Giúp học sinh biết dùng từ đặt câu và bước đầu biết sử dụng hình ảnh nhân hóa, so sánh để đặt câu viết thành đoạn văn ở lớp 3

pdf17 trang | Chia sẻ: Chan Chan | Ngày: 10/02/2026 | Lượt xem: 7 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Giúp học sinh biết dùng từ đặt câu và bước đầu biết sử dụng hình ảnh nhân hóa, so sánh để đặt câu viết thành đoạn văn ở lớp 3, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút TẢI VỀ ở trên
 MỤC LỤC 
TT NỘI DUNG Trang 
 1 Mục lục 1 
 2 I. Phần mở đầu 2 
 3 1. Lý do chọn đề tài/ tên biện pháp 2 
 4 2. Mục đích nghiên cứu 3 
 5 3. Nhiệm vụ nghiên cứu 3 
 6 4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 3 
 7 5. Phương pháp nghiên cứu 3 
 8 II. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 3 
 9 1. Cơ sở lý luận 3 
10 2. Cơ sở thực tiễn 4 
11 2.1. Phân tích, đánh giá thực trạng nội dung của đề tài nghiên 4 
 cứu 
12 2.2. Chỉ ra kết quả đạt được, hạn chế, bất cập và nguyên nhân 5 
13 3. Các biện pháp 6 
14 III. KẾT QUẢ VÀ ỨNG DỤNG 15 
15 1. Kết quả 15 
16 2. Ứng dụng 15 
17 IV. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 16 
18 1. Kết luận 16 
19 2. Kiến nghị 16 
20 V. TÀI LIỆU THAM KHẢO 17 
 I. PHẦN MỞ ĐẦU 
 1. Lý do chọn đề tài/tên biện pháp. 
 Trong các môn học ở tiểu học môn Tiếng Việt là môn học có vị trí hết sức quan 
trọng. Nó cung cấp vốn ngôn ngữ, xây dựng nền tảng kiến thức. 
 Đặc biệt là môn tập làm văn, nó mang tính chất tổng hợp, sáng tạo, thực hành từ 
các phân môn khác của môn Tiếng việt. Tập làm văn ở lớp 3 với mục đích rèn kỹ 
năng phân tích đề, tìm ý, lập dàn ý bài văn, viết đoạn văn, liên kết các câu văn thành 
đoạn văn, tự kiểm tra bài, sửa chữa đoạn văn góp phần phát triển khả năng phân tích, 
tổng hợp, phân loại của học sinh. Tư duy hình tượng của học sinh cũng được rèn 
luyện nhờ vận dụng các biện pháp so sánh, nhân hóa khi viết đoạn văn. 
 Là một giáo viên trực tiếp giảng dạy trên lớp, tôi nhận thấy rằng các em rất ngại 
học phân môn Tập làm văn, nhất là khi làm bài văn viết. Bởi vì kỹ năng viết bài văn 
của các em còn hạn chế nên chất lượng bài viết chưa cao. Thông thường các em 
nhìn thấy cái gì các em nghĩ cái đó theo kiểu liệt kê, chứ không biết chắt lọc các chi 
tiết để quan sát, vốn từ ngữ của các em rất nghèo nàn, việc diễn đạt câu văn, ý văn 
còn nhiều hạn chế. các em không biết làm một đoạn văn hoàn chỉnh, không biết 
dùng từ đặt câu, trong quá trình làm bài văn không biết sử dụng từ, ý câu lan man, 
liệt kê sự việc, lặp từ rất nhiều. 
 Hầu hết các em chưa biết cách sử dụng các biện pháp nghệ thuật như nhân hóa, 
so sánh nên bài văn của các em tuy đủ ý nhưng rất khô khan. 
 Nói tóm lại, khi viết một đoạn văn, học sinh gặp rất nhiều khó khăn. Đứng trước 
một thực trạng như vậy thì bất cứ người giáo viên nào cũng phải băn khoăn lo lắng. 
Đó cũng chính là lí do tôi chọn đề tài “Giúp học sinh biết dùng từ đặt câu và bước 
đầu biết sử dụng hình ảnh nhân hóa, so sánh để đặt câu viết thành đoạn văn ở lớp 
3.” 
 2. Mục đích nghiên cứu 
 Giúp học sinh biết dùng từ đặt câu và bước đầu biết sử dụng hình ảnh nhân 
hóa, so sánh để viết thành đoạn văn. 
