trở nên xa lánh, vô cảm với nhau 
thì mỗi biểu hiện của lòng nhân ái đều trở nên đáng quý vô cùng. Lòng nhân ái 
là giá trị cốt lõi của con người, có lòng nhân ái sẽ tạo nên nhiều hành động tốt, 
hình ảnh đẹp. 
 Sinh thời chủ tích Hồ Chí Minh đã căn dặn: 
 “ Có tài mà không có đức là người vô dụng, 
 Có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó.” 
 Thật vậy nhà trường là nơi ươm mầm tri thức, nuôi dưỡng đạo đức, lòng 
nhân ái cho các thế hệ học sinh. Trong đó, mái trường tiểu học - đặc biệt làh ọc 
sinh tiểu học là những học sinh đang ở giai đoạn đặt những viên gạch đầu tiên 
trong việc hình thành và giáo dục lòng nhân ái. 
 Trong sự đổi mới của nền giáo dục thì chương trình GDPT 2018 không 
chỉ chú trọng đến truyền dạy kiến thức mà còn chú trọng đến việc hình thành 
và phát triển năng lực, phẩm chất cho học sinh. Những hành vi tốt, hành động 
tốt sẽ tạo nên nhân cách con người qua các phẩm chất: yêu nước, nhân ái, chăm 
chỉ, trung thực, trách nhiệm. Tôi nhận thấy rằng, ở học sinh tiểu học thì việc 
chia sẻ, yêu thương bạn bè, thầy cô là những hành động tuy đơn giản nhưng hết 
sức cần thiết để tạo nên cảm xúc của con người, đó là những biểu hiện của 
phẩm chất “nhân ái”. Do vậy, tôi đã thực hiện đề tài “Một số biện pháp hình 
thành và phát triển phẩm chất nhân ái cho học sinh” với mong muốn lan 
rộng sự yêu thương, đoàn kết, chia sẻ và biết đem lại những niềm vui cho mọi 
người xung quanh. 
 2. Mục đích nghiên cứu 
 Một số biện pháp này nhằm mục đích đưa ra các giải pháp giúp cho giáo 
viên Tiểu học nói chung và cả chính bản thân tôi có thêm một số kinh nghiệm 
trong công tác chủ nhiệm hình thành và phát triển phẩm chất nhân ái cho học sinh. 3 
 Học sinh phát triển các phẩm chất: yêu nước, nhân ái, chăm chỉ, trung 
thực, trách nhiệm. Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho học sinh. 
 3. Nhiệm vụ nghiên cứu. 
 - Nghiên cứu cơ sở lý luận của biện pháp. 
 - Điều tra thực trạng hình thành và phát triển phẩm chất nhân ái của học sinh. 
 - Đề xuất giải pháp hình thành và phát triển phẩm chất nhân ái cho học sinh. 
 4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 
 - Đối tượng: Một số biện pháphình thành và phát triển phẩm chất nhân ái 
cho học sinh. 
 - Phạm vi nghiên cứu: Thực nghiệm học sinh lớp 3A và học sinh khối 3 
năm học 2022-2023. 
 5. Phương pháp nghiên cứu 
 - Phương pháp vấn đáp. 
 - Phương pháp thu thập, xử lí, tổng hợp phân tích dữ liệu. 
 - Phương pháp thực hành. 
 4 
 II. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 
 1. Cơ sở lý luận 
 Năng lực và phẩm chất là hai yếu tố chính tạo nên nhân cách con người. 
Sự hình thành năng lực và phẩm chất của mỗi người phụ thuốc vào nhiều yếu 
tố khác nhau. Phẩm chất chính là những tính tốt thể hiện ở thái độ, hành vi ứng 
xử của con người. 
 Theo Chương trình giáo dục phổ thông - Chương trình tổng thể chính thức 
được Bộ giáo dục và Đào tạo công bố vào ngày 27 tháng 12 năm 2018, phẩm 
chất “nhân ái” là một trong năm phẩm chất cốt lõi sau: Yêu nước, Nhân ái, 
Chăm chỉ, Trung thực, Trách nhiệm. 
 Nhân ái đối với học sinh tiểu học rất đơn giản và có thể biểu hiện được 
như: Biết yêu thương, quan tâm chăm sóc người thân trong gia đình; Biết yêu 
quý, quan tâm bạn bè thầy cô; Biết chia sẻ với mọi người xung quanh hay tôn 
trọng sự khác biệt giữa mọi người. 
