Phát huy tính tích cực, tự giác học tập và rèn luyện của học sinh lớp 4

pdf21 trang | Chia sẻ: Chan Chan | Ngày: 10/02/2026 | Lượt xem: 6 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Phát huy tính tích cực, tự giác học tập và rèn luyện của học sinh lớp 4, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút TẢI VỀ ở trên
 MỤC LỤC 
 Trang 
I. PHẦN MỞ ĐẦU 
1. Lí do chọn đề tài .......................................................................................... 2 
2. Mục đích nghiêm cứu .................................................................................. 2 
3. Nhiệm vụ nghiên cứu .................................................................................. 3 
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ............................................................... 3 
5. Phương pháp nghiên cứu ............................................................................ 3 
II. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU .................................................................... 3 
1. Cơ sở lí luận ................................................................................................ 3 
2. Cơ sở thực tiễn ............................................................................................ 4 
2.1. Thực trạng của học sinh ........................................................................... 4 
2.2. Nguyên nhân của thực trạng .................................................................... 5 
3. Các biện pháp .............................................................................................. 6 
3.1. Tổ chức dạy học theo hướng phát triển năng lực của học sinh ............... 6 
3.2. Phân loại nhóm học sinh và có biện pháp bồi dưỡng học sinh chưa 
tích cực, tự giác học tập và rèn luyện. ............................................................. 7 
3.3. Động viên học sinh tích cực tham gia hoạt động trải nghiệm ................. 9 
3.4. Nâng cao hiệu quả tổ chức các hoạt động ngoại khóa ............................. 15 
3.5. Tổ chức đánh giá, bình bầu thi đua .......................................................... 15 
3.6. Tăng cường sử dụng công nghệ thông tin trong dạy học và tăng cường 
phối hợp với phụ huynh trong công tác chủ nhiệm lớp .................................. 16 
III. KẾT QUẢ VÀ ỨNG DỤNG .................................................................. 17 
IV. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ................................................................ 20 
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 21 
 1 
 I. PHẦN MỞ ĐẦU 
 1. Lí do lựa chọn đề tài 
 Giáo dục là nền tảng của xã hội, là cơ sở tiền đề để quyết định sự phát 
triển của đất nước. Giáo dục không chỉ cung cấp cho học sinh những hiểu biết 
về kho tàng tri thức mà còn giúp cho các em những hiểu biết cơ bản cần thiết 
về khoa học và cuộc sống. Mặt khác giáo dục còn góp phần hình thành và bồi 
dưỡng nhân cách tốt đẹp cho học sinh. Vì vậy, giáo dục hiện nay đòi hỏi học 
sinh phải là người tự tìm tòi, tự khám phá và làm chủ được kiến thức. Không 
chỉ vậy, học sinh còn cần biết tự vận dụng hiệu quả kiến thức được học vào 
thực tế đời sống. 
 Vậy để giáo dục có hiệu quả và đạt chất lượng cao, trong quá trình làm 
công tác chủ nhiệm chúng ta cần biết lựa chọn phương pháp, hình thức tổ 
chức hoạt động giáo dục tối ưu nhất, phù hợp với mục tiêu và nội dung của 
hoạt động giáo dục. Song để đi đến thành công giáo dục đòi hỏi cả người dạy 
và người học phải không ngừng nổ lực phấn đấu, sáng tạo, đổi mới phương 
pháp tổ chức hoạt động giáo dục, đầu tư thích đáng vào công việc của mình 
để “Phát huy tính tích cực, tự giác học tập và rèn luyện của người học”. 
 Nhìn lại việc học của một bộ phận học sinh hiện nay, chúng ta thấy 
nhận thức của các em còn nhiều hạn chế, ý thức tự học, tự rèn luyện chưa cao. 
Các em chưa xác định được tầm quan trọng của việc tự học nên chưa chủ 
động, tự giác, không ham học. Vì vậy tôi đã lựa chọn nghiên cứu biện pháp: 
“Phát huy tính tích cực, tự giác học tập và rèn luyện của học sinh lớp 4”. 