 Giúp giáo viên xác định được kĩ năng cần dạy cho học sinh về cách viết đoạn 
văn thông qua việc rèn luyện cho học sinh các kĩ năng như: Quan sát, dùng từ đặt 
câu, xây dựng đoạn văn, viết đoạn văn Giáo viên tự rút ra bài học kinh nghiệm thông qua việc trải nghiệm thực tế trên 
lớp học của mình để tiếp tục dạy tốt hơn cho những dạng văn khác. 
 3. Nhiệm vụ nghiên cứu 
 - Tìm hiểu thực trạng dạy và học phân môn tập làm văn lớp 3 và tìm ra những biện 
pháp tháo gỡ những khó khăn của giáo viên và học sinh. 
 - Đưa ra những giải pháp nhằm tháo gỡ những khó khăn để đạt được kết quả tốt 
trong việc dạy và học phân môn Tập làm văn lớp 3 
 4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 
 Phạm vi áp dụng sáng kiến “Giúp học sinh biết dùng từ, đặt câu và bước đầu 
biết sử dụng hình ảnh nhân hóa,so sánh để đặt câu viết thành đoạn văn ở lớp 3.” 
 Các giải pháp được áp dụng 100% cho học sinh lớp 3. 
 5. Phương pháp nghiên cứu 
 Một số biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học Tập làm văn về cách dùng 
từ đặt câu và sử dụng một số hình ảnh so sán và nhân hóa. 
 + Dạy tích hợp các phân môn trong môn Tiếng Việt. 
 + Hướng dẫn học sinh biết quan sát, biết chọn lựa, chắt lọc hình ảnh. 
 + Hướng dẫn học sinh cách đặt câu, liên kết câu thành đoạn văn. 
 + Hướng dẫn học sinh bước đầu biết dùng từ có hình ảnh so sánh, nhân hóa khi 
đặt câu. 
 II. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 
 1. Cơ sở lý luận 
 Mục tiêu của giáo dục Tiểu học đặt ra là: “ giúp học sinh hình thành những cơ 
sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, phẩm chất, thẩm 
mỹ và các kỹ năng cơ bản để học sinh tiếp tục học trung học cơ sở”. 
 Tập làm văn là một trong những phân môn có vị trí quan trọng của môn Tiếng 
Việt. Phân môn này đòi hỏi học sinh phải vận dụng những kiến thức tổng hợp từ 
nhiều phân môn trong môn Tiếng Việt. Để làm được một bài văn không những học 
sinh phải sử dụng cả bốn kỹ năng: nghe - nói - đọc - viết mà còn phải vận dụng các 
kỹ năng về Tiếng Việt, về cuộc sống thực tiễn. Do đó Tập làm văn là phân môn có 
tính chất tích hợp của các phân môn khác. Qua tiết tập làm văn học sinh có khả năng 
xây dựng một văn bản đó là bài nói, bài viết. Nói và viết là những hình thức giao tiếp 
rất quan trọng, thông qua đó con người thực hiện quá trình tư duy - chiếm lĩnh tri 
thức, trao đổi tư tưởng, tình cảm, quan điểm, giúp mọi người hiểu nhau, cùng hợp 
tác trong cuộc sống lao động. Chính vì vậy hướng dẫn học sinh nói đúng và viết đúng là hết sức cần thiết. Giáo viên đóng vai trò quan trọng trong việc giúp học sinh phát 
triển vốn từ ngữ, có sự hiểu biết về cuộc sống xung quanh. Từ đó hình thành cho các 
em kĩ năng viết tốt nhất. Đặc biệt là giúp học sinh biết dùng từ, đặt câu và bước đầu 
biết sử dụng hình ảnh nhân hóa,so sánh để đặt câu viết thành đoạn văn . 
2. Cơ sở thực tiễn 
2.1. Phân tích, đánh giá thực trạng nội dung của đề tài nghiên cứu: 
 - Dạy tích hợp các phân môn trong môn Tiếng Việt. 
 - Đối với giáo viên, trong quá trình lên lớp bản thân tôi đã có đầu tư nghiên cứu 
yêu cầu cần đạt của tiết dạy để lựa chọn các phương pháp và hình thức tổ chức dạy 
học cho phù hợp nhưng tôi cảm nhận thấy hiệu quả dạy học phân môn tập đọc chưa 
cao. Tôi thường xuyên cho các em luyện đọc mà không dành nhiều thời gian cho 
các em giải nghĩa từ và tìm hiểu nội dung bài. Đối tượng học sinh không đồng đều 
và yêu cầu của tôi đưa ra trong tiết tập học hơi cao so với trình độ học của học sinh. 