Đối với học sinh lớp 3, tôi tập trung hình thành và phát triển các biểu hiện sau: 
 - Yêu thương, quan tâm, chăm sóc người thân trong gia đình. 
 - Yêu quý bạn bè, thầy cô; quan tâm, động viên, khích lệ bạn bè. 
 - Tôn trọng sự khác biệt của bạn bè trong lớp về cách ăn mặc, tính nết và 
hoàn cảnh gia đình. 
 2. Cơ sở thực tiễn 
 2.1. Thực trạng hình thành và phát triển phẩm chất nhân ái của học 
sinh lớp 3 
 Được xuất phát từ yêu cầu thực tế qua những năm giảng dạy, tôi nhận 
thấy rằng đối với học sinh tiểu học nếu không uốn nắn các em ngay từ ban đầu 
thì thực sự sẽ rất khó khăn trong việc đặt nền móng cho việc hình thành và phát 
triển nhân cách học sinh. Tôi đã xác định không chỉ mong muốn học sinh học 
tốt các môn văn hóa mà bên cạnh đó các em cũng cần được phát triển cả về 
năng lực và phẩm chất thì mới có cơ sở để phát triển toàn diện. 
 5 
 • Thuận lợi 
 + Ban Giám hiệu nhà trường rất quan tâm đến học sinh. 
 + Các em được học ở một ngôi trường khang trang sạch sẽ, môi trường 
xanh-sạch-đẹp. Phòng thư viện cung cấp đa dạng các loại sách, truyện phù hợp 
với tâm sinh lý lứa tuổi học sinh. Mỗi lớp đều có tivi thông minh để các thầy cô 
có thể vừa dạy học vừa cho các em những phút giây giáo dục thư giãn giải trí. 
 + Học sinh còn được sự quan tâm của phụ huynh, hầu hết các em được gia 
đình che chở và yêu thương. 
 + Một số giáo viên trường Tiểu học vô cùng nhiệt tình và quan tâm đến 
học sinh. 
 • Khó khăn 
 + Đây là do đặc thù tâm lý lứa tuổi Tiểu học – Các em chưa có ý thức tự 
học cao, chưa điều khiển được hành vi của mình theo hướng tích cực. 
 + Các em còn thiếu sự quan tâm của gia đình vì phần lớn các em có cha 
mẹ đi làm công ty hoặc đi làm xa, các em ở với ông bà hoặc cha mẹ làm công 
nhân tăng ca nhiều nên hầu như không quan tâm để ý đến con cái và không 
quản lí được giờ giấc đến trường và sinh hoạt của các em. 
 + Phẩm chất “nhân ái” đã được đưa vào môn đạo đức và lồng ghép vào 
các môn học khác nhưng vẫn bị mang tính lí thuyết, học sinh nếu chỉ học qua 
các môn học thì chưa nhớ lâu và vận dụng được. Trong cuộc sống có rất nhiều 
tình huống khác nhau, các em phải được đặt mình vào trong các tình huống đó 
để bộc lộ cảm xúc, cách ứng xử của bản thân để giải quyết vấn đề. 
 Năm học 2022 – 2023, tôi được nhà trường phân công giảng dạy lớp 3A 
với 31 học sinh. Ngay sau khi nhận lớp, tôi đã bắt tay ngay vào việc tìm hiểu, 
quan sát thái độ, cử chỉ cũng như hành vi đạo đức của các em trong ứng xử với 
bạn bè, các anh chị lớp trên, với thầy cô giáo khi ở trường và cách ứng xử với 
ông bà, cha mẹ, hàng xóm của các em khi ở nhà. 
 Thực tế tôi điều tra kết quả về phẩm chất nhân ái của học sinh lớp 3A đầu 
năm học, thu được kết quả như sau: 6 
 Sĩ Tốt Đạt Cần cố gắng 
 Lớp 
 số 
 SL % SL % SL % 
 3A 
 31 8 25,8 18 58,1 5 16,1 
 (Lớp thực nghiệm) 
 Bảng tổng hợp kết quả thăm dò kết quả về phẩm chất nhân ái ở trường 
 Tiểu học trước khi áp dụng biện pháp. 
