Phát huy tính tích cực, tự giác học tập và rèn luyện của học sinh lớp 4
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Phát huy tính tích cực, tự giác học tập và rèn luyện của học sinh lớp 4, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút TẢI VỀ ở trên
MỤC LỤC Trang I. PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lí do chọn đề tài .......................................................................................... 2 2. Mục đích nghiêm cứu .................................................................................. 2 3. Nhiệm vụ nghiên cứu .................................................................................. 3 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ............................................................... 3 5. Phương pháp nghiên cứu ............................................................................ 3 II. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU .................................................................... 3 1. Cơ sở lí luận ................................................................................................ 3 2. Cơ sở thực tiễn ............................................................................................ 4 2.1. Thực trạng của học sinh ........................................................................... 4 2.2. Nguyên nhân của thực trạng .................................................................... 5 3. Các biện pháp .............................................................................................. 6 3.1. Tổ chức dạy học theo hướng phát triển năng lực của học sinh ............... 6 3.2. Phân loại nhóm học sinh và có biện pháp bồi dưỡng học sinh chưa tích cực, tự giác học tập và rèn luyện. ............................................................. 7 3.3. Động viên học sinh tích cực tham gia hoạt động trải nghiệm ................. 9 3.4. Nâng cao hiệu quả tổ chức các hoạt động ngoại khóa ............................. 15 3.5. Tổ chức đánh giá, bình bầu thi đua .......................................................... 15 3.6. Tăng cường sử dụng công nghệ thông tin trong dạy học và tăng cường phối hợp với phụ huynh trong công tác chủ nhiệm lớp .................................. 16 III. KẾT QUẢ VÀ ỨNG DỤNG .................................................................. 17 IV. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ................................................................ 20 TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 21 1 I. PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lí do lựa chọn đề tài Giáo dục là nền tảng của xã hội, là cơ sở tiền đề để quyết định sự phát triển của đất nước. Giáo dục không chỉ cung cấp cho học sinh những hiểu biết về kho tàng tri thức mà còn giúp cho các em những hiểu biết cơ bản cần thiết về khoa học và cuộc sống. Mặt khác giáo dục còn góp phần hình thành và bồi dưỡng nhân cách tốt đẹp cho học sinh. Vì vậy, giáo dục hiện nay đòi hỏi học sinh phải là người tự tìm tòi, tự khám phá và làm chủ được kiến thức. Không chỉ vậy, học sinh còn cần biết tự vận dụng hiệu quả kiến thức được học vào thực tế đời sống. Vậy để giáo dục có hiệu quả và đạt chất lượng cao, trong quá trình làm công tác chủ nhiệm chúng ta cần biết lựa chọn phương pháp, hình thức tổ chức hoạt động giáo dục tối ưu nhất, phù hợp với mục tiêu và nội dung của hoạt động giáo dục. Song để đi đến thành