 2. Mục đích nghiên cứu 
 - Nghiên cứu để đưa ra các biện pháp nhằm phát huy tính tích cực, tự 
giác học tập và rèn luyện của học sinh, góp phần nâng cao nghiệp vụ công tác 
chủ nhiệm của mình. Đổi mới phương pháp tổ chức các hoạt động ở lớp, nâng 
cao khả năng sáng tạo cho học sinh đồng thời giúp nâng cao chất lượng giáo 
dục toàn diện cho lớp. 
 2 
 3. Nhiện vụ nghiên cứu 
 - Nghiên cứu thực trạng của tính tích cực, tự giác học tập và rèn luyện 
của học sinh để phân tích đánh giá và làm rõ nguyên nhân, khó khăn, lí giải 
những vấn đề thực tiễn nâng cao tính tích cực, tự giác học tập và rèn luyện 
cho học sinh. 
 - Đề xuất một số các biện pháp để nâng cao tính tích cực, tự giác học 
tập và rèn luyện của học sinh. 
 4. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 
 - Đối tượng nghiên cứu: Tính tích cực, tự giác học tập và rèn luyện của 
học sinh lớp chủ nhiệm. 
 - Phạm vi nghiên cứu: Học sinh lớp 4A4 trường Tiểu học nơi tôi đang 
công tác. 
 5. Phương pháp nghiên cứu 
 - Phương pháp điều tra. 
 - Phương pháp thực nghiệm. 
 - Phương pháp đàm thoại. 
 - Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động. 
 - Phương pháp quan sát – trực quan 
 - Phương pháp thống kê, tính toán. 
 II. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 
 1. Cơ sở lý luận 
 Tính tích cực, tự giác học tập và rèn luyện của học sinh là sự ý thức tự 
giác của học sinh về mục đích học, thông qua đó học sinh huy động ở mức độ 
cao các chức năng tâm lý để giải quyết các nhiệm vụ học tập có hiệu quả. 
Trong các hoạt động giáo dục phát huy tính tích cực, tự giác giúp học sinh 
lĩnh hội kiến thức đồng thời còn giúp học sinh phát triển những kĩ năng học 
tập của mình. 3 
 Phát huy tính tích cực, tự giác học tập và rèn luyện của học sinh là một 
phương diện cơ bản của lý luận đổi mới dạy học. Đây là nguyên tắc dạy học 
xuyên suốt, làm cơ sở cho việc tổ chức các hoạt động dạy học cũng như huy 
động phương pháp, biện pháp dạy học. Mặt khác trong hoạt động dạy học, 
tính tích cực học tập không chỉ tồn tại như một trạng thái, một điều kiện mà 
nó còn là kết quả của hoạt động học tập, là mục đích của quá trình dạy học. 
 2. Cơ sở thực tiễn 
 2.1. Thực trạng của tính tích cực, tự giác học tập và rèn luyện của 
học sinh. 
 Ngay từ đầu năm học 2022 – 2023, tôi đã chủ động quan sát học sinh khi 
các em tham gia các hoạt động giáo dục và đồng thời khảo sát bằng phiếu hỏi 
và thu được kết quả như sau: 
 Số lượng Đầu năm 
 học sinh Đạt 
 Nội dung khảo sát 
 được khảo 
 SL Tỉ lệ % 
 sát 
Có góc học tập ở nhà 20/34 58,8 
Có thói quen tự học ở nhà 17/34 50,0 
Chuẩn bị đầy đủ đồ dùng học tập khi lên lớp 29/34 85,3 
Có tinh thần và thường xuyên phát biểu xây 
 22/34 64,7 
dựng bài 
Tích cực, tự giác hoàn thành công việc được 
 23/34 67,6 
nhóm giao đúng hẹn 
Chủ động thực hiện các nhiệm vụ học tập 25/34 73,5 
 34 
Mạnh dạn khi tham gia các hoạt động chung 23/34 67,6 4 
của lớp, trường 
Nhiệt tình trong các hoạt động chung của 
 20/34 58,8 
lớp, trường 
Mạnh dạn trong giao tiếp với thầy cô giáo 21/34 61,8 
Có kĩ năng hoạt động nhóm 20/34 58,8 
Tự tin trong giao tiếp ứng xử với các bạn 
 25/34 73,5 
trong lớp 
 Qua khảo sát có thể thấy thói quen tự học ở nhà là của học sinh chưa 
cao. Các em còn nhút nhát, chưa mạnh dạn giơ tay phát biểu cũng như tham 
gia vào các hoạt động chung của trường, của lớp. Một số em kĩ năng giao tiếp 
còn chưa tốt. 