Khả năng diễn đạt ngôn ngữ chưa được trau chuốt: tôi còn “ bí từ” khi giảng; kiến 
thức bài còn bó hẹp hoàn toàn trong sách giáo khoa và chỉ biết hướng dẫn học sinh 
những kiến thức có trong sách giáo khoa chưa chú trọng chốt nội dung khi dạy xong 
một tiết học, một chủ đề. 
 - Đối với học sinh: Nhiều học sinh chưa có sự chuẩn bị bài ở nhà do nhiều yếu 
tố như bố mẹ đi làm ăn xa, chưa thật sự quan tâm tới giờ học của con. Một số học 
sinh chưa thật sự chăm chỉ, vốn ngôn ngữ của các em chưa nhiều, các em còn mải 
chơi nhiều hơn học, việc tiếp thu bài còn thụ động. Ngoài ra nhiều học sinh chưa 
phát âm chuẩn nên thường nhầm lẫn nghĩa của từ, dùng từ đặt câu chưa đúng. 
 - Hướng dẫn học sinh biết quan sát, biết chọn lựa, chắt lọc hình ảnh. 
 - Trong quá trình dạy học tôi thường cho học sinh quan sát tranh và hướng dẫn 
học sinh biết quan sát, biết chọn lựa, chắt lọc hình ảnh. Khi cho học sinh quan sát 
tranh về một bài học nào đó thì tôi hướng dẫn học sinh quan sát tranh trong sách giáo 
khoa và trả lời bằng miệng. Sau đó yêu cầu học sinh viết ra những điều mà mình vừa 
quan sát. 
 - Do học sinh chỉ được quan sát tranh trong sách giáo khoa, nên vốn hiểu biết 
của các em có phần hạn chế và hiệu quả của giờ học chưa cao . học sinh chưa được 
rèn kĩ năng nói, kĩ năng viết, đặc biệt là những học sinh yếu, nhiều em còn ngại 
quan sát , ngại đọc, lười suy nghĩ, viết bài cho qua loa, có câu đã đủ ý nhưng chưa 
có hình ảnh. Các từ ngữ được dùng nhưng về nghĩa chưa rõ ràng 
 - Hướng dẫn học sinh cách đặt câu, liên kết câu thành đoạn văn. 
 - Trong quá trình lên lớp tôi đã chú trọng vào việc hướng dẫn học sinh đặt câu 
với những từ ngữ có sẵn trong sách giáo khoa. Thời gian ở các hoạt động phân bố chưa hợp lí nên cá nhân học sinh thực hành đặt câu còn ít. 
 - Phần mở rộng vốn từ, khả năng diễn đạt ngôn ngữ của tôi còn hạn chế, thụ 
động với kiến thức ở sách giáo khoa. Một số học sinh vốn từ còn ít nên việc tìm ý để 
đặt câu, viết đoạn gặp rất nhiều khó khăn. Học sinh chưa biết cách dùng từ, chưa biết 
lựa chọn từ ngữ để liên kết câu. 
 - Hướng dẫn học sinh bước đầu biết dùng từ có hình ảnh so sánh, 
 - Khi dạy phân môn Luyện từ và câu tôi chỉ dừng lại ở lí thuyết và có những 
bài tập để học sinh vận dụng thực hành về từ, câu và đưa ra đáp án bài tập, chứ chưa 
hướng dẫn cách hiểu, cách làm. 
 - Khi dạy học tôi nhận thấy mình còn lúng túng trong việc lựa chọn phương 
pháp dạy học nhằm kích thích được sự hứng thú, say mê học tập của học sinh.Tạo 
cho các em cơ hội học tập, chia sẻ và hợp tác để nắm chắc kiến thức. Bên cạnh đó 
việc đọc tài liệu tham khảo, mở rộng vốn từ của tôi chưa nhiều. Học sinh gặp khó 
khăn khi vận dụng đặt câu, có dùng phép so sánh vì vốn từ còn ít chưa có thói quen 
và biết cách quan sát, nhận xét sự vật, hiện tượng để tìm ra những đặc điểm giống 
nhau. 
2.2. Chỉ ra kết quả đạt được, hạn chế, bất cập và nguyên nhân. 
 Là một giáo viên trực tiếp giảng dạy trên lớp, tôi nhận thấy rằng vốn từ của 
các em chưa phong phú nên các em dùng từ chưa chính xác, sử dụng câu không chọn 
lọc. Cách diễn đạt ý của câu văn rườm rà, lủng củng, lộn xộn, Hầu hết các em chưa 
biết cách sử dụng các biện pháp nghệ thuật như nhân hóa, so sánh nên bài văn của 
các em tuy đủ ý nhưng rất khô khan. Học sinh chưa tự tin trong cách dùng từ, đặt 
câu. Đến tiết Tập làm văn, lớp học trầm.Các em còn thụ động. Một số học sinh còn 
ngại học văn hoặc học tập không hứng thú. 