 Từ bảng số liệu có thể thấy tỉ lệ học sinh thường xuyên có các hành vi tốt 
thể hiện phẩm chất nhân ái còn chiếm tỉ lệ ít. Trong khi đó tỉ lệ học sinh mới 
bước đầu nhận biết được hành vi và chưa vận dụng thành thạo chiếm hơn 70%. 
 Thực tế tôi nhận thấy một số em thể hiện các hành vi chưa tốt như: Chưa 
vâng lời ông bà, cha mẹ; trong lớp còn trêu ghẹo bạn để xảy ra cãi nhau; một 
số em nhút nhát ít giao tiếp, cũng ít chơi với các bạn trong lớp; trong lớp còn 
chia ra các nhóm, chưa tôn trọng sự khác biệt của bạn . Chính vì vậy tỷ lệ các 
em được đánh giá hoàn thành tốt chưa cao. 
• Nguyên nhân của thực trạng đó là do: 
 - Ý thức học tập của học sinh chưa cao, động cơ chưa rõ ràng, một bộ phận 
trẻ em còn có tình trạng “nghiện smartphone” đến con số báo động. Những 
thông tin các em tiếp xúc qua mạng chưa được chọn lọc khiến các em dễ học 
theo. 
 - Ở lứa tuổi này các em đang trong giai đoạn hình thành và phát triển tâm 
lý nên tình cảm không bền vững, dễ thay đổi, dễ bị tác động bên ngoài, khó 
kiềm chế, thích bắt chước người khác, người dạy mình và thể hiện bằng ngôn 
ngữ, cử chỉ hay hành động. 
 - Mỗi học sinh lại sống trong một gia đình khác nhau vì vậy việc hình 
thành và phát triển phẩm chất cũnng khác nhau. 
 - Một số giáo viên đôi khi còn chưa linh hoạt trong việc rèn luyện về năng 
lực phẩm chất cho học sinh. 7 
 Vậy làm thế nào để khắc phục được những thực trạng trên? Câu hỏi đó 
khiến tôi luôn trăn trở, tìm tòi và mạnh dạn áp dụng : “Một số biện pháp hình 
thành và phát triển phẩm chất nhân ái cho học sinh”. 
 3. Một số biện pháp hình thành và phát triển phẩm chất nhân ái cho 
học sinh. 
 3.1 Biện pháp 1: Nghiên cứu, tìm hiểu những vấn đề tâm sinh lí lứa 
tuổi và tình hình học sinh. 
 Điều đầu tiên khi nhận giảng dạy và chủ nhiệm một lớp học, giáo viên cần 
phải nghiên cứu đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi học sinh lớp chủ nhiệm, tìm hiểu 
những vấn đề chung về quá trình công tác chủ nhiệm lớp, thực tế ở trường Tiểu 
học về những nội dung, chương trình trong phạm vi đề tài, phát hiện những khó 
khăn, vướng mắc, những tồn tại và đề xuất một số biện pháp giải quyết. 
 Tôi đã tiến hành khảo sát đối tượng học sinh trong những tuần đầu tiên 
bằng nhiều con đường khác nhau. Thông qua các phiếu thu thập thông tin của 
học sinh, quan sát hoạt động của học sinh tại lớp, trao đổi cùng phụ huynh học 
sinh. Sau đó tôi phân loại đưa và sổ cá nhân. 
 Khi phát hiện ra những em chưa biết thể hiện lòng nhân ái, tôi đã bắt tay 
ngay vào việc tìm hiểu, quan sát thái độ, cử chỉ cũng như hành vi đạo đức của 
các em trong ứng xử với bạn bè, với thầy cô giáo khi ở trường và cách ứng xử 
với ông bà, cha mẹ, hàng xóm của các em khi ở nhà. 
 Tôi tìm hiểu nguyên nhân qua gia đình: Đa số những em có bố mẹ ly hôn, 
thiếu vắng tình cảm. Hoặc có em bố mẹ đi làm công ty ít thời gian quan tâm. 
Với những em này, tôi dùng phương pháp tác động tình cảm, nghiêm khắc 
nhưng không cứng nhắc. Tôi chú ý gần gũi các em và thường xuyên nhắc nhở 
động viên, khen ngợi kịp thời để tạo động lực để các em cố gắng. Có thể giao 
cho các em những nhiệm vụ trong lớp để các em ngày một hoàn thiện mình. 8 
 Hình ảnh GV trao đổi chia sẻ tâm sự riêng với học sinh 
 3.2 Biện pháp 2: Giáo viên chủ nhiệm phải là tấm gương sáng để cho 
 học sinh noi theo. 