công giáo dục đòi hỏi cả người dạy và người học phải không ngừng nổ lực phấn đấu, sáng tạo, đổi mới phương pháp tổ chức hoạt động giáo dục, đầu tư thích đáng vào công việc của mình để “Phát huy tính tích cực, tự giác học tập và rèn luyện của người học”. Nhìn lại việc học của một bộ phận học sinh hiện nay, chúng ta thấy nhận thức của các em còn nhiều hạn chế, ý thức tự học, tự rèn luyện chưa cao. Các em chưa xác định được tầm quan trọng của việc tự học nên chưa chủ động, tự giác, không ham học. Vì vậy tôi đã lựa chọn nghiên cứu biện pháp: “Phát huy tính tích cực, tự giác học tập và rèn luyện của học sinh lớp 4”. 2. Mục đích nghiên cứu - Nghiên cứu để đưa ra các biện pháp nhằm phát huy tính tích cực, tự giác học tập và rèn luyện của học sinh, góp phần nâng cao nghiệp vụ công tác chủ nhiệm của mình. Đổi mới phương pháp tổ chức các hoạt động ở lớp, nâng cao khả năng sáng tạo cho học sinh đồng thời giúp nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho lớp. 2 3. Nhiện vụ nghiên cứu - Nghiên cứu thực trạng của tính tích cực, tự giác học tập và rèn luyện của học sinh để phân tích đánh giá và làm rõ nguyên nhân, khó khăn, lí giải những vấn đề thực tiễn nâng cao tính tích cực, tự giác học tập và rèn luyện cho học sinh. - Đề xuất một số các biện pháp để nâng cao tính tích cực, tự giác học tập và rèn luyện của học sinh. 4. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu - Đối tượng nghiên cứu: Tính tích cực, tự giác học tập và rèn luyện của học sinh lớp chủ nhiệm. - Phạm vi nghiên cứu: Học sinh lớp 4A4 trường Tiểu học nơi tôi đang công tác. 5. Phương pháp nghiên cứu - Phương pháp điều tra. - Phương pháp thực nghiệm. - Phương pháp đàm thoại. - Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động. - Phương pháp quan sát – trực quan - Phương pháp thống kê, tính toán. II. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 1. Cơ sở lý luận Tính tích cực, tự giác học tập và rèn luyện của học sinh là sự ý thức tự giác của học sinh về mục đích học, thông qua đó học sinh huy động ở mức độ cao các chức năng tâm lý để giải quyết các nhiệm vụ học tập có hiệu quả. Trong các hoạt động giáo dục phát huy tính tích cực, tự giác giúp học sinh lĩnh hội kiến thức đồng thời còn giúp học sinh phát triển những kĩ năng học tập của mình. 3 Phát huy tính tích cực, tự giác học tập và rèn luyện của học sinh là một phương diện cơ bản của lý luận đổi mới dạy học. Đây là nguyên tắc dạy học xuyên suốt, làm cơ sở cho việc tổ chức các hoạt động dạy học cũng như huy động phương pháp, biện pháp dạy học. Mặt khác trong hoạt động dạy học, tính tích cực học tập không chỉ tồn tại như một trạng thái, một điều kiện mà nó còn là kết quả của hoạt động học tập, là mục đích của quá trình dạy học. 2. Cơ sở thực tiễn 2.1. Thực trạng của tính tích cực, tự giác học tập và rèn luyện của học sinh. Ngay từ đầu năm học 2022 – 2023, tôi đã chủ động quan sát học sinh khi các em tham gia các hoạt động giáo dục và đồng thời khảo sát bằng phiếu hỏi và thu được kết quả như sau: Số lượng Đầu năm học sinh Đạt Nội dung khảo sát được khảo SL Tỉ lệ % sát Có góc học tập ở nhà 20/34 58,8 Có thói quen tự học ở nhà 17/34 50,0 Chuẩn bị đầy đủ đồ dùng học tập khi lên lớp 29/34 85,3 Có tinh thần và thường xuyên phát biểu xây 22/34 64,7 dựng bài Tích cực, tự giác hoàn thành công việc được 23/34 67,6 nhóm giao đúng hẹn Chủ động thực hiện các nhiệm vụ học tập 25/34 73,5 34 Mạnh dạn khi tham gia các hoạt động chung 23/34 67,6 