 2.2. Nguyên nhân của thực trạng 
 Qua tìm hiểu tôi thấy do các em còn nhỏ nên về ý thức tự giác là chưa 
cao. Bên cạnh đó sự quan tâm của gia đình đến việc học tập và rèn luyện của 
các em là chưa đáng kể, hầu như đều giao phó cho thầy cô giáo trong nhà 
trường. Khi tham gia các hoạt động giáo dục các em thường rất bị động, hầu 
như chỉ làm theo những yêu cầu của giáo viên chủ nhiệm. Bên cạnh đó một số 
em còn mải chơi, không chú tâm vào nhiệm vụ của mình nên thường xuyên 
không chuẩn bị bài trước khi đến lớp, hay làm việc riêng trong giờ. Ngoài ra 
một số em chưa chủ động tham gia hoạt động nhóm, khả năng hợp tác, chia sẻ 
còn hạn chế. 
 Từ những nguyên nhân trên dẫn đến chất lượng học tập và rèn luyện 
của các em chưa cao. Đó cũng là một vấn đề tôi trăn trở cvà luôn tìm cách 
khắc phục. Vì vậy, tôi đã mạnh dạn đưa ra một số biện pháp như sau: 
 5 
 3. Các biện pháp 
 3.1. Tổ chức dạy học theo hướng phát triển năng lực của học sinh 
 Trong quá trình tổ chức các hoạt động học tập tôi tăng cường việc học 
tập trong nhóm tạo cơ hội cho học sinh học tập theo hướng cộng tác phát huy 
tính tích cực, tự giác, chủ động của học sinh, hình thành và phát triển năng 
lực tự học (sử dụng sách giáo khoa, nghe, ghi chép, tìm kiếm thông tin,...), 
trên cơ sở đó trau dồi các kĩ năng độc lập, sáng tạo của người học. 
 Để phát huy tính tích cực, tự giác của học sinh tôi thường tổ chức cho 
học sinh tham gia các hoạt động học tập trải nghiệm. Trong tiết học đó, giáo 
viên là người hướng dẫn, giao nhiệm vụ còn học sinh sẽ lên kế hoạch và cùng 
thực hiện. 
 Ảnh: Học sinh làm thí nghiệm để khám phá kiến thức. 
 Với cách làm trên học sinh lớp tôi không còn thụ động chỉ biết lắng 
nghe và quan sát giáo viên thực hiện mà các em được tự mình khám phá ra 
kiến thức, được thực hành và tham gia thảo luận, chia sẻ cùng nhau. Điều này 
giúp các em tập trung hơn, hứng thú hơn và rèn khả năng kết nối tương tác 
cùng nhau. Chính vì vậy sẽ giúp học sinh ghi nhớ và nắm chắc kiến thức. Và 
qua nhiều giờ học như vậy sẽ giúp các em có thói quen tự học tốt hơn. 
 6 
 Để tăng cường học tập cộng tác tôi chuyển dần quy mô lớp học sang 
quy mô nhóm để tích cực hóa học sinh và tăng khả năng tương tác hỗ trợ giúp 
đỡ nhau trong tiếp thu chiếm lĩnh kiến thức tùy theo đặc điểm tình hình mà 
học sinh lựa chọn nhóm cho phù hợp như nhóm: nhóm cùng sở thích, nhóm 
cùng năng lực trình độ, 
 3.2. Phân loại nhóm học sinh và có biện pháp bồi dưỡng học sinh 
chưa tích cực, tự giác học tập và rèn luyện. 