 Người giáo viên chủ nhiệm nào cũng muốn có học trò ngoan, tử tế vì thế 
người giáo viên cần phải tử tế trước “Làm thầy tử tế mới có trò tử tế”. Trong 
khi mình trao cho người khác kiến thức, thì cũng là lúc mình học tập, trau dồi 
kỹ năng, kiến thức. Nghề giáo viên luôn đối diện với con người, đồng thời cũng 
phơi bày con người mình ra. Người giáo viên đứng trên bục giảng như tấm 
gương, học sinh sẽ soi vào tấm gương đó. 
 Mỗi giáo viên, luôn thực hiện theo quy tắc ứng xử giữa giáo viên với người 
học: ngôn ngữ chuẩn mực, dễ hiểu, khen hoặc phê bình phù hợp với đối tượng 
và hoàn cảnh; mẫu mực, bao dung, trách nhiệm, yêu thương; tôn trọng sự khác 
biệt, đối xử công bằng, tư vấn, lắng nghe và động viên, khích lệ học sinh; tích 
cực phòng, chống bạo lực học đường, xây dựng môi trường giáo dục an toàn, 
lành mạnh, thân thiện. Không xúc phạm, gây tổn thương, vụ lợi; không trù dập, 9 
định kiến, bạo hành, xâm hại; không thờ ơ, né tránh hoặc che giấu các hành vi 
vi phạm của học sinh. 
 Hình ảnh: GV luôn đồng hành cùng học sinh trong mọi hoạt động là tấm 
 gương cho học sinh 10 
 Công tác chủ nhiệm đòi hỏi sự phối hợp của nhiều lĩnh vực, mang tính 
nghệ thuật, do đó người giáo viên như là một người nghệ sĩ, mang nhiều tính 
cần mẫn, kiên trì, khéo léo. Giáo viên luôn phải là tấm gương sáng về đạo đức, 
mẫu mực từ lời ăn tiếng nói, tác phong làm việc cho đến trình độ chuyên môn; 
quan hệ với học trò như một người bạn lớn, vừa gần gũi, vừa đáng tin cậy; kiên 
trì giáo dục học sinh theo kiểu “mưa dầm thấm lâu”; giáo dục phẩm chất phải 
trở thành thói quen của giáo viên chủ nhiệm. Có như vậy thì mới hình thành 
phẩm chất tốt cho học sinh. 
 Hình ảnh: GV như người bạn lớn luôn gần gũi với các em 
 Học sinh lớp 3 các em còn nhỏ nên các hành động của các em phụ thuộc 
nhiều vào giáo viên chủ nhiệm, các em học tập chủ yếu dựa vào phương pháp 
quan sát, trực quan. Thông qua các hoạt động học tập hằng ngày, các em thường 
xuyên bắt chước các hành động, lời nói của chính giáo viên. Do vậy, tôi luôn 
phải chú ý đến lời nói của mình khi giảng bài, khi giao tiếp với các em trong 
tiết học để tránh mang lại sự hiểu lầm, tổn thương hay ấn tượng không tốt của 
các em đối với giáo viên. Tôi cũng cẩn thận trong các thao tác vì các em hay 
làm theo như cầm sách, lật sách, dùng bút, viết, đi lại,..... 11 
 3.3 Biện pháp 3: Phối hợp với phụ huynh làm gương thực hiện các 
biểu hiện của phầm chất nhân ái 
 Giáo dục học sinh là sự phối hợp giữa nhà trường - gia đình - xã hội, trong 
đó gia đình là cầu nối giữa nhà trường và xã hội. Cha mẹ là những người thầy 
đầu tiên của các em trên con đường học tập từ cuộc sống. Để những kiến thức, 
hành vi của các em được lâu bền và tạo thành thói quen thì phụ huynh phải là 
những người làm gương cho các em trong thực tiễn cuộc sống. 
 “Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng” - mỗi một hành vi của cha mẹ, người 
thân trong gia đình chính là tấm gương soi cho các em học tập. Do vậy, giáo 
viên luôn phối hợp với phụ huynh ngày từ đầu năm học. 
