Một số biện pháp hình thành và phát triển phẩm chất nhân ái cho học sinh
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Một số biện pháp hình thành và phát triển phẩm chất nhân ái cho học sinh, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút TẢI VỀ ở trên
PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO YÊN THẾ TRƯỜNG TIỂU HỌC ĐỒNG KỲ BIỆN PHÁP Tên biện pháp: “Một số biện pháp hình thành và phát triển phẩm chất nhân ái cho học sinh” Họ và tên: HOÀNG THỊ LÝ Đơn vị: Trường Tiểu học Đồng Kỳ, huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang. XÁC NHẬN CỦA NHÀ TRƯỜNG NGƯỜI VIẾT HIỆU TRƯỞNG (Ký ghi rõ họ tên) Nguyễn Thị Thanh Hoàng Thị Lý Yên Thế, tháng 10 năm 2023 MỤC LỤC Nội dung Trang I. PHẦN MỞ ĐẦU 2 1. Lý do chọn biện pháp 2 2. Mục đích nghiên cứu 2 3. Nhiệm vụ nghiên cứu 3 4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 3 5. Phương pháp nghiên cứu 3 II. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 4 1. Cơ sở lý luận 4 2. Cơ sở thực tiễn 4 3. Các biện pháp 7 3.1. Nghiên cứu, tìm hiểu những vấn đề tâm sinh lí lứa tuổi và tình 7 hình học sinh. 3.2 Biện pháp 2: Giáo viên chủ nhiệm phải là tấm gương sáng để cho 8 học sinh noi theo. 3.3 Biện pháp 3: Phối hợp với phụ huynh làm gương thực hiện các 11 biểu hiện của phầm chất nhân ái 3.4. Biện pháp 4: Xây dựng tập thể tự quản tích cực 13 3.5. Động viên, khích lệ học sinh kịp thời 14 3.6. Biện pháp6 : Kết hợp các phương pháp dạy học, hình thức tổ chức 16 trong các tiết học để góp phần hình thành và phát triển phẩm chất nhân ái 3.7. Biện pháp 7: Tổ chức các hoạt động trải nghiệm, lồng ghép giáo 18 dục STEM vào trong các môn học tạo cơ hội cho các em hình thành phẩm chất nhân ái. III. KẾT QUẢ VÀ ỨNG DỤNG 22 1. Kết quả 22 2. Ứng dụng 23 IV. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 24 1. Kết luận 24 2. Kiến nghị 25 2 I. PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lí do chọn đề tài: “Một số biện pháp hình thành và phát triển phẩm chất nhân ái cho học sinh” Trong xã hội hiện tại một số người dần trở nên xa lánh, vô cảm với nhau thì mỗi biểu hiện của lòng nhân ái đều trở nên đáng quý vô cùng. Lòng nhân ái là giá trị cốt lõi của con người, có lòng nhân ái sẽ tạo nên nhiều hành động tốt, hình ảnh đẹp. Sinh thời chủ tích Hồ Chí Minh đã căn dặn: “ Có tài mà không có đức là người vô dụng, Có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó.” Thật vậy nhà trường là nơi ươm mầm tri thức, nuôi dưỡng đạo đức, lòng nhân ái cho các thế hệ học sinh. Trong đó, mái trường tiểu học - đặc biệt làh ọc sinh tiểu học là những học sinh đang ở giai đoạn đặt những viên gạch đầu tiên trong việc hình thành và giáo dục lòng nhân ái. Trong sự đổi mới của nền giáo dục thì chương trình GDPT 2018 không chỉ chú trọng đến truyền dạy kiến thức mà còn chú trọng đến việc hình thành và phát triển năng lực, phẩm chất cho học sinh. Những hành vi tốt, hành động tốt sẽ tạo nên nhân cách con người qua các phẩm chất: yêu nước, nhân ái, chăm chỉ, trung thực, trách nhiệm. Tôi nhận thấy rằng, ở học sinh tiểu học thì việc chia sẻ, yêu thương bạn bè, thầy cô là những hành động tuy đơn giản nhưng hết sức cần thiết để tạo nên cảm xúc của con người, đó là những biểu hiện của phẩm chất “nhân ái”. Do vậy, tôi đã thực hiện đề tài “Một số biện pháp hình thành và phát triển phẩm chất nhân ái cho học sinh” với mong muốn lan rộng sự yêu thương, đoàn kết, chia sẻ và biết đem lại những niềm vui cho mọi người xung quanh. 