 Từ những thực trạng đã nêu ở trên, nguyên nhân chính là do: 
 + Do vốn từ của học sinh còn hạn chế. 
 + Hiểu biết về thế giới xung quanh chưa nhiều. 
 Việc dạy tích hợp các phân môn trong Tiếng Việt chưa được quan tâm đúng 
mức. Vì vậy chưa tạo ra được một tiết dạy phong phú, nhẹ nhàng tự nhiên và hiệu 
quả. 
 Qua kháo sát thực tế học sinh “viết một đoạn văn kể về gia đình em” trước 
khi xây dựng biện pháp cho kết quả như sau: ( điểm tối đa phân môn Tập làm 
văn là 6 điểm). 
 KẾT QUẢ 
NĂM TS 
 THỜI 6 5 4 Dưới 3 
HỌC HS 
 GIAN TS % TS % TS % TS % 
 Đầu 32,4% 
 44,1% 
 năm 2 5,9% 6 17,6% 11 15 
 HK I 
 2021- 
 HK II 
 2022 34 
 (cả 
 năm) 
 Dựa vào kết quả khảo sát, tôi thực sự ngạc nhiên: chỉ có 5,9 % học sinh biết 
 viết cách dùng từ, liên kết câu để viết được đoạn văn, 17,6% học sinh viết được đoạn 
 văn nhưng câu văn sơ sài, lạc đề. Còn 32,4% chưa biết cách dùng từ để liên kết câu 
 dẫn đến câu văn lủng củng, chưa đúng với yêu cầu của đề bài. Còn lại 44,1% học 
 sinh chưa biết cách dùng từ đặt câu trong đoạn. 
 3. Các biện pháp 
 Giải pháp 1: Dạy tích hợp các phân môn trong môn Tiếng Việt để làm giàu 
 vốn từ 
 Khi dạy phân môn tập đọc, tôi tập trung vào việc học sinh đọc bài tốt, lưu loát 
 sau đó hướng đến việc cảm thụ văn bản qua việc trả lời hệ thống câu hỏi tìm hiểu 
 nội dung bài. Tôi thường hướng dẫn học sinh đọc nhấn giọng các từ gợi tả, gợi cảm, 
 đồng thời giải nghĩa từ đối với các từ học sinh chưa hiểu. Tôi kết hợp cho các em 
 tập đặt câu với các từ đó, nếu thời gian cho phép. Bên cạnh đó tôi thường sử dụng 
 công nghệ thông tin với hình ảnh minh họa, sinh động, hấp dẫn để gây sự hứng thú 
 cho học sinh, giúp các em tích cực hơn trong việc tham gia tìm hiểu nội dung bài 
 thông qua các hình ảnh đó. 
 Khi dạy phân môn luyện từ và câu, tôi đã cung cấp làm giàu vốn từ cho học 
 sinh thông qua các dạng bài tập của bài dạy. Mở rộng vốn từ ở các chủ điểm, nhất 
 là những từ ngữ có tác dụng tả hoặc kể. Về cách dạy loại bài tập tìm từ cùng chủ điểm, tôi chú ý đến từ mẫu, đó là điểm tựa có tác dụng gợi ý định hướng cho học 
sinh trong quá trình tìm từ. Đồng thời hướng dẫn cho các em xác định đúng yêu câu 
của bài tập. 
 Ví dụ 1: Khi viết về chủ điểm Thành thị, nông thôn tôi cung cấp cho học sinh 
những từ khóa sau: 
 + Từ ngữ nói về thành thị: nhà cao tầng, đường phố, xe cộ , siêu thị, nhà ga, 
công viên, sân bay, ; những từ ngữ gợi tả, gợi cảm ( nhộn nhịp, đông đúc, nườm 
nượp, lấp lánh, rực rỡ, ) 
 + Từ ngữ nói về nông thôn: cánh đồng, đường làng, bãi ngô, dòng sông, con 
đò hay rừng cao su, đường đất đỏ, vườn cây ăn trái, trang trại chăn nuôi, ; những 
từ ngữ gợi tả, gợi cảm( uốn khúc, quanh co, bát ngát, xanh tươi, trĩu quả, bạt ngàn, 
 Trên cơ sở các từ khóa trên, tôi hướng dẫn học sinh viết câu cho đủ ý, sắp 
xếp thành đoạn văn phù hợp với nội dung các em muốn kể về thành thị hay nông 
thôn. 