4 của lớp, trường Nhiệt tình trong các hoạt động chung của 20/34 58,8 lớp, trường Mạnh dạn trong giao tiếp với thầy cô giáo 21/34 61,8 Có kĩ năng hoạt động nhóm 20/34 58,8 Tự tin trong giao tiếp ứng xử với các bạn 25/34 73,5 trong lớp Qua khảo sát có thể thấy thói quen tự học ở nhà là của học sinh chưa cao. Các em còn nhút nhát, chưa mạnh dạn giơ tay phát biểu cũng như tham gia vào các hoạt động chung của trường, của lớp. Một số em kĩ năng giao tiếp còn chưa tốt. 2.2. Nguyên nhân của thực trạng Qua tìm hiểu tôi thấy do các em còn nhỏ nên về ý thức tự giác là chưa cao. Bên cạnh đó sự quan tâm của gia đình đến việc học tập và rèn luyện của các em là chưa đáng kể, hầu như đều giao phó cho thầy cô giáo trong nhà trường. Khi tham gia các hoạt động giáo dục các em thường rất bị động, hầu như chỉ làm theo những yêu cầu của giáo viên chủ nhiệm. Bên cạnh đó một số em còn mải chơi, không chú tâm vào nhiệm vụ của mình nên thường xuyên không chuẩn bị bài trước khi đến lớp, hay làm việc riêng trong giờ. Ngoài ra một số em chưa chủ động tham gia hoạt động nhóm, khả năng hợp tác, chia sẻ còn hạn chế. Từ những nguyên nhân trên dẫn đến chất lượng học tập và rèn luyện của các em chưa cao. Đó cũng là một vấn đề tôi trăn trở cvà luôn tìm cách khắc phục. Vì vậy, tôi đã mạnh dạn đưa ra một số biện pháp như sau: 5 3. Các biện pháp 3.1. Tổ chức dạy học theo hướng phát triển năng lực của học sinh Trong quá trình tổ chức các hoạt động học tập tôi tăng cường việc học tập trong nhóm tạo cơ hội cho học sinh học tập theo hướng cộng tác phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động của học sinh, hình thành và phát triển năng lực tự học (sử dụng sách giáo khoa, nghe, ghi chép, tìm kiếm thông tin,...), trên cơ sở đó trau dồi các kĩ năng độc lập, sáng tạo của người học. Để phát huy tính tích cực, tự giác của học sinh tôi thường tổ chức cho học sinh tham gia các hoạt động học tập trải nghiệm. Trong tiết học đó, giáo viên là người hướng dẫn, giao nhiệm vụ còn học sinh sẽ lên kế hoạch và cùng thực hiện. Ảnh: Học sinh làm thí nghiệm để khám phá kiến thức. Với cách làm trên học sinh lớp tôi không còn thụ động chỉ biết lắng nghe và quan sát giáo viên thực hiện mà các em được tự mình khám phá ra kiến thức, được thực hành và tham gia thảo luận, chia sẻ cùng nhau. Điều này giúp các em tập trung hơn, hứng thú hơn và rèn khả năng kết nối tương tác cùng nhau. Chính vì vậy sẽ giúp học sinh ghi nhớ và nắm chắc kiến thức. Và qua nhiều giờ học như vậy sẽ giúp các em có thói quen tự học tốt hơn. 6 Để tăng cường học tập cộng tác tôi chuyển dần quy mô lớp học sang quy mô nhóm để tích cực hóa học sinh và tăng khả năng tương tác hỗ trợ giúp đỡ nhau trong tiếp thu chiếm lĩnh kiến thức tùy theo đặc điểm tình hình mà học sinh lựa chọn nhóm cho phù hợp như nhóm: nhóm cùng sở thích, nhóm cùng năng lực trình độ, 3.2. Phân loại nhóm học sinh và có biện pháp bồi dưỡng học sinh chưa tích cực, tự giác học tập và rèn luyện. Từ đầu năm học tôi đã điều tra, quan sát, khảo sát để nắm được mức độ nhận thức của từng học sinh. Từ đó, tìm hiểu và phân loại học sinh vào từng nhóm và đưa ra từng biện pháp phù hợp. Tôi đã chia thành các nhóm như sau: 3.2.1. Nhóm học sinh có năng lực tự chủ và tự học, giao tiếp và hợp tác, giải quyết vấn đề và sáng tạo tốt Học sinh ở nhóm này các em đều mạnh dạn, tự tin, hăng hái giơ tay phát biểu cũng như tích cực trong tất cả các hoạt động. Đối với nhóm học sinh này trong mọi hoạt động học