 Từ đầu năm học tôi đã điều tra, quan sát, khảo sát để nắm được mức độ 
nhận thức của từng học sinh. Từ đó, tìm hiểu và phân loại học sinh vào từng 
nhóm và đưa ra từng biện pháp phù hợp. Tôi đã chia thành các nhóm như sau: 
 3.2.1. Nhóm học sinh có năng lực tự chủ và tự học, giao tiếp và hợp 
tác, giải quyết vấn đề và sáng tạo tốt 
 Học sinh ở nhóm này các em đều mạnh dạn, tự tin, hăng hái giơ tay 
phát biểu cũng như tích cực trong tất cả các hoạt động. Đối với nhóm học sinh 
này trong mọi hoạt động học tập và rèn luyện tôi luôn tạo cơ hội để các em 
được phát huy hết những năng lực, khả năng của mình. Tôi cũng thường 
xuyên động viên khích lệ, nêu gương để các học sinh khác trong lớp học tập 
và noi theo. Trong các tiết sinh hoạt lớp những em có nhiều cố gắng trong 
tháng sẽ được khích lệ bằng hình thức: nhận huy hiệu, viết thư khen, . 
 Ảnh: Trao thư khen khích lệ học sinh 7 
 3.2.2. Nhóm học sinh có năng lực tự chủ và tự học, giao tiếp và hợp 
tác, giải quyết vấn đề và sáng tạo hạn chế 
 Với nhóm học sinh này đa số các em đều cảm thấy rất ngại giao tiếp 
với mọi người, hay thụ động tự ti và thu mình lại ít giao tiếp với bạn và thầy 
cô. Trong các giờ học, các em cũng rất ít khi giơ tay phát biểu mặc dù câu hỏi 
đó các em biết trả lời. Các em có ít bạn, không chủ động tham gia trò chơi với 
các bạn trong lớp. 
 Với những trường hợp như vậy thì tôi tiến hành tìm hiểu lý do qua bạn 
bè hoặc qua người thân của các em. Khi đã tìm hiểu được lý do rồi thì tôi sẽ 
tăng cường giúp đỡ, gần gũi, động viên các em sống hoà đồng cùng bạn bè. 
Và cũng động viên tất cả học sinh trong lớp thường xuyên quan tâm, tôn trọng 
người bạn của mình, biết chia sẻ với bạn của mình. 
 Khuyến khích các em luôn tự tin, thể hiện bản thân mình mọi lúc mọi 
nơi, trong mỗi tiết học cũng như các giờ ra chơi, mạnh dạn trao đổi ý kiến của 
mình cùng các bạn. Ngoài ra tôi tăng cường trao đổi tìm hiểu và phát huy 
điểm mạnh của các em. Tôi thiết nghĩ mình phải luôn là người "bạn" thân, 
phải thường xuyên động viên cổ vũ tinh thần các em. 
 Bên cạnh đó sắp xếp chỗ ngồi cũng rất quan trọng. Đối với những 
học sinh như vậy cần xếp em ngồi cùng với nhóm những học sinh năng động, 
hòa đồng. 
 3.2.3 Nhóm học sinh hạn chế về thể chất 
 Nhóm này là các học sinh có sức khoẻ quá yếu, hay ốm đau nên viêc 
tham gia học tập, rèn luyện còn nhiều hạn chế. Chính vì lẽ đó mà năng lực 
của các em còn chưa cao. 
 Đối với những học sinh nhóm này tôi theo dõi học sinh đi học hàng 
ngày để biết được sĩ số cụ thể từng ngày. Nếu học sinh bị ốm nghỉ trong hai 
ngày trở lên thì giờ ra chơi tôi ở lại cùng em đó hướng dẫn cho em các kiến 
thức mà em chưa theo kịp. Đồng thời tôi cũng phân công học sinh học tốt 
kèm cặp giúp đỡ bằng cách hướng dẫn bạn làm bài trong thời gian bạn nghỉ 8 
ốm. Bên cạnh đó là gặp gỡ trao đổi với gia đình để phụ huynh giúp đỡ các em 
thêm về kiến thức cũng như bồi dưỡng sức khoẻ cho các em. 