 Giải pháp 2: Hướng dẫn học sinh quan sát, biết chọn lựa, chắt lọc hình 
ảnh trong thực tế và khai thác nguồn liệu từ công nghệ thông tin. 
 Khi muốn viết được đoạn văn hay, để người đọc có cảm tình với mình thì 
cần tổ chức tốt quá trình quan sát thực tế của học sinh những nội dung hình ảnh liên 
quan đến nội dung bài viết. Khi quan sát tranh, trả lời câu hỏi, học sinh có thể ghi 
chép một số hình ảnh so sánh hoặc nhân hóa vào vở. Tôi không thuyết giảng mà gợi 
mở tạo điều kiện cho học sinh phát huy độc lập suy nghĩ, làm việc, tự mình học được 
cách nghĩ, cách làm, cách nói, cách viết riêng của mình. Khi quan sát tôi hướng cho 
học sinh lựa chọn các chi tiết cụ thể nhưng không phải là các chi tiết rời rạc, tản mạn 
mang tính liệt kê, chi tiết không cần nhiều mà phải chọn lọc, phải lột tả được cái thần 
của người và vật. Khi quan sát, yêu cầu học sinh sử dụng nhiều giác quan như thị 
giác, thính giác, khứu giác và cả xúc giác để lựa chọn được những chi tiết hay để vận 
dụng vào viết đoạn văn. Ngoài ra, tôi tích cực khai thác học liệu điện tử trong quá 
trình dạy học như phần mềm OLM, học 10.com 
 Ví dụ : Quan sát tranh tả về cảnh đẹp đất nước. 
 Tôi cho học sinh quan sát tranh: Tả cảnh biển ở Phan Thiết: 
 * Gợi ý, học sinh quan sát tranh, dựa vào gợi ý đặt câu. 
 + Học sinh đặt câu: Nước biển xanh ngắt. 
 + Học sinh khác nhận xét về ý và lời: Bạn đặt câu đã đủ ý, nhưng hình ảnh 
chưa sinh động. Theo em: Nước biển trong xanh như ai pha mực. 
 + Học sinh khác đặt câu: Nước biển trong xanh với những con sóng bạc đầu 
trắng xóa. 
 Câu văn của bạn ý đã chặt chẽ chưa? Em sửa lại câu văn cho bạn như thế 
nào? (nếu bạn đặt câu còn lan man, lủng củng). Sau đó tôi đã sữa rất kĩ cho từng 
em. Khi đến tiết tập làm văn viết, các em viết bài rất tốt. Ví dụ: Khi dạy bài: Tả về lễ hội. 
 Tôi cho học sinh quan sát tranh: Lễ hội đua thuyền: 
 *Cho học sinh thảo luận nhóm, học sinh tự đặt câu, học sinh khác sửa cho 
bạn. Tôi theo dõi giúp đỡ các nhóm khi học sinh còn thắc mắc. 
 Ví dụ: Nhóm 1 
 + Học sinh đặt câu: Những chiếc thuyền chứa nhiều người chuẩn bị tham 
gia thi đấu. 
 + Học sinh khác nhận xét về ý và lời: Những chiếc thuyền chứa nhiều 
người chuẩn bị tham gia thi đấu. 
 Dùng từ “chứa nhiều người” chưa được hay, học sinh khác sửa cho bạn: 
Trên mỗi chiếc thuyền khoảng mười vận động viên chuẩn bị tham gia thi đấu. + Học sinh khác đặt câu: Hai bên bờ, mọi người tham gia rất đông, nét mặt 
ai cũng vui vẻ rạng ngời. Cây cối như muốn hò reo cùng khán giả. 
 Qua đó, tôi nhận thấy nhiều học sinh đã chủ động hơn trong việc dùng từ đặt 
câu. Nhiều học sinh đã sử dụng từ ngữ hay, biết viết câu hoàn chỉnh và có ý nghĩa 
hơn. 
 Giải pháp 3: Hướng dẫn học sinh bước đầu biết dùng từ có hình ảnh so 
sánh, nhân hóa vào đoạn văn. 
 Để học sinh học tốt môn Tiếng Việt đặc biệt là phân môn Luyện từ và câu, 
dạng bài so sánh ,nhân hóa học sinh cần nắm và làm theo các yêu cầu. Tôi cho học 
sinh nắm kĩ các cách so sánh, nhân hóa thông qua các ví dụ cụ thể trong sách giáo 
khoa, sau đó mở rộng thêm bằng cách cho các em luyện đặt câu có hình ảnh so sánh, 
nhân hóa. Học sinh phải xác định đúng yêu cầu của bài sau đó mới làm bài. 