tập và rèn luyện tôi luôn tạo cơ hội để các em được phát huy hết những năng lực, khả năng của mình. Tôi cũng thường xuyên động viên khích lệ, nêu gương để các học sinh khác trong lớp học tập và noi theo. Trong các tiết sinh hoạt lớp những em có nhiều cố gắng trong tháng sẽ được khích lệ bằng hình thức: nhận huy hiệu, viết thư khen, . Ảnh: Trao thư khen khích lệ học sinh 7 3.2.2. Nhóm học sinh có năng lực tự chủ và tự học, giao tiếp và hợp tác, giải quyết vấn đề và sáng tạo hạn chế Với nhóm học sinh này đa số các em đều cảm thấy rất ngại giao tiếp với mọi người, hay thụ động tự ti và thu mình lại ít giao tiếp với bạn và thầy cô. Trong các giờ học, các em cũng rất ít khi giơ tay phát biểu mặc dù câu hỏi đó các em biết trả lời. Các em có ít bạn, không chủ động tham gia trò chơi với các bạn trong lớp. Với những trường hợp như vậy thì tôi tiến hành tìm hiểu lý do qua bạn bè hoặc qua người thân của các em. Khi đã tìm hiểu được lý do rồi thì tôi sẽ tăng cường giúp đỡ, gần gũi, động viên các em sống hoà đồng cùng bạn bè. Và cũng động viên tất cả học sinh trong lớp thường xuyên quan tâm, tôn trọng người bạn của mình, biết chia sẻ với bạn của mình. Khuyến khích các em luôn tự tin, thể hiện bản thân mình mọi lúc mọi nơi, trong mỗi tiết học cũng như các giờ ra chơi, mạnh dạn trao đổi ý kiến của mình cùng các bạn. Ngoài ra tôi tăng cường trao đổi tìm hiểu và phát huy điểm mạnh của các em. Tôi thiết nghĩ mình phải luôn là người "bạn" thân, phải thường xuyên động viên cổ vũ tinh thần các em. Bên cạnh đó sắp xếp chỗ ngồi cũng rất quan trọng. Đối với những học sinh như vậy cần xếp em ngồi cùng với nhóm những học sinh năng động, hòa đồng. 3.2.3 Nhóm học sinh hạn chế về thể chất Nhóm này là các học sinh có sức khoẻ quá yếu, hay ốm đau nên viêc tham gia học tập, rèn luyện còn nhiều hạn chế. Chính vì lẽ đó mà năng lực của các em còn chưa cao. Đối với những học sinh nhóm này tôi theo dõi học sinh đi học hàng ngày để biết được sĩ số cụ thể từng ngày. Nếu học sinh bị ốm nghỉ trong hai ngày trở lên thì giờ ra chơi tôi ở lại cùng em đó hướng dẫn cho em các kiến thức mà em chưa theo kịp. Đồng thời tôi cũng phân công học sinh học tốt kèm cặp giúp đỡ bằng cách hướng dẫn bạn làm bài trong thời gian bạn nghỉ 8 ốm. Bên cạnh đó là gặp gỡ trao đổi với gia đình để phụ huynh giúp đỡ các em thêm về kiến thức cũng như bồi dưỡng sức khoẻ cho các em. Ảnh: Học sinh hỗ trợ bạn trong tiết học 3.3. Động viên học sinh tích cực tham gia hoạt động trải nghiệm Xây dựng và tổ chức các hoạt động trải nghiệm theo nhóm lớp. Thông qua hoạt động trải nghiệm, học sinh nắm được kiến thức, kĩ năng để giải quyết vấn đề. Tổ chức học tập trải nghiệm có nhiệm vụ cá nhân, có nhiệm vụ phải hợp tác theo nhóm để cùng bàn bạc, trao đổi, thống nhất, ra quyết định. Điều đó tạo cơ hội để học sinh phát triển các kĩ năng như: làm việc theo nhóm, kĩ năng lắng nghe, thu thập xử lí thông tin, kĩ năng ra quyết định, Đồng thời xây dựng niềm tin giữa học sinh và giáo viên. Qua hoạt động trải nghiệm học sinh sẽ có được ý thức tự giác, tích cực trong học tập và rèn luyện tốt hơn. Ngay từ đầu năm học, tôi hướng dẫn cho học sinh biết cách xây dựng các nội quy của lớp và hình thành cho các em kĩ năng cơ bản như: tổ chức, làm việc theo nhóm, cách ghi chép, Một số hình thức học tập trải nghiệm cơ bản: Hoạt động tổ chức thảo luận 9 Đây là hình thức tổ chức dạy học trải nghiệm thiết thực và dễ thực hiện nhất. Có thể diễn ra trong phạm vi trong lớp