 Ảnh: Học sinh hỗ trợ bạn trong tiết học 
 3.3. Động viên học sinh tích cực tham gia hoạt động trải nghiệm 
 Xây dựng và tổ chức các hoạt động trải nghiệm theo nhóm lớp. Thông 
qua hoạt động trải nghiệm, học sinh nắm được kiến thức, kĩ năng để giải 
quyết vấn đề. Tổ chức học tập trải nghiệm có nhiệm vụ cá nhân, có nhiệm vụ 
phải hợp tác theo nhóm để cùng bàn bạc, trao đổi, thống nhất, ra quyết định. 
Điều đó tạo cơ hội để học sinh phát triển các kĩ năng như: làm việc theo 
nhóm, kĩ năng lắng nghe, thu thập xử lí thông tin, kĩ năng ra quyết định, 
Đồng thời xây dựng niềm tin giữa học sinh và giáo viên. Qua hoạt động trải 
nghiệm học sinh sẽ có được ý thức tự giác, tích cực trong học tập và rèn luyện 
tốt hơn. 
 Ngay từ đầu năm học, tôi hướng dẫn cho học sinh biết cách xây dựng 
các nội quy của lớp và hình thành cho các em kĩ năng cơ bản như: tổ chức, 
làm việc theo nhóm, cách ghi chép, 
 Một số hình thức học tập trải nghiệm cơ bản: 
 Hoạt động tổ chức thảo luận 9 
 Đây là hình thức tổ chức dạy học trải nghiệm thiết thực và dễ thực hiện 
nhất. Có thể diễn ra trong phạm vi trong lớp học. Học sinh cùng nhau thảo luận 
để tìm ra những nguyên nhân và giải pháp chủ đạo nhất. Giáo viên là người 
hướng dẫn, học sinh chủ động tham gia đề xuất ý kiến của bản thân về nội dung 
thảo luận. 
 Ảnh: Học sinh tham gia thảo luận nhóm 
 Hoạt động trò chơi 
 Trò chơi luôn mang lại những thuận lợi trong suốt một quá trình hoạt 
động trải nghiệm; tạo cơ hội để học sinh phát huy cao tính sáng tạo; rèn luyện 
được tác phong nhanh nhẹn, dễ dàng tiếp thu các kiến thức mới, 
 Trong buổi học trải nghiệm, giáo viên tổ chức cho học sinh tham gia 
một số trò chơi như: họa sĩ nhí, ca sĩ nhí, nhà hùng biện tí hon. Thông qua trò 
chơi, hơn trong tiết học và đi học chuyên cần hơn, tích cực, tự giác hơn trong 
học tập. 
 Để tạo hứng thú cho học sinh vào những tiết đầu của buổi học, tôi 
thường tổ chức cho các em chơi các trò chơi trong lớp như: trò chơi tiếp sức, 
chuyền vật, rung chuông vàng, Việc tổ chức các trò chơi học tập trên sẽ 
giúp các em hoạt bát hơn, mạnh dạn hơn, gắn kết được các thành viên trong 
lớp và tạo ra tinh thần đồng đội, giải tỏa được những căng thẳng, mệt mỏi từ 
đó hứng thú hơn trong học tập. 10 
 Ảnh: Học sinh tham gia trò chơi “Rung chuông vàng” 
 Hoạt động tổ chức các cuộc giao lưu, hội thi 
 Cuộc thi có nhiều cách tổ chức dưới nhiều hình thức khác nhau như: 
Viết chữ đẹp, thi giải ô chữ, đố vui, về các địa danh trên đất nước ta, hội thi 
kể chuyện theo tranh về môi trường, văn nghệ, thể thao 
 Ảnh: Học sinh tham gia hội thi kể chuyện 
 Mỗi hình thức có thể tổ chức với một chủ đề trong đó mang một hay 
nhiều nội dung giáo dục mà ở đó có sự gắn kết với nội dung chương trình 
cũng như giáo dục kĩ năng sống. 11 
 Cụ thể ở các tiết ôn tập của các môn Lịch sử, Địa lý, Khoa học thay vì 
học sinh phải học thuộc lòng và nêu lại các kiến thức cũ thì tôi thường xây 
dựng hệ thống câu hỏi và cho các tổ thi với nhau. Chính điều này đã tạo động 
lực cho các em thêm hứng thú để ôn lại kiến thức cũ. Vì muốn là đội giành 
chiến thắng thì các em sẽ động viên nhau nỗ lực học tập. Chính vì điều đó sẽ 
phát huy được tính tích cực tự giác học tập và rèn luyện của các em. 