 - Muốn học sinh của mình có một kỹ năng nhận biết biện pháp so sánh tốt thì 
học sinh cần nắm được các kiểu so sánh: 
 Có hai kiểu so sánh: So sánh ngang bằng và so sánh không ngang bằng 
 + Ví dụ so sánh ngang bằng: Ông mặt trời như quả cầu lửa khổng lồ. 
 + Ví dụ so sánh không ngang bằng: Tình yêu thương của cha mẹ hơn cả 
mọi thứ trên đời. 
 - Từ tuần 19, các em bắt đầu làm quen với các kiểu nhân hóa: 
 Cách 1: Gọi vật như gọi người: 
 VD: Bác gà trống trông thật oai vệ. 
 Cách 2- Tả vật như tả người (tả hình dáng, tâm trạng, ngoại hình, tính cách) VD: Chú ếch con ngồi học bài bên bờ sông Cách 3 - Nói với vật như nói với 
người Vd: Chị gió ơi, mau về đây! 
 Qua từng bài tập từng cách so sánh, nhân hóa, giáo viên hướng dẫn các em 
luyện tập đặt câu có sử dụng các biện pháp so sánh, nhân hóa để các em vận dụng 
khi viết đoạn văn. 
 Khi viết đoạn văn, tôi khuyến khích các em sử dụng biện pháp so sánh và 
nhân hóa trong bài thì bài văn mới trở nên sinh động, tạo được sự thích thú cho 
người đọc. Khi hướng dẫn làm bài, tôi hướng dẫn các em phải sử dụng biện pháp 
đó vào thời điểm nào thì thích hợp.. 
 Ví dụ bài: “Kể một buổi biểu diễn nghệ thuật” nên lồng nhân hóa vào thời 
gian. 
 VD: Khi ông mặt trời vừa đi ngủ, em cùng các bạn đến sân trường để đón 
xem buôi xem buổi biểu diễn văn nghệ. ( Trang 16) 
 Ví dụ bài: “Kể lại buổi đầu đi học” sử dụng các biện pháp so sánh, nhân hóa 
vào các sự vật như cây cối, lá cờ. VD: Hàng cây hai bên đường dang tay chào đón 
em đến trường. Bác cổng trường hiền từ mỉm cười với em. Cờ đỏ sao vàng reo vui 
trong gió. 
 Ví dụ bài: “Kể về trận thi đầu thể thao” Vũ Thị Hương lao về phía trước 
như một mũi tên, bỏ xa các vận động viên khác giành tấm huy chương bạc. Cờ 
đỏ sao vàng tung bay trong gió chào đón chị. Chị đã đem lại vinh quang cho Tổ 
quốc 
 - Vì so sánh và nhân hoá giữ một vai trò quan trọng trong việc biểu đạt đặc 
điểm, thuộc tính của đối tượng miêu tả. Chúng tạo nên bức tranh sinh động với 
những gam màu ấn tượng bằng ngôn ngữ trong miêu tả. Vì vậy nên tôi hướng dẫn và khuyến khích học sinh có thói quen sử dụng hình ảnh so sánh, hình ảnh nhân 
hóa trong viết văn. Đó cũng là tiền đề để các em lên lớp trên làm bài văn hoàn chỉnh. 
 Ví dụ: Buổi sáng, em đến trường, lúc này ông mặt trời chiếu những tia nắng 
dịu dàng xuống mặt đất. Các bạn có mặt đầy đủ, nét mặt ai cũng hớn hở vui vẻ. 
Sau khi được cô phân công nhiệm vụ. Các bạn vui vẻ dọn vệ sinh lớp học. Vừa 
làm chúng em vừa chuyện trò như bầy chim non ríu rít. Mới thoáng lớp học đã 
sạch sẽ. 
 Giải pháp 4: Hướng dẫn học sinh cách đặt câu, viết câu đủ ý, liên kết 
câu thành đoạn văn. 
 Để có đoạn văn hay, trước hết các em phải viết được câu đủ ý, sắp thành đoạn 
văn một cách hợp lí, lô-gic. Vì vậy, sau mỗi lần học sinh đặt câu (cả nói và viết) tôi 
đều lưu ý kiểm tra học sinh và xác định xem trong câu vừa đặt câu đã đủ nghĩa 
chưa? Nội dung câu văn ấy thông báo điều gì? 