2. Mục đích nghiên cứu Một số biện pháp này nhằm mục đích đưa ra các giải pháp giúp cho giáo viên Tiểu học nói chung và cả chính bản thân tôi có thêm một số kinh nghiệm trong công tác chủ nhiệm hình thành và phát triển phẩm chất nhân ái cho học sinh. 3 Học sinh phát triển các phẩm chất: yêu nước, nhân ái, chăm chỉ, trung thực, trách nhiệm. Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho học sinh. 3. Nhiệm vụ nghiên cứu. - Nghiên cứu cơ sở lý luận của biện pháp. - Điều tra thực trạng hình thành và phát triển phẩm chất nhân ái của học sinh. - Đề xuất giải pháp hình thành và phát triển phẩm chất nhân ái cho học sinh. 4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu - Đối tượng: Một số biện pháphình thành và phát triển phẩm chất nhân ái cho học sinh. - Phạm vi nghiên cứu: Thực nghiệm học sinh lớp 3A và học sinh khối 3 năm học 2022-2023. 5. Phương pháp nghiên cứu - Phương pháp vấn đáp. - Phương pháp thu thập, xử lí, tổng hợp phân tích dữ liệu. - Phương pháp thực hành. 4 II. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 1. Cơ sở lý luận Năng lực và phẩm chất là hai yếu tố chính tạo nên nhân cách con người. Sự hình thành năng lực và phẩm chất của mỗi người phụ thuốc vào nhiều yếu tố khác nhau. Phẩm chất chính là những tính tốt thể hiện ở thái độ, hành vi ứng xử của con người. Theo Chương trình giáo dục phổ thông - Chương trình tổng thể chính thức được Bộ giáo dục và Đào tạo công bố vào ngày 27 tháng 12 năm 2018, phẩm chất “nhân ái” là một trong năm phẩm chất cốt lõi sau: Yêu nước, Nhân ái, Chăm chỉ, Trung thực, Trách nhiệm. Nhân ái đối với học sinh tiểu học rất đơn giản và có thể biểu hiện được như: Biết yêu thương, quan tâm chăm sóc người thân trong gia đình; Biết yêu quý, quan tâm bạn bè thầy cô; Biết chia sẻ với mọi người xung quanh hay tôn trọng sự khác biệt giữa mọi người. Đối với học sinh lớp 3, tôi tập trung hình thành và phát triển các biểu hiện sau: - Yêu thương, quan tâm, chăm sóc người thân trong gia đình. - Yêu quý bạn bè, thầy cô; quan tâm, động viên, khích lệ bạn bè. - Tôn trọng sự khác biệt của bạn bè trong lớp về cách ăn mặc, tính nết và hoàn cảnh gia đình. 2. Cơ sở thực tiễn 2.1. Thực trạng hình thành và phát triển phẩm chất nhân ái của học sinh lớp 3 Được xuất phát từ yêu cầu thực tế qua những năm giảng dạy, tôi nhận thấy rằng đối với học sinh tiểu học nếu không uốn nắn các em ngay từ ban đầu thì thực sự sẽ rất khó khăn trong việc đặt nền móng cho việc hình thành và phát triển nhân cách học sinh. Tôi đã xác định không chỉ mong muốn học sinh học tốt các môn văn hóa mà bên cạnh đó các em cũng cần được phát triển cả về năng lực và phẩm chất thì mới có cơ sở để phát triển toàn diện. 5 • Thuận lợi + Ban Giám hiệu nhà trường rất quan tâm đến học sinh. + Các em được học ở một ngôi trường khang trang sạch sẽ, môi trường xanh-sạch-đẹp. Phòng thư viện cung cấp đa dạng các loại sách, truyện phù hợp với tâm sinh lý lứa tuổi học sinh. Mỗi lớp đều có tivi thông minh để các thầy cô có thể vừa dạy học vừa cho các em những phút giây giáo dục thư giãn giải trí. + Học sinh còn được sự quan tâm của phụ huynh, hầu hết các em được gia đình che chở và yêu thương. + Một