học. Học sinh cùng nhau thảo luận để tìm ra những nguyên nhân và giải pháp chủ đạo nhất. Giáo viên là người hướng dẫn, học sinh chủ động tham gia đề xuất ý kiến của bản thân về nội dung thảo luận. Ảnh: Học sinh tham gia thảo luận nhóm Hoạt động trò chơi Trò chơi luôn mang lại những thuận lợi trong suốt một quá trình hoạt động trải nghiệm; tạo cơ hội để học sinh phát huy cao tính sáng tạo; rèn luyện được tác phong nhanh nhẹn, dễ dàng tiếp thu các kiến thức mới, Trong buổi học trải nghiệm, giáo viên tổ chức cho học sinh tham gia một số trò chơi như: họa sĩ nhí, ca sĩ nhí, nhà hùng biện tí hon. Thông qua trò chơi, hơn trong tiết học và đi học chuyên cần hơn, tích cực, tự giác hơn trong học tập. Để tạo hứng thú cho học sinh vào những tiết đầu của buổi học, tôi thường tổ chức cho các em chơi các trò chơi trong lớp như: trò chơi tiếp sức, chuyền vật, rung chuông vàng, Việc tổ chức các trò chơi học tập trên sẽ giúp các em hoạt bát hơn, mạnh dạn hơn, gắn kết được các thành viên trong lớp và tạo ra tinh thần đồng đội, giải tỏa được những căng thẳng, mệt mỏi từ đó hứng thú hơn trong học tập. 10 Ảnh: Học sinh tham gia trò chơi “Rung chuông vàng” Hoạt động tổ chức các cuộc giao lưu, hội thi Cuộc thi có nhiều cách tổ chức dưới nhiều hình thức khác nhau như: Viết chữ đẹp, thi giải ô chữ, đố vui, về các địa danh trên đất nước ta, hội thi kể chuyện theo tranh về môi trường, văn nghệ, thể thao Ảnh: Học sinh tham gia hội thi kể chuyện Mỗi hình thức có thể tổ chức với một chủ đề trong đó mang một hay nhiều nội dung giáo dục mà ở đó có sự gắn kết với nội dung chương trình cũng như giáo dục kĩ năng sống. 11 Cụ thể ở các tiết ôn tập của các môn Lịch sử, Địa lý, Khoa học thay vì học sinh phải học thuộc lòng và nêu lại các kiến thức cũ thì tôi thường xây dựng hệ thống câu hỏi và cho các tổ thi với nhau. Chính điều này đã tạo động lực cho các em thêm hứng thú để ôn lại kiến thức cũ. Vì muốn là đội giành chiến thắng thì các em sẽ động viên nhau nỗ lực học tập. Chính vì điều đó sẽ phát huy được tính tích cực tự giác học tập và rèn luyện của các em. Hoạt động sinh hoạt tập thể Hình thức sinh hoạt tập thể là một hoạt động không thể thiếu trong nhà trường. Nó diễn ra một cách thường xuyên và quen thuộc trong tất cả các trường Tiểu học. Đây là một hình thức tổ chức có sự gắn kết cao giữa một tập thể, đồng thời cũng là nhân tố chính để duy trì và phát triển các phong trào. Ở lớp tôi vào các giờ sinh hoạt tập thể, tôi thường tổ chức cho các em tham gia các hoạt động tập thể xen kẽ các trò chơi và các cuộc thi như: tháng 10 thì chúng tôi tổ chức cho các em vẽ tranh tặng mẹ và bình chọn xem bạn nào khéo tay nhất; tháng 11 thì tổ chức cho các em thi làm ca sĩ nhí với chủ đề thày cô và bạn bè, tổ chức bình chọn các giọng ca vàng của lớp; tháng 12 thì tổ chức cho các em thi kể chuyện về Chú bộ đội và những anh hùng tiêu biểu mà em biết; tổ chức bình chọn xem bạn nào kể hay nhất; tháng 1 và 2 thì tổ chức cho các em thi Người dẫn chương trình tài năng kể về các danh lễ hội và danh lam thắng cảnh mà em biết. tổ chức các cuộc thi thể thao theo kế hoạch của nhà trường. Qua các hoạt động này, giáo viên định hướng cho học sinh phát hiện năng lực của bản thân, từ đó chủ động đăng ký tham gia vào các câu lạc bộ của trường. Qua đó, giúp các em phát huy được tài năng và sở trường của mình và chính vì thế mà các em thêm tích cực, tự giác trong học tập và rèn luyện. 