 Đối với học sinh chưa hoàn thành, giáo viên gợi ý để cho học sinh biết đặt 
câu đơn bình thường đơn giản, rồi dần nâng lên mức cao hơn. 
 Ví dụ: Đặt câu với từ: quê hương 
 Học sinh có thể chọn và đặt được câu như sau: 
 a. Quê hương em rất giàu đẹp. 
 b. Quê hương em với những rừng cao su bạt ngàn. 
 c. Quê hương em có đồi núi trùng điệp. 
 Tôi hướng dẫn các em nhận xét về cách dùng từ đặt câu đã đủ ý, câu văn 
đã có nghĩa chưa? Tôi còn cho học sinh bình chọn câu văn hay và cho học sinh giải 
thích: Tại sao em lại cho câu văn ấy là hay. Đồng thời tôi động viên khích lệ và 
khuyến khích các em viết được, nói được những câu văn hay như thế một cách thường xuyên. 
 Sau khi sửa cách dùng từ đặt câu, tôi hướng dẫn các em sắp xếp các câu 
văn thành đoạn. Cách sử dụng từ ngữ liên kết câu có tác dụng liên kết lô-gíc. Nó 
mang lại sự mạch lạc, chặt chẽ cho đoạn. Trên cơ sở câu hỏi gợi ý để hướng dẫn 
học sinh viết đoạn văn theo từng bài tập, từng chủ điểm trong sách SGK Tiếng 
Việt, tôi tổ chức cho học sinh nắm bài và có kĩ năng sử dụng phép liên kết câu 
một cách tốt nhất, đạt hiệu quả. 
 Ví dụ: Khi viết đoạn văn kể về buổi đầu đi học 
 - Tôi hướng dẫn học sinh viết đoạn văn như sau: ( sử dụng liên kết câu theo 
trình tự thời gian và không gian) 
 Cách đây đã hơn 2 năm nhưng em không thể nào quên buổi đầu tiên đi học 
của mình, Đó là một buổi sáng trời thu trong xanh. Mẹ thức em dậy thật sớm. Mẹ 
chuẩn bị cho em một cặp sách mới có đủ sách vở và dụng cụ học tập. Ăn sáng 
xong, em mặc bộ quần áo đồng phục thật đẹp. Bố chở em đến trường. Trên đường 
đến trường, em thấy rất nhiều bạn cũng được ba mẹ chở đi học với những nét mặt 
rạng ngời. Hai bên đường, cây cối như cùng hòa reo với niềm vui của chúng em. 
 Sau đây là một số bài văn mà học sinh lớp tôi đã sử dụng hình ảnh so ánh, 
nhân hóa. 
 III. KẾT QUẢ VÀ ỨNG DỤNG 
 1. Kết quả (chính là hiệu quả của biện pháp – có sự so sánh kết quả của 
 đầu năm và cuối năm) 
 Qua quá trình áp dụng vào thực tiễn, tôi nhận thấy rằng so với trước đây học 
 sinh học tự giác hơn, tích cực hơn, các em tỏ rõ sự mạnh dạn, tự tin. Tiết học trở 
 nên nhẹ nhàng, sôi nổi, học sinh duy trì hào hứng và yêu thích khi học Tập làm 
 văn. 
 Cụ thể, kết quả phân môn Tập làm văn của lớp tôi chủ nhiệm của hai năm 
 gần đây như sau: ( điểm tối đa phân môn Tập làm văn là 6 điểm). 
 Bảng số liệu so sánh tỉ lệ các mức độ khi chưa áp dụng và sau khi áp dụng giải 
 pháp 
 KẾT QUẢ 
NĂM TS 
 THỜI 6 5 4 Dưới 3 
 T T
HỌC HS TS % TS % % % 
 GIAN S S 
 Đầu 
 17,6 44,1
 2 5,9% 6 15 11 32,4% 
 năm % % 
 20,6 32,4 41,2
 HK I 7 11 14 2 5,8% 
 % % % 
 2021- HK II 
 34 
 2022 (cả 14 41,2% 16 47% 4 11,8 0 0 
 năm) 
 2. Ứng dụng : Phạm vi áp dụng sáng kiến “Giúp học sinh biết dùng từ, 
 đặt câu và bước đầu biết sử dụng hình ảnh nhân hóa,so sánh để đặt câu viết 
 thành đoạn văn ở lớp 3.” 