 Hoạt động sinh hoạt tập thể 
 Hình thức sinh hoạt tập thể là một hoạt động không thể thiếu trong nhà 
trường. Nó diễn ra một cách thường xuyên và quen thuộc trong tất cả các 
trường Tiểu học. Đây là một hình thức tổ chức có sự gắn kết cao giữa một tập 
thể, đồng thời cũng là nhân tố chính để duy trì và phát triển các phong trào. 
 Ở lớp tôi vào các giờ sinh hoạt tập thể, tôi thường tổ chức cho các em 
tham gia các hoạt động tập thể xen kẽ các trò chơi và các cuộc thi như: tháng 
10 thì chúng tôi tổ chức cho các em vẽ tranh tặng mẹ và bình chọn xem bạn 
nào khéo tay nhất; tháng 11 thì tổ chức cho các em thi làm ca sĩ nhí với chủ 
đề thày cô và bạn bè, tổ chức bình chọn các giọng ca vàng của lớp; tháng 12 
thì tổ chức cho các em thi kể chuyện về Chú bộ đội và những anh hùng tiêu 
biểu mà em biết; tổ chức bình chọn xem bạn nào kể hay nhất; tháng 1 và 2 thì 
tổ chức cho các em thi Người dẫn chương trình tài năng kể về các danh lễ hội 
và danh lam thắng cảnh mà em biết. tổ chức các cuộc thi thể thao theo kế 
hoạch của nhà trường. Qua các hoạt động này, giáo viên định hướng cho học 
sinh phát hiện năng lực của bản thân, từ đó chủ động đăng ký tham gia vào 
các câu lạc bộ của trường. Qua đó, giúp các em phát huy được tài năng và sở 
trường của mình và chính vì thế mà các em thêm tích cực, tự giác trong học 
tập và rèn luyện. 12 
 Ảnh: Học sinh tham gia trải nghiệm Vui Trung thu 
 Ảnh: Học sinh vẽ tranh tặng mẹ nhân ngày 20-10 
 Thực hiện mô hình trải nghiệm gắn với lao động sản xuất. 
 Đây là hình thức hoạt động mang tính tập thể cao, với mục tiêu học 
sinh hiểu thế nào là trải nghiệm gắn với lao động sản xuất? Đặc biệt hoạt 
động nào phù hợp với lớp mình. Học sinh chủ động xây dựng kế hoạch và tổ 
chức thực hiện tốt các hoạt động dưới sự hướng dẫn của giáo viên như: vệ 13 
sinh trường lớp, trồng và chăm sóc bồn hoa, trang trí lớp học, Nhờ vậy mà 
các em thêm yêu lao động, tạo ra sự gắn kết cùng nhau và hoàn thiện kỹ năng 
sống của bản thân. 
 Ảnh: Học sinh vệ sinh trường, lớp 
 Hình thức sân khấu tương tác 
 Là một hình thức nghệ thuật tương tác dựa trên hoạt động diễn kịch, 
trong đó đưa ra các tình huống, vấn đề, những điều trực tiếp tác động tới cuộc 
sống của học sinh. Các em tự xây dựng kịch bản dưới sự hỗ trợ của giáo viên. 
Sân khấu tương tác có thể diễn ra trong phạm vi trong lớp học hoặc rộng hơn 
là phạm vi toàn trường. 