số giáo viên trường Tiểu học vô cùng nhiệt tình và quan tâm đến học sinh. • Khó khăn + Đây là do đặc thù tâm lý lứa tuổi Tiểu học – Các em chưa có ý thức tự học cao, chưa điều khiển được hành vi của mình theo hướng tích cực. + Các em còn thiếu sự quan tâm của gia đình vì phần lớn các em có cha mẹ đi làm công ty hoặc đi làm xa, các em ở với ông bà hoặc cha mẹ làm công nhân tăng ca nhiều nên hầu như không quan tâm để ý đến con cái và không quản lí được giờ giấc đến trường và sinh hoạt của các em. + Phẩm chất “nhân ái” đã được đưa vào môn đạo đức và lồng ghép vào các môn học khác nhưng vẫn bị mang tính lí thuyết, học sinh nếu chỉ học qua các môn học thì chưa nhớ lâu và vận dụng được. Trong cuộc sống có rất nhiều tình huống khác nhau, các em phải được đặt mình vào trong các tình huống đó để bộc lộ cảm xúc, cách ứng xử của bản thân để giải quyết vấn đề. Năm học 2022 – 2023, tôi được nhà trường phân công giảng dạy lớp 3A với 31 học sinh. Ngay sau khi nhận lớp, tôi đã bắt tay ngay vào việc tìm hiểu, quan sát thái độ, cử chỉ cũng như hành vi đạo đức của các em trong ứng xử với bạn bè, các anh chị lớp trên, với thầy cô giáo khi ở trường và cách ứng xử với ông bà, cha mẹ, hàng xóm của các em khi ở nhà. Thực tế tôi điều tra kết quả về phẩm chất nhân ái của học sinh lớp 3A đầu năm học, thu được kết quả như sau: 6 Sĩ Tốt Đạt Cần cố gắng Lớp số SL % SL % SL % 3A 31 8 25,8 18 58,1 5 16,1 (Lớp thực nghiệm) Bảng tổng hợp kết quả thăm dò kết quả về phẩm chất nhân ái ở trường Tiểu học trước khi áp dụng biện pháp. Từ bảng số liệu có thể thấy tỉ lệ học sinh thường xuyên có các hành vi tốt thể hiện phẩm chất nhân ái còn chiếm tỉ lệ ít. Trong khi đó tỉ lệ học sinh mới bước đầu nhận biết được hành vi và chưa vận dụng thành thạo chiếm hơn 70%. Thực tế tôi nhận thấy một số em thể hiện các hành vi chưa tốt như: Chưa vâng lời ông bà, cha mẹ; trong lớp còn trêu ghẹo bạn để xảy ra cãi nhau; một số em nhút nhát ít giao tiếp, cũng ít chơi với các bạn trong lớp; trong lớp còn chia ra các nhóm, chưa tôn trọng sự khác biệt của bạn . Chính vì vậy tỷ lệ các em được đánh giá hoàn thành tốt chưa cao. • Nguyên nhân của thực trạng đó là do: - Ý thức học tập của học sinh chưa cao, động cơ chưa rõ ràng, một bộ phận trẻ em còn có tình trạng “nghiện smartphone” đến con số báo động. Những thông tin các em tiếp xúc qua mạng chưa được chọn lọc khiến các em dễ học theo. - Ở lứa tuổi này các em đang trong giai đoạn hình thành và phát triển tâm lý nên tình cảm không bền vững, dễ thay đổi, dễ bị tác động bên ngoài, khó kiềm chế, thích bắt chước người khác, người dạy mình và thể hiện bằng ngôn ngữ, cử chỉ hay hành động. - Mỗi học sinh lại sống trong một gia đình khác nhau vì vậy việc hình thành và phát triển phẩm chất cũnng khác nhau. - Một số giáo viên đôi khi còn chưa linh hoạt trong việc rèn luyện về năng lực phẩm chất cho học sinh. 7 Vậy làm thế nào để khắc phục được những thực trạng trên? Câu hỏi đó khiến tôi luôn trăn trở, tìm tòi và mạnh dạn áp dụng : “Một số biện pháp hình thành và phát triển phẩm chất nhân ái cho học sinh”. 