12 Ảnh: Học sinh tham gia trải nghiệm Vui Trung thu Ảnh: Học sinh vẽ tranh tặng mẹ nhân ngày 20-10 Thực hiện mô hình trải nghiệm gắn với lao động sản xuất. Đây là hình thức hoạt động mang tính tập thể cao, với mục tiêu học sinh hiểu thế nào là trải nghiệm gắn với lao động sản xuất? Đặc biệt hoạt động nào phù hợp với lớp mình. Học sinh chủ động xây dựng kế hoạch và tổ chức thực hiện tốt các hoạt động dưới sự hướng dẫn của giáo viên như: vệ 13 sinh trường lớp, trồng và chăm sóc bồn hoa, trang trí lớp học, Nhờ vậy mà các em thêm yêu lao động, tạo ra sự gắn kết cùng nhau và hoàn thiện kỹ năng sống của bản thân. Ảnh: Học sinh vệ sinh trường, lớp Hình thức sân khấu tương tác Là một hình thức nghệ thuật tương tác dựa trên hoạt động diễn kịch, trong đó đưa ra các tình huống, vấn đề, những điều trực tiếp tác động tới cuộc sống của học sinh. Các em tự xây dựng kịch bản dưới sự hỗ trợ của giáo viên. Sân khấu tương tác có thể diễn ra trong phạm vi trong lớp học hoặc rộng hơn là phạm vi toàn trường. Với các em học sinh lớp 4 thì tôi cùng giáo viên trong tổ thường tổ chức cho các em đóng các vở kịnh dựa theo các câu chuyện mà các em đã học để vận dụng vào bài học STEM, kể chuyện, nói và trao đổi. Chính những hình thức này đã tạo cho các em kỹ năng nói và thêm tự tin trước mọi người. Và nhờ thế mà các em thêm tích cực, tự giác trong học tập và rèn luyện. 3.4. Nâng cao hiệu quả tổ chức các hoạt động ngoại khóa Mỗi tuần đều có các tiết hoạt động trải nghiệm, tiết đọc thư viện và các buổi sinh hoạt Đội hay các ngày lễ. Khai thác triệt để tiết ngoại khóa này. Đầu tiên, kết hợp với giáo viên Tổng phụ trách và giáo viên dạy các bộ môn khác. Sau đó, hướng dẫn các em nề nếp học tập của tiết này. Các em sẽ được tham 14 gia 1 trò chơi vận động hoặc trí tuệ trong lớp hoặc ngoài sân trường theo từng chủ điểm. Các em sẽ bầu người quản trò, người dẫn chương trình, ban giám khảo và giáo viên là người trợ giúp các em khi cần thiết. Từ những biện pháp này, không khí lớp lúc nào cũng sôi nổi, đầy hưng phấn; Các em yêu trường, yêu lớp, tích cực và tự giác trong các hoạt động học tập; những buổi đến trường của các em thật sự “mỗi ngày đến trường là một ngày vui”. 3.5. Tổ chức đánh giá, bình bầu thi đua Học sinh trong lớp sẽ được chia thành 3 nhóm và thi đua trên tất cả các mảng học tập, rèn luyện. Nhóm nào thực hiện tốt sẽ được biểu dương và nêu gương cho các nhóm khác. Bên cạnh đó việc thi đua còn khích lệ tinh thần đoàn kết của các học sinh trong lớp. Để thi đua công bằng các học sinh trong lớp cùng nhau xây dựng các tiêu chí thi đua theo các bước sau: Bước 1: Các tổ họp và tham gia xây dựng các tiêu chí thi đua lớp: mỗi thành viên tự xây dựng một nội quy, trình bày trước tổ, tổ tổng hợp thành một bản tiêu chí của tổ. Bước 2: Xây dựng tiêu chí đánh giá, bình bầu thi đua của lớp: Họp Ban cán sự lớp và giáo viên chủ nhiệm, các tổ trình bày tiêu chí do tổ xây dựng. Giáo viên chủ nhiệm đóng góp ý kiến để Ban cán sự lớp thống nhất một bản tiêu chí cung của lớp, sau đó xin ý kiến của tập thể lớp để thống nhất đưa vào thực hiện. Dưới đây là bảng các tiêu chí thi đua, đánh giá của lớp 4A4: 15 TIÊU CHÍ THI ĐUA – LỚP 4A4 NĂM HỌC 2022 – 2023 1. Bảng tiêu chí chấm điểm TT Nội dung Điểm trừ 1 - Đi học đúng giờ. 1.0 điểm 2 - Chuẩn bị bài, đồ dùng đầy đủ. 1.0 điểm 3 - Không nói chuyện, làm việc riêng trong giờ học. 1.0 điểm 4 Hăng hái phát biểu xây dựng bài 1.0 điểm Tích cực trong hoạt động của lớp (hoàn thành tốt nhiệm vụ 1.0 điểm 5 được lớp và cô giáo giao) 6 Đoàn kết, biết giúp đỡ bạn 1.0 điểm 7 Giữ gìn vệ sinh cá nhân, trường lớp tốt 1.0 điểm 8 Không ăn quà vặt trong trường 1.0 điểm 9 Giữ gìn của công, không vẽ bậy lên tường... 