 Hình ảnh: PH làm gương luôn nhắc nhở con đội mũ bảo hiểm. 
 12 
 Đối với phụ huynh lớp tôi, tôi lập một zalo lớp để thuận tiện trong việc 
thông báo, dặn dò hằng ngày. Zalo lớp là nơi để thông tin, thông báo và lấy ý 
kiến của phụ huynh, nếu phụ huynh có thắc mắc cần giải đáp thì sẽ liên hệ với 
giáo viên qua điện thoại hoặc zalo cá nhân. 
 Hình ảnh: Trao đổi cùng PHHS trong nhóm lớp và trao đổi riêng 
 Trong các cuộc họp phụ huynh, tôi trao đổi, giải thích với phụ huynh bằng 
những lời lẽ nhẹ nhàng nhưng rõ ràng, mạch lạc. Phụ huynh đồng ý trong việc 
làm gương cho các em trong giao tiếp với giáo viên: xưng hô đúng mực, nói lời 
dễ nghe, không xúc phạm danh dự, nhân phẩm của giáo viên, luôn tìm hiểu kĩ 
thông tin trước khi phát ngôn. Thực hiện đúng các nội quy, yêu cầu của nhà 
trường như: đội mũ bảo hiểm cho con, thực hiện tốt an toàn giao thông nơi cổng 
trường, bảo vệ môi trường... Mọi thắc mắc sẽ được trao đổi với giáo viên và 
được giáo viên giải đáp rõ ràng. 
 13 
 3.4. Biện pháp 4: Xây dựng tập thể tự quản tích cực 
 Ngay từ đầu năm học, tôi luôn chăm lo tổ chức xây dựng tập thể lớp thành 
một tập thể tự quản tốt. Thành lập Ban cán sự là một việc làm không thể bỏ 
qua. Bộ máy Ban cán sự của lớp tôi gồm: 1 lớp trưởng, 2 lớp phó, 3 tổ trưởng. 
BCS lớp là cầu nối giữa học sinh với giáo viên, chia sẻ lại những yêu cầu của 
giáo viên một cách rõ ràng nhất. Bên cạnh đó, BCS cũng là một tấm gương về 
phẩm chất nhân ái. Trong năm học ban cán sự lớp sẽ có sự luân chuyển và thay 
đổi giữa các kỳ học. 
 Hình ảnh: Bầu Ban cán sự đầu năm học 
 Tôi hướng dẫn cho ban cán sự lớp cách quản lý lớp khi học, khi chơi và đặc 
biệt là khi không có giáo viên ở lớp. Chính vì vậy việc đầu tiên tôi thực hiện là 
cho các em tự xây dựng NỘI QUY LỚP HỌC và cùng nhắc nhở nhau thực 
hiện những nội quy mà chính lớp mình đã đề ra. 14 
 Hình ảnh: Cây nội quy 
 Tôi luôn nhắc nhở BCS phải luôn công tâm, bình đẳng giữa các bạn trong 
lớp, hỗ trợ giúp đỡ những bạn yếu, nhắc nhở những bạn chưa có những hành vi 
tốt, để tạo nên một tập thể đoàn kết, yêu thương, giúp đỡ lẫn nhau. 
 3.5. Biện pháp 5: Động viên, khích lệ học sinh kịp thời 
 Khen ngợi là một phần thưởng tinh thần to lớn đối với học sinh tiểu học. 
Lời khen giúp các em tạo động lực và cải thiện kết quả học tập. Hiện nay, cả 
giáo viên và phụ huynh đều đánh giá cao sự khích lệ, động viên học sinh của 
thông tư 27. Việc động viên, khích lệ học sinh kịp thời sẽ giúp học sinh tự tin, 
nhân cách của học sinh ngày càng được kiện toàn, hành vi tích cực sẽ được phát 
huy. 
 Chính vì vậy hàng ngày thay vì trách phạt và chê bai học sinh tôi sẽ dành 
cho các em những lời khen ngợi về các mặt như : tham gia phát biểu, giữ trật 
tự trong lớp, làm bài thường xuyên đầy đủ, ... Những việc làm tốt của các em 
cũng sẽ được tuyên dương như: chia sẻ đồ dùng với bạn khi bạn để quên, nhặt 
bút giúp bạn, cùng nhau làm vệ sinh, dọn dẹp, cùng nhau đọc bài,...... 15 
 Ngoài nhận xét bằng lời, tôi dùng cử chỉ, ánh mắt, nụ cười hay những cái 
xoa đầu để khích lệ các em. Những em nào tiến bộ tôi có thể thưởng bông hoa, 
sticker hay thư khen cuối tuần. Khi các em được nhận những lời khen, thư khen 
của cô các em cảm thấy rất vui và hạnh phúc. 