3. Một số biện pháp hình thành và phát triển phẩm chất nhân ái cho học sinh. 3.1 Biện pháp 1: Nghiên cứu, tìm hiểu những vấn đề tâm sinh lí lứa tuổi và tình hình học sinh. Điều đầu tiên khi nhận giảng dạy và chủ nhiệm một lớp học, giáo viên cần phải nghiên cứu đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi học sinh lớp chủ nhiệm, tìm hiểu những vấn đề chung về quá trình công tác chủ nhiệm lớp, thực tế ở trường Tiểu học về những nội dung, chương trình trong phạm vi đề tài, phát hiện những khó khăn, vướng mắc, những tồn tại và đề xuất một số biện pháp giải quyết. Tôi đã tiến hành khảo sát đối tượng học sinh trong những tuần đầu tiên bằng nhiều con đường khác nhau. Thông qua các phiếu thu thập thông tin của học sinh, quan sát hoạt động của học sinh tại lớp, trao đổi cùng phụ huynh học sinh. Sau đó tôi phân loại đưa và sổ cá nhân. Khi phát hiện ra những em chưa biết thể hiện lòng nhân ái, tôi đã bắt tay ngay vào việc tìm hiểu, quan sát thái độ, cử chỉ cũng như hành vi đạo đức của các em trong ứng xử với bạn bè, với thầy cô giáo khi ở trường và cách ứng xử với ông bà, cha mẹ, hàng xóm của các em khi ở nhà. Tôi tìm hiểu nguyên nhân qua gia đình: Đa số những em có bố mẹ ly hôn, thiếu vắng tình cảm. Hoặc có em bố mẹ đi làm công ty ít thời gian quan tâm. Với những em này, tôi dùng phương pháp tác động tình cảm, nghiêm khắc nhưng không cứng nhắc. Tôi chú ý gần gũi các em và thường xuyên nhắc nhở động viên, khen ngợi kịp thời để tạo động lực để các em cố gắng. Có thể giao cho các em những nhiệm vụ trong lớp để các em ngày một hoàn thiện mình. 8 Hình ảnh GV trao đổi chia sẻ tâm sự riêng với học sinh 3.2 Biện pháp 2: Giáo viên chủ nhiệm phải là tấm gương sáng để cho học sinh noi theo. Người giáo viên chủ nhiệm nào cũng muốn có học trò ngoan, tử tế vì thế người giáo viên cần phải tử tế trước “Làm thầy tử tế mới có trò tử tế”. Trong khi mình trao cho người khác kiến thức, thì cũng là lúc mình học tập, trau dồi kỹ năng, kiến thức. Nghề giáo viên luôn đối diện với con người, đồng thời cũng phơi bày con người mình ra. Người giáo viên đứng trên bục giảng như tấm gương, học sinh sẽ soi vào tấm gương đó. Mỗi giáo viên, luôn thực hiện theo quy tắc ứng xử giữa giáo viên với người học: ngôn ngữ chuẩn mực, dễ hiểu, khen hoặc phê bình phù hợp với đối tượng và hoàn cảnh; mẫu mực, bao dung, trách nhiệm, yêu thương; tôn trọng sự khác biệt, đối xử công bằng, tư vấn, lắng nghe và động viên, khích lệ học sinh; tích cực phòng, chống bạo lực học đường, xây dựng môi trường giáo dục an toàn, lành mạnh, thân thiện. Không xúc phạm, gây tổn thương, vụ lợi; không trù dập, 9 định kiến, bạo hành, xâm hại; không thờ ơ, né tránh hoặc che giấu các hành vi vi phạm của học sinh. Hình ảnh: GV luôn đồng hành cùng học sinh trong mọi hoạt động là tấm gương cho học sinh 10 Công tác chủ nhiệm đòi hỏi sự phối hợp của nhiều lĩnh vực, mang tính nghệ thuật, do đó người giáo viên như là một người nghệ sĩ, mang nhiều tính cần mẫn, kiên trì, khéo léo. Giáo viên luôn phải là tấm gương sáng về đạo đức, mẫu mực từ lời ăn tiếng nói, tác phong làm việc cho đến trình độ chuyên môn; quan hệ với học trò như một người bạn lớn, vừa gần gũi, vừa đáng tin cậy; kiên trì giáo dục học sinh theo kiểu “mưa dầm thấm lâu”; giáo dục phẩm chất phải trở thành thói quen của giáo viên chủ nhiệm. Có như vậy thì mới hình thành phẩm chất tốt cho học sinh. Hình ảnh: GV như người bạn lớn luôn gần gũi với các em Học sinh lớp 3 các em còn nhỏ nên các hành động của các em phụ thuộc nhiều vào giáo viên chủ nhiệm, các em học tập chủ yếu dựa vào phương pháp quan sát, trực quan. Thông qua các hoạt động học tập hằng ngày, các em thường xuyên bắt chước các hành động, lời nói của chính giáo viên. Do vậy, tôi luôn phải chú ý đến lời nói của mình khi giảng bài, khi giao tiếp với các em trong tiết học để tránh mang lại sự hiểu lầm, tổn thương hay ấn tượng không tốt của các em đối với giáo viên. Tôi cũng cẩn thận trong các thao tác vì các em hay làm theo như cầm sách, lật sách, dùng bút, viết, đi lại,..... 