1.0 điểm Thực hiện tốt An toàn giao thông(đội mũ khi ngồi trên xe 1.0 điểm 10 mô tô, xe máy) 2. Đánh giá thi đua Tổng số điểm tối đa là 10 điểm Nếu thực hiện tốt được đánh giá cho điểm tối đa, còn nếu không thực hiện tốt thì không được điểm. Vị trí xếp theo thứ tự từ cao đến thấp. Sau khi đã được thống nhất về bảng chỉ tiêu thi đua đánh giá sẽ được vào thực hiện hàng tuần, hàng tháng hoặc sau mỗi hoạt động lớn các tổ có đánh giá, bình chọn thi đua, đề xuất với giáo viên chủ nhiệm khen thưởng, tuyên dương; đồng thời nhắc nhở, giúp đỡ những bạn vi phạm nội quy của lớp thực hiện tốt hơn nhiệm vụ của bản thân, để không có bạn nào bị ở lại phía sau. Cuối năm học bình xét, đề xuất tuyên dương, khen thưởng đối với từng cá nhân trong tập thể lớp. 16 3.6. Tăng cường sử dụng công nghệ thông tin trong dạy học và tăng cường phối hợp với phụ huynh trong công tác chủ nhiệm lớp Việc tăng cường sử dụng công nghệ thông tin trong dạy học, đặc biệt là sử dụng giáo án điện tử trong giảng dạy sẽ giúp các em được quan sát những hình ảnh trực quan, sinh động, rõ nét. Nhờ đó các giờ học sẽ trở nên sinh động hơn, các em sẽ học tập hào hứng hơn và dễ tiếp thu bài hơn. Các em được khơi gợi óc tò mò, yêu thích học hỏi và khám phá hơn. Và vì thế sẽ tạo ra sự tự giác, tích cực hứng thú trong học tập và rèn luyện của các em. Bên cạnh những giải pháp trên để tạo ra được sự tự giác, tích cực hứng thú trong học tập và rèn luyện của các em thì không thể không kể đến vai trò của phụ huynh học sinh. Vì vậy việc phối hợp với phụ huynh trong việc giáo dục các em là điều rất cần thiết. Hiện nay công nghệ thông tin ngày càng phát triển, chất lượng cuộc sống ngày càng được nâng cao, đa số phụ huynh đều có điện thoại nên việc liên lạc với phụ huynh để trao đổi những vấn đề về việc học của các em là điều vô cùng dễ dàng. Chính nhờ những cuộc trao đổi trên mà giáo viên và phụ huynh có được tiếng nói chung trong việc giáo dục các em. Vì vậy mà các em được hỗ trợ và giúp đỡ kịp thời một cách tốt nhất. Chính vì học sinh được quan tâm, hỗ trợ kịp thời và được kiểm tra, thực hành thường xuyên nên sẽ góp phần tạo ra sự tự giác, tích cực trong học tập và rèn luyện của các em. III. KẾT QUẢ VÀ ỨNG DỤNG 1. Kết quả Để thấy được sự tiến bộ của học sinh sau khi tôi áp dụng các giải pháp, tôi đã tiến hành khảo sát và so sánh kết quả đầu năm học và cuối tháng 4/2023, cụ thể như sau: 17 Số Đầu năm Tháng 4/2023 Tỉ lệ % lượng Đạt Đạt tăng so Nội dung khảo sát học sinh Tỉ lệ Tỉ lệ với đầu được SL SL % % năm khảo sát Có góc học tập ở nhà 20/34 58,8 34/34 100 41,2 Có thói quen tự học ở nhà 17/34 50,0 33/34 97,06 47,06 Chuẩn bị đầy đủ đồ dùng 29/34 85,3 34/34 100 14,7 học tập khi lên lớp Có tinh thần và thường xuyên phát biểu xây dựng 22/34 64,7 34/34 100 35,3 bài Tích cực, tự giác hoàn thành công việc được 34 23/34 67,6 34/34 100 32,4 nhóm giao đúng hẹn Chủ động khi thực hiện 25/34 73,5 34/34 100 26,5 các nhiệm vụ học tập Mạnh dạn khi tham gia các hoạt động chung của 23/34 67,6 32/34 94,1 26,5 lớp, trường Nhiệt tình trong các hoạt động chung của lớp, 20/34 58,8 32/34 94,1 35,3 trường Mạnh dạn trong giao tiếp 21/34 61,8 34/34 100 38,2 với thầy cô giáo Có kĩ năng hoạt động 20/34 58,8 33/34 97,06 38,26 nhóm Tự tin trong giao tiếp ứng 25/34 73,5 34/34 