 Động viên học sinh bằng những phần quà. 
 Mỗi lần được tuyên dương, các em rất vui và hãnh diện. Vì thế các em 
không ngừng thi đua cố gắng thực hiện tốt mọi yêu cầu học tập, tích cực trong 
các hoạt động. Đây là một hình thức động viên về tinh thần rất giá trị và hiệu 
quả. Các em sẽ nhanh nhẹn hơn, phẩm chất nhân ái cũng được hình thành và 
phát triển một cách tự nhiên và bền chặt nhất. 
 Ngoài những sự động viên khích lệ kịp thời của GV tôi luôn khuyến khích 
học sinh chia sẻ cùng bạn, nhận ra những điểm bạn đã làm tốt công nhận bạn 
và học tập theo bạn. Đồng thời cũng giúp bạn nhận ra những điều chưa hay 
chưa đúng để sửa cho bạn. 
 16 
 3.6. Biện pháp 6: Kết hợp các phương pháp dạy học, hình thức tổ chức 
trong các tiết học để góp phần hình thành và phát triển phẩm chất nhân 
ái 
 Để hình thành phẩm chất thì những phẩm chất ấy cần được tạo thành các 
thói quen, làm mẫu và lặp lại liên tục trong một thời gian dài. Những biểu hiện 
của phẩm chất nhân ái được thể hiện rõ qua các môn học như: Đạo đức, Hoạt 
động trải nghiệm, Tiếng Việt.... Giáo viên cần tạo được hứng thú cho học sinh 
bằng cách kết hợp các phương pháp giảng dạy phù hợp, sinh động, sáng tạo để 
học sinh hiểu, nhớ lâu được những biểu hiện, hành vi tốt trong nội dung bài đã 
học. 
 Giáo viên cần có nhiều hình thức tổ chức dạy học tạo cơ hội cho học sinh 
suy nghĩ làm việc, trao đổi thảo luận với nhau nhiều hơn nhằm phát huy tính 
tích cực, tự giác, độc lập của học sinh. Các em được chia sẻ với nhau để tạo sự 
hòa đồng, thấu hiểu, mạnh dạn hơn khi giao tiếp. 
 Các nội dung trong các bài học cũng phải được giáo viên sắp xếp, tổ chức 
một cách hợp lí, từ dễ đến khó , từ cụ thể đến trừu tượng phù hợp với từng đối 
tượng học sinh. Những ví dụ được nêu lên phải thật gần gũi và quen thuộc, các 
em có thể thấy và thực hiện được trong đời sống hằng ngày. 
 Ngoài ra, giáo viên còn có thể vận dụng một số hình thức dạy học như: Tổ 
chức trò chơi để phát triển phẩm chất nhân ái như: “Thi đọc tiếp sức”, “Tôi 
cần”, “Chuyền hoa”, “Gia đình vui vẻ”, “Kết bạn”,.... 
 Ví dụ: Trò chơi: Thi đọc tiếp sức có thể chơi trong các giờ Tiếng Việt. 
 Một học sinh làm trọng tài. Mỗi đội chơi có 3-5 em. 
 Tổ chức chơi: Mỗi đội chơi lần lượt lên bảng đứng thành hàng ngang, quay 
mặt về phía các bạn; mỗi thành viên trong đội chơi cầm một quyển SGK đã mở 
sẵn (bài quy định sẽ đọc) 
 - Khi nghe lệnh trọng tài hô “bắt đầu”, người số 1 (đầu hàng bên phải hoặc 
bên trái) phải đọc đoạn thứ nhất của bài một cách rõ ràng, chính xác và nhanh. 
Dứt tiếng cuối cùng của đoạn thứ nhất, người số 2 (cạnh vị trí của người số 1) 17 
mới được đọc tiếp đoạn thứ 2 cứ như vậy cho đến người cuối cùng của nhóm. 