11 3.3 Biện pháp 3: Phối hợp với phụ huynh làm gương thực hiện các biểu hiện của phầm chất nhân ái Giáo dục học sinh là sự phối hợp giữa nhà trường - gia đình - xã hội, trong đó gia đình là cầu nối giữa nhà trường và xã hội. Cha mẹ là những người thầy đầu tiên của các em trên con đường học tập từ cuộc sống. Để những kiến thức, hành vi của các em được lâu bền và tạo thành thói quen thì phụ huynh phải là những người làm gương cho các em trong thực tiễn cuộc sống. “Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng” - mỗi một hành vi của cha mẹ, người thân trong gia đình chính là tấm gương soi cho các em học tập. Do vậy, giáo viên luôn phối hợp với phụ huynh ngày từ đầu năm học. Hình ảnh: PH làm gương luôn nhắc nhở con đội mũ bảo hiểm. 12 Đối với phụ huynh lớp tôi, tôi lập một zalo lớp để thuận tiện trong việc thông báo, dặn dò hằng ngày. Zalo lớp là nơi để thông tin, thông báo và lấy ý kiến của phụ huynh, nếu phụ huynh có thắc mắc cần giải đáp thì sẽ liên hệ với giáo viên qua điện thoại hoặc zalo cá nhân. Hình ảnh: Trao đổi cùng PHHS trong nhóm lớp và trao đổi riêng Trong các cuộc họp phụ huynh, tôi trao đổi, giải thích với phụ huynh bằng những lời lẽ nhẹ nhàng nhưng rõ ràng, mạch lạc. Phụ huynh đồng ý trong việc làm gương cho các em trong giao tiếp với giáo viên: xưng hô đúng mực, nói lời dễ nghe, không xúc phạm danh dự, nhân phẩm của giáo viên, luôn tìm hiểu kĩ thông tin trước khi phát ngôn. Thực hiện đúng các nội quy, yêu cầu của nhà trường như: đội mũ bảo hiểm cho con, thực hiện tốt an toàn giao thông nơi cổng trường, bảo vệ môi trường... Mọi thắc mắc sẽ được trao đổi với giáo viên và được giáo viên giải đáp rõ ràng. 13 3.4. Biện pháp 4: Xây dựng tập thể tự quản tích cực Ngay từ đầu năm học, tôi luôn chăm lo tổ chức xây dựng tập thể lớp thành một tập thể tự quản tốt. Thành lập Ban cán sự là một việc làm không thể bỏ qua. Bộ máy Ban cán sự của lớp tôi gồm: 1 lớp trưởng, 2 lớp phó, 3 tổ trưởng. BCS lớp là cầu nối giữa học sinh với giáo viên, chia sẻ lại những yêu cầu của giáo viên một cách rõ ràng nhất. Bên cạnh đó, BCS cũng là một tấm gương về phẩm chất nhân ái. Trong năm học ban cán sự lớp sẽ có sự luân chuyển và thay đổi giữa các kỳ học. Hình ảnh: Bầu Ban cán sự đầu năm học Tôi hướng dẫn cho ban cán sự lớp cách quản lý lớp khi học, khi chơi và đặc biệt là khi không có giáo viên ở lớp. Chính vì vậy việc đầu tiên tôi thực hiện là cho các em tự xây dựng NỘI QUY LỚP HỌC và cùng nhắc nhở nhau thực hiện những nội quy mà chính lớp mình đã đề ra. 14 Hình ảnh: Cây nội quy Tôi luôn nhắc nhở BCS phải luôn công tâm, bình đẳng giữa các bạn trong lớp, hỗ trợ giúp đỡ những bạn yếu, nhắc nhở những bạn chưa có những hành vi tốt, để tạo nên một tập thể đoàn kết, yêu thương, giúp đỡ lẫn nhau. 3.5. Biện pháp 5: Động viên, khích lệ học sinh kịp thời Khen ngợi là một phần