100 26,5 xử với các bạn trong lớp 18 Qua quá trình áp dụng các giải pháp trên, tôi thấy tính tích cực, tự giác của lớp 4A4 đã chuyển biến rõ rệt. Học sinh đến lớp chuyên cần hơn. Trong quá trình giao tiếp và học tập học sinh khá mạnh dạn và tự tin. Với các biện pháp áp dụng đã làm cho học sinh học tập một cách tích cực, tự giác, độc lập và sáng tạo. Mặt khác còn kích thích được phong trào thi đua học tập trong lớp. Do đó, kết quả mang lại rất khả quan; nhiều em rụt rè nay đã hăng say phát biểu xây dựng bài, lớp học sôi nổi, học sinh hứng thú, tiếp thu kiến thức nhanh chóng. Việc thực hiện các biện pháp trên còn để giúp đỡ học sinh còn hạn chế mạnh dạn tự tin hơn trong các hoạt động học tập và vui chơi. Kết quả cho thấy học sinh ham học hơn, học tập có tiến bộ, năng động hơn trong học tập cũng như sinh hoạt vui chơi và có ý thức tự học và biết tương tác, giúp đỡ bạn trong học tập. Trong giao tiếp với bạn bè và thầy cô giáo các em cũng khá tự tin mạnh dạn. Trong quá trình học tập ở lớp các em cũng đã chủ động khi thực hiện các nhiệm vụ học tập và chủ động nêu thắc mắc và tích cực phát biểu ý kiến trong giờ học. Bên cạnh đó các em cũng thể hiện được sự tự tin trong các cuộc thảo luận nhóm và luôn nỗ lực, có trách nhiệm trong học tập và rèn luyện bản thân. Ngoài ra các em cũng tự giác, tập trung cho các nhiệm vụ học tập, không cần giáo viên nhắc nhở và cũng tôn trọng nội quy và thực hiện nghiêm túc nội quy lớp học, trường học. 2. Ứng dụng Từ những kết quả thống kê nêu trên, tôi thấy việc áp dụng các biện pháp đã thu được kết quả nhất định, học sinh sẽ học tập một cách tích cực, tự giác, độc lập và sáng tạo trong học tập, nhiều em rụt rè nay đã hăng say phát biểu xây dựng bài, lớp học sôi nổi, học sinh hứng thú, tiếp thu kiến thức nhanh chóng. Tôi thiết nghĩ biện pháp này có thể chia sẻ với bạn bè đồng nghiệp trong và ngoài nhà trường để làm tài liệu tham khảo giúp học sinh tích cực và tự giác hơn trong các hoạt động học tập và rèn luyện. 19 IV. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 1. Kết luận Khi thực hiện theo giải pháp mới học sinh đã tích cực, tự giác hơn trong tất cả các hoạt động học tập và rèn luyện. Học sinh và giáo viên đã rút ngắn hơn khoảng cách, cô trò gần gũi và thân thiện hơn. Việc đổi mới phương pháp dạy học phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo đã rèn luyện cho học sinh thói quen và khả năng tự học, tinh thần hợp tác, kĩ năng vận dụng kiến thức vào những tình huống khác nhau trong học tập và trong thực tiễn, tạo niềm vui, hứng thú trong học tập. 2. Kiến nghị 2.1. Đối với giáo viên - Trong công tác chủ nhiệm mỗi người giáo viên cần linh hoạt tổ chức các hoạt động giáo dục. - Thường xuyên tự bồi dưỡng nâng cao chuyên môn, nghiệp vụ bản thân. 2.2. Đối với nhà trường - Nâng cao hơn nữa việc quán triệt tinh thần học tập tới từng lớp, từng học sinh. - Luôn tạo môi trường học tập và rèn luyện tốt nhất cho học sinh. 2.3. Đối với phụ huynh - Quan tâm đến việc học tập của con ở trên lớp cũng như ở nhà. - Chuẩn bị đầy đủ sách vở, đồ dùng học tập cho con. - Đôn đốc, nhắc nhở việc tự học của con khi ở nhà. Trên đây là biện pháp của tối, rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của bạn bè đồng nghiệp. * Cam kết: Chúng tôi cam đoan những điều khai trên đây là đúng sự thật và không sao chép hoặc vi phạm bản quyền. Tôi xin chân thành cảm ơn !
File đính kèm:
phat_huy_tinh_tich_cuc_tu_giac_hoc_tap_va_ren_luyen_cua_hoc.pdf