Trọng tài tính thời gian và ghi số phút đọc xong toàn bài của từng nhóm. 
 Trọng tài cùng các nhóm theo dõi bạn đọc cùng nhận xét và tính điểm “thi 
tiếp sức” theo tiêu chuẩn. 
 - Khi các nhóm đã đọc xong, trọng tài công bố kết quả về thời gian đọc và 
điểm số của từng nhóm. Trọng tài cùng các nhóm theo dõi bạn đọc cùng chia 
sẻ và tính điểm “thi tiếp sức” như sau: mỗi câu văn đọc chính xác, đúng quy 
định được 1 điểm; không được tính điểm nếu phạm quy. 
 + Đọc sai, lẫn hay thừa, thiếu tiếng trong câu; Đọc tiếp câu sau khi người 
đọc câu trước chưa xong; Đọc liền hai câu trở lên. 
 Nhóm nào được nhiều điểm nhất (ít hoặc không mắc lỗi) và có thời gian 
đọc ít nhất là nhóm đó giành phần thắng trong cuộc thi “đọc tiếp sức” theo sách. 
 Trò chơi được sử dụng ở tất cả các bài đọc. Giáo viên có thể thay đổi các 
bài Tập đọc khác nhau để tổ chức trò chơi phù hợp với nội dung và đối tượng 
học sinh. 
 Vậy thông qua trò chơi này học sinh biết đoàn kết giúp đỡ tương trợ lẫn 
nhau, được chia sẻ, nêu lên ý kiến của mình. Các bạn lắng nghe, tôn trọng ý 
kiến chia sẻ góp phần phát triển phẩm chất nhân ái cho các em 
 Hình ảnh: Học sinh vui vẻ, hào hứng khi tham gia các trò chơi học tập trong 
 các tiết học 18 
 3.7. Biện pháp 7: Tổ chức các hoạt động trải nghiệm, lồng ghép giáo 
dục STEM vào trong các môn học tạo cơ hội cho các em hình thành phẩm 
chất nhân ái. 
 Các năng lực phẩm chất học sinh không chỉ được hình thành trong quá 
trình học tập và rèn luyện mà nó còn được hình thành nhiều qua các hoạt động 
trải nghiệm trong và ngoài nhà trường. Hoạt động trải nghiệm có thể tổ chức 
quy mô lớn nhỏ tùy vào thời gian, điều kiện của nhà trường, của từng lớp, từng 
đối tượng học sinh. 
 Hình ảnh: Học sinh tham gia HĐTN làm thiệp tặng mẹ, bà nhân ngày 
 20/10; 8/3 19 
 Ngoài các hoạt động trải nghiệm theo quy mô lớn như tổ chức theo trường, 
theo khối, tôi thấy các trải nghiệm qui mô nhỏ (theo từng lớp riêng) cũng rất 
cần thiết và mang lại hiệu quả cao. Bởi vì học sinh chủ yếu hoạt động trên lớp 
mà tổ chức trải nghiệm cho các em cũng cần có các hoạt động, thực tế, đa dạng, 
cần được giáo viên tổ chức thường xuyên, liên tục thì mới thành kĩ năng, phẩm 
chất, kĩ năng sống cho học sinh. 
 Trong các bài học của môn Hoạt động trải nghiệm thường có những phần 
thực hành, tôi cho các em thực hiện và sử dụng những sản phẩm đó về tặng 
người thân trong gia đình như làm huy hiệu tặng mẹ, bà nhân ngày 20/10 để 
giáo dục các em về tình yêu thương, quan tâm người thân, hoặc tổ chức cho các 
em tặng hoa cho các giáo viên bộ môn trong ngày 20/11 để giáo dục về truyền 
thống “Tôn sư trọng đạo”. Hay trong các ngày lễ lớn như Ngày thành lập Đoàn 
TNCS Hồ Chí Minh 26/3, Ngày thành lập Đội TNTP Hồ Chí Minh 15/5, Ngày 
thương binh liệt sĩ 27/7 tôi tổ chức cho các em những hoạt động ý nghĩa dể giáo 
dục truyền thống thông qua đó phát triển những phẩm chất và năng lực cho học 
sinh. 

File đính kèm:

  • pdfmot_so_bien_phap_hinh_thanh_va_phat_trien_pham_chat_nhan_ai.pdf
Bài giảng liên quan