thưởng tinh thần to lớn đối với học sinh tiểu học. Lời khen giúp các em tạo động lực và cải thiện kết quả học tập. Hiện nay, cả giáo viên và phụ huynh đều đánh giá cao sự khích lệ, động viên học sinh của thông tư 27. Việc động viên, khích lệ học sinh kịp thời sẽ giúp học sinh tự tin, nhân cách của học sinh ngày càng được kiện toàn, hành vi tích cực sẽ được phát huy. Chính vì vậy hàng ngày thay vì trách phạt và chê bai học sinh tôi sẽ dành cho các em những lời khen ngợi về các mặt như : tham gia phát biểu, giữ trật tự trong lớp, làm bài thường xuyên đầy đủ, ... Những việc làm tốt của các em cũng sẽ được tuyên dương như: chia sẻ đồ dùng với bạn khi bạn để quên, nhặt bút giúp bạn, cùng nhau làm vệ sinh, dọn dẹp, cùng nhau đọc bài,...... 15 Ngoài nhận xét bằng lời, tôi dùng cử chỉ, ánh mắt, nụ cười hay những cái xoa đầu để khích lệ các em. Những em nào tiến bộ tôi có thể thưởng bông hoa, sticker hay thư khen cuối tuần. Khi các em được nhận những lời khen, thư khen của cô các em cảm thấy rất vui và hạnh phúc. Động viên học sinh bằng những phần quà. Mỗi lần được tuyên dương, các em rất vui và hãnh diện. Vì thế các em không ngừng thi đua cố gắng thực hiện tốt mọi yêu cầu học tập, tích cực trong các hoạt động. Đây là một hình thức động viên về tinh thần rất giá trị và hiệu quả. Các em sẽ nhanh nhẹn hơn, phẩm chất nhân ái cũng được hình thành và phát triển một cách tự nhiên và bền chặt nhất. Ngoài những sự động viên khích lệ kịp thời của GV tôi luôn khuyến khích học sinh chia sẻ cùng bạn, nhận ra những điểm bạn đã làm tốt công nhận bạn và học tập theo bạn. Đồng thời cũng giúp bạn nhận ra những điều chưa hay chưa đúng để sửa cho bạn. 16 3.6. Biện pháp 6: Kết hợp các phương pháp dạy học, hình thức tổ chức trong các tiết học để góp phần hình thành và phát triển phẩm chất nhân ái Để hình thành phẩm chất thì những phẩm chất ấy cần được tạo thành các thói quen, làm mẫu và lặp lại liên tục trong một thời gian dài. Những biểu hiện của phẩm chất nhân ái được thể hiện rõ qua các môn học như: Đạo đức, Hoạt động trải nghiệm, Tiếng Việt.... Giáo viên cần tạo được hứng thú cho học sinh bằng cách kết hợp các phương pháp giảng dạy phù hợp, sinh động, sáng tạo để học sinh hiểu, nhớ lâu được những biểu hiện, hành vi tốt trong nội dung bài đã học. Giáo viên cần có nhiều hình thức tổ chức dạy học tạo cơ hội cho học sinh suy nghĩ làm việc, trao đổi thảo luận với nhau nhiều hơn nhằm phát huy tính tích cực, tự giác, độc lập của học sinh. Các em được chia sẻ với nhau để tạo sự hòa đồng, thấu hiểu, mạnh dạn hơn khi giao tiếp. Các nội dung trong các bài học cũng phải được giáo viên sắp xếp, tổ chức một cách hợp lí, từ dễ đến khó , từ cụ thể đến trừu tượng phù hợp với từng đối tượng học sinh. Những ví dụ được nêu lên phải thật gần gũi và quen thuộc, các em có thể thấy và thực hiện được trong đời sống hằng ngày. Ngoài ra, giáo viên còn có thể vận dụng một số hình thức dạy học như: Tổ chức trò chơi để phát triển phẩm chất nhân ái như: “Thi đọc tiếp sức”, “Tôi cần”, “Chuyền hoa”, “Gia đình vui vẻ”, “Kết bạn”,.... Ví dụ: Trò chơi: Thi đọc tiếp sức có thể chơi trong các giờ Tiếng Việt. Một học sinh làm trọng tài. Mỗi đội chơi có 3-5 em. Tổ chức chơi: Mỗi đội chơi lần lượt lên bảng đứng thành hàng ngang, quay mặt về phía các bạn; mỗi thành viên trong đội chơi