 Các giải pháp được áp dụng 100% cho học sinh lớp 3. IV. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 
 1. Kết luận: Để giúp học sinh tích cực học môn Tập làm văn chúng ta cần: 
 Dạy học Tập làm văn theo phương pháp tích hợp các phân môn trong môn 
Tiếng Việt; Biết kết hợp mối quan hệ chặt chẽ về yêu cầu kiến thức phân môn Tập 
làm văn của các khối lớp. 
 Trong giảng dạy giáo viên có đầu tư nghiên cứu sâu, phối hợp tổ chức linh 
hoạt các hình thức và phương pháp dạy học theo hướng đổi mới. 
 Giáo viên có ý thức tự học tự rèn; tham khảo các tài liệu, tạp chí, văn bản có 
liên quan đến chuyên môn và các dạng bài khó. 
 Giáo viên dành thời gian bồi dưỡng và phụ đạo cho học sinh môn Tiếng Việt. 
 Động viên, khuyến khích học sinh tự học, tự tìm tòi; tận tâm sửa chữa sai sót 
cho học sinh, hướng dẫn học sinh ghi chép vào sổ tay vở nháp. 
 Học sinh có thói quen đọc sách báo, truyện phù hợp lứa tuổi, tập ghi chép sổ 
tay những từ ngữ, câu văn hay các em đọc được. 
 Học sinh tự tin, mạnh dạn phát biểu trong các hoạt động học tập, có kĩ năng 
trong giao tiếp ứng xử. Đề tài là cơ sở để giáo viên nghiên cứu và thực hiện trong 
giảng dạy phân môn Tập làm văn. Giúp giáo viên từng lúc san bằng trình độ học sinh 
trong lớp học; giúp học sinh tự tin hơn trong học tập, trong giao tiếp để các em hoàn 
thành nhiệm vụ học tập và tiếp tục học tập ở các lớp cao hơn. Đây là cơ sở làm nền 
tảng cho các em học tốt phân môn Tập làm văn ở các lớp cuối cấp Tiểu học 
 Dưới sự tổ chức và hướng dẫn của giáo viên, học sinh tự giác học tập, tự chiếm 
lĩnh kiến thức mới. Vận dụng kiến thức cũ để chiếm lĩnh kiến thức mới. Với sự gần 
gũi nhiệt tình của giáo viên, học sinh sẽ yêu trường, yêu lớp hăng say học tập. Từ đó 
chất lượng dạy và học được nâng cao góp phần xây dựng một nền giáo dục thân thiện 
và hiệu quả. 
 2. Kiến nghị 
 Đối với giáo viên: Trong quá trình dạy học nói chung và dạy học môn Tiếng 
việt ở Tiểu học nói riêng, giáo viên cần có ý thức nghiên cứu, tìm hiểu, vận dụng 
nhiều biện pháp, thủ thuật để nâng cao hiệu quả học tập cho học sinh. 
 Đối với Tổ chuyên môn của nhà trường cần có các buổi sinh hoạt chuyên môn 
có chất lượng để giáo viên có thể học hỏi, trao đổi kinh nghiệm, nâng cao trình độ 
chuyên môn nghiệp vụ. 
 Trên đây là một kinh nghiệm nhỏ mà tôi đã thử nghiệm thành công tại đơn vị 
để góp phần nâng cao chất lượng dạy “Giúp học sinh biết dùng từ, đặt câu và bước 
đầu biết sử dụng hình ảnh nhân hóa,so sánh để đặt câu viết thành đoạn văn ở lớp 
3.” Rất mong ý kiến đóng góp của các đồng nghiệp để tôi tiếp tục hoàn thiện bản 
thân và giảng dạy tốt hơn nữa trong những năm tiếp theo. Xin chân thành cảm ơn. 
 V. TÀI LIỆU THAM KHẢO 
1. Sách giáo khoa - sách giáo viên Tiếng Việt lớp 2, 3, 4, 5 chương trình cải cách 
Giáo Dục. 
2. Phương pháp dạy học Tiếng Việt - Lê Phương Nga - NXB Giáo Dục Hà Nội 
năm 2001. 
3. Phương pháp dạy học Tiếng Việt - Lê Phương Nga, Nguyễn Trí - NXB Giáo 
Dục năm 1999 (Tập I và tập II). 
4. Dạy và học môn Tiếng Việt ở Tiểu học theo chương trình 2000 - Nguyễn Trí - 
NXB Giáo Dục năm 2002. 
 NGƯỜI VIẾT 
 (kí và ghi rõ họ tên 
 Hoàng Thị Ngân 

File đính kèm:

  • pdfgiup_hoc_sinh_biet_dung_tu_dat_cau_va_buoc_dau_biet_su_dung.pdf