 Với các em học sinh lớp 4 thì tôi cùng giáo viên trong tổ thường tổ 
chức cho các em đóng các vở kịnh dựa theo các câu chuyện mà các em đã học 
để vận dụng vào bài học STEM, kể chuyện, nói và trao đổi. Chính những hình 
thức này đã tạo cho các em kỹ năng nói và thêm tự tin trước mọi người. Và 
nhờ thế mà các em thêm tích cực, tự giác trong học tập và rèn luyện. 
 3.4. Nâng cao hiệu quả tổ chức các hoạt động ngoại khóa 
 Mỗi tuần đều có các tiết hoạt động trải nghiệm, tiết đọc thư viện và các 
buổi sinh hoạt Đội hay các ngày lễ. Khai thác triệt để tiết ngoại khóa này. Đầu 
tiên, kết hợp với giáo viên Tổng phụ trách và giáo viên dạy các bộ môn khác. 
Sau đó, hướng dẫn các em nề nếp học tập của tiết này. Các em sẽ được tham 14 
gia 1 trò chơi vận động hoặc trí tuệ trong lớp hoặc ngoài sân trường theo từng 
chủ điểm. Các em sẽ bầu người quản trò, người dẫn chương trình, ban giám 
khảo và giáo viên là người trợ giúp các em khi cần thiết. 
 Từ những biện pháp này, không khí lớp lúc nào cũng sôi nổi, đầy hưng 
phấn; Các em yêu trường, yêu lớp, tích cực và tự giác trong các hoạt động học 
tập; những buổi đến trường của các em thật sự “mỗi ngày đến trường là một 
ngày vui”. 
 3.5. Tổ chức đánh giá, bình bầu thi đua 
 Học sinh trong lớp sẽ được chia thành 3 nhóm và thi đua trên tất cả các 
mảng học tập, rèn luyện. Nhóm nào thực hiện tốt sẽ được biểu dương và nêu 
gương cho các nhóm khác. Bên cạnh đó việc thi đua còn khích lệ tinh thần 
đoàn kết của các học sinh trong lớp. Để thi đua công bằng các học sinh trong 
lớp cùng nhau xây dựng các tiêu chí thi đua theo các bước sau: 
 Bước 1: Các tổ họp và tham gia xây dựng các tiêu chí thi đua lớp: 
mỗi thành viên tự xây dựng một nội quy, trình bày trước tổ, tổ tổng hợp 
thành một bản tiêu chí của tổ. 
 Bước 2: Xây dựng tiêu chí đánh giá, bình bầu thi đua của lớp: Họp 
Ban cán sự lớp và giáo viên chủ nhiệm, các tổ trình bày tiêu chí do tổ xây 
dựng. Giáo viên chủ nhiệm đóng góp ý kiến để Ban cán sự lớp thống nhất 
một bản tiêu chí cung của lớp, sau đó xin ý kiến của tập thể lớp để thống 
nhất đưa vào thực hiện. 
 Dưới đây là bảng các tiêu chí thi đua, đánh giá của lớp 4A4: 
 15 
 TIÊU CHÍ THI ĐUA – LỚP 4A4 
 NĂM HỌC 2022 – 2023 
 1. Bảng tiêu chí chấm điểm 
 TT Nội dung Điểm trừ 
 1 - Đi học đúng giờ. 1.0 điểm 
 2 - Chuẩn bị bài, đồ dùng đầy đủ. 1.0 điểm 
 3 - Không nói chuyện, làm việc riêng trong giờ học. 1.0 điểm 
 4 Hăng hái phát biểu xây dựng bài 1.0 điểm 
 Tích cực trong hoạt động của lớp (hoàn thành tốt nhiệm vụ 1.0 điểm 
 5 
 được lớp và cô giáo giao) 
 6 Đoàn kết, biết giúp đỡ bạn 1.0 điểm 
 7 Giữ gìn vệ sinh cá nhân, trường lớp tốt 1.0 điểm 
 8 Không ăn quà vặt trong trường 1.0 điểm 
 9 Giữ gìn của công, không vẽ bậy lên tường... 1.0 điểm 
 Thực hiện tốt An toàn giao thông(đội mũ khi ngồi trên xe 1.0 điểm 
 10 
 mô tô, xe máy) 
 2. Đánh giá thi đua 
 Tổng số điểm tối đa là 10 điểm 
 Nếu thực hiện tốt được đánh giá cho điểm tối đa, còn nếu không thực 
hiện tốt thì không được điểm. Vị trí xếp theo thứ tự từ cao đến thấp. 