cầm một quyển SGK đã mở sẵn (bài quy định sẽ đọc) - Khi nghe lệnh trọng tài hô “bắt đầu”, người số 1 (đầu hàng bên phải hoặc bên trái) phải đọc đoạn thứ nhất của bài một cách rõ ràng, chính xác và nhanh. Dứt tiếng cuối cùng của đoạn thứ nhất, người số 2 (cạnh vị trí của người số 1) 17 mới được đọc tiếp đoạn thứ 2 cứ như vậy cho đến người cuối cùng của nhóm. Trọng tài tính thời gian và ghi số phút đọc xong toàn bài của từng nhóm. Trọng tài cùng các nhóm theo dõi bạn đọc cùng nhận xét và tính điểm “thi tiếp sức” theo tiêu chuẩn. - Khi các nhóm đã đọc xong, trọng tài công bố kết quả về thời gian đọc và điểm số của từng nhóm. Trọng tài cùng các nhóm theo dõi bạn đọc cùng chia sẻ và tính điểm “thi tiếp sức” như sau: mỗi câu văn đọc chính xác, đúng quy định được 1 điểm; không được tính điểm nếu phạm quy. + Đọc sai, lẫn hay thừa, thiếu tiếng trong câu; Đọc tiếp câu sau khi người đọc câu trước chưa xong; Đọc liền hai câu trở lên. Nhóm nào được nhiều điểm nhất (ít hoặc không mắc lỗi) và có thời gian đọc ít nhất là nhóm đó giành phần thắng trong cuộc thi “đọc tiếp sức” theo sách. Trò chơi được sử dụng ở tất cả các bài đọc. Giáo viên có thể thay đổi các bài Tập đọc khác nhau để tổ chức trò chơi phù hợp với nội dung và đối tượng học sinh. Vậy thông qua trò chơi này học sinh biết đoàn kết giúp đỡ tương trợ lẫn nhau, được chia sẻ, nêu lên ý kiến của mình. Các bạn lắng nghe, tôn trọng ý kiến chia sẻ góp phần phát triển phẩm chất nhân ái cho các em Hình ảnh: Học sinh vui vẻ, hào hứng khi tham gia các trò chơi học tập trong các tiết học 18 3.7. Biện pháp 7: Tổ chức các hoạt động trải nghiệm, lồng ghép giáo dục STEM vào trong các môn học tạo cơ hội cho các em hình thành phẩm chất nhân ái. Các năng lực phẩm chất học sinh không chỉ được hình thành trong quá trình học tập và rèn luyện mà nó còn được hình thành nhiều qua các hoạt động trải nghiệm trong và ngoài nhà trường. Hoạt động trải nghiệm có thể tổ chức quy mô lớn nhỏ tùy vào thời gian, điều kiện của nhà trường, của từng lớp, từng đối tượng học sinh. Hình ảnh: Học sinh tham gia HĐTN làm thiệp tặng mẹ, bà nhân ngày 20/10; 8/3 19 Ngoài các hoạt động trải nghiệm theo quy mô lớn như tổ chức theo trường, theo khối, tôi thấy các trải nghiệm qui mô nhỏ (theo từng lớp riêng) cũng rất cần thiết và mang lại hiệu quả cao. Bởi vì học sinh chủ yếu hoạt động trên lớp mà tổ chức trải nghiệm cho các em cũng cần có các hoạt động, thực tế, đa dạng, cần được giáo viên tổ chức thường xuyên, liên tục thì mới thành kĩ năng, phẩm chất, kĩ năng sống cho học sinh. Trong các bài học của môn Hoạt động trải nghiệm thường có những phần thực hành, tôi cho các em thực hiện và sử dụng những sản phẩm đó về tặng người thân trong gia đình như làm huy hiệu tặng mẹ, bà nhân ngày 20/10 để giáo dục các em về tình yêu thương, quan tâm người thân, hoặc tổ chức cho các em tặng hoa cho các giáo viên bộ môn trong ngày 20/11 để giáo dục về truyền thống “Tôn sư trọng đạo”. Hay trong các ngày lễ lớn như Ngày thành lập Đoàn TNCS Hồ Chí Minh 26/3, Ngày thành lập Đội TNTP Hồ Chí Minh 15/5, Ngày thương binh liệt sĩ 27/7 tôi tổ chức cho các em những hoạt động ý nghĩa dể giáo dục truyền thống thông qua đó phát triển những phẩm chất và năng lực cho học sinh.
File đính kèm:
mot_so_bien_phap_hinh_thanh_va_phat_trien_pham_chat_nhan_ai.pdf