 Sau khi đã được thống nhất về bảng chỉ tiêu thi đua đánh giá sẽ được 
vào thực hiện hàng tuần, hàng tháng hoặc sau mỗi hoạt động lớn các tổ có 
đánh giá, bình chọn thi đua, đề xuất với giáo viên chủ nhiệm khen thưởng, 
tuyên dương; đồng thời nhắc nhở, giúp đỡ những bạn vi phạm nội quy của lớp 
thực hiện tốt hơn nhiệm vụ của bản thân, để không có bạn nào bị ở lại phía 
sau. Cuối năm học bình xét, đề xuất tuyên dương, khen thưởng đối với từng 
cá nhân trong tập thể lớp. 16 
 3.6. Tăng cường sử dụng công nghệ thông tin trong dạy học và tăng 
cường phối hợp với phụ huynh trong công tác chủ nhiệm lớp 
 Việc tăng cường sử dụng công nghệ thông tin trong dạy học, đặc biệt là 
sử dụng giáo án điện tử trong giảng dạy sẽ giúp các em được quan sát những 
hình ảnh trực quan, sinh động, rõ nét. Nhờ đó các giờ học sẽ trở nên sinh 
động hơn, các em sẽ học tập hào hứng hơn và dễ tiếp thu bài hơn. Các em 
được khơi gợi óc tò mò, yêu thích học hỏi và khám phá hơn. Và vì thế sẽ tạo 
ra sự tự giác, tích cực hứng thú trong học tập và rèn luyện của các em. 
 Bên cạnh những giải pháp trên để tạo ra được sự tự giác, tích cực hứng 
thú trong học tập và rèn luyện của các em thì không thể không kể đến vai trò 
của phụ huynh học sinh. Vì vậy việc phối hợp với phụ huynh trong việc giáo 
dục các em là điều rất cần thiết. Hiện nay công nghệ thông tin ngày càng phát 
triển, chất lượng cuộc sống ngày càng được nâng cao, đa số phụ huynh đều có 
điện thoại nên việc liên lạc với phụ huynh để trao đổi những vấn đề về việc 
học của các em là điều vô cùng dễ dàng. Chính nhờ những cuộc trao đổi trên 
mà giáo viên và phụ huynh có được tiếng nói chung trong việc giáo dục các 
em. Vì vậy mà các em được hỗ trợ và giúp đỡ kịp thời một cách tốt nhất. 
Chính vì học sinh được quan tâm, hỗ trợ kịp thời và được kiểm tra, thực hành 
thường xuyên nên sẽ góp phần tạo ra sự tự giác, tích cực trong học tập và rèn 
luyện của các em. 
 III. KẾT QUẢ VÀ ỨNG DỤNG 
 1. Kết quả 
 Để thấy được sự tiến bộ của học sinh sau khi tôi áp dụng các giải pháp, 
tôi đã tiến hành khảo sát và so sánh kết quả đầu năm học và cuối tháng 
4/2023, cụ thể như sau: 
 17 
 Số Đầu năm Tháng 4/2023 
 Tỉ lệ % 
 lượng Đạt Đạt 
 tăng so 
 Nội dung khảo sát học sinh 
 Tỉ lệ Tỉ lệ với đầu 
 được SL SL 
 % % năm 
 khảo sát 
Có góc học tập ở nhà 20/34 58,8 34/34 100 41,2 
Có thói quen tự học ở nhà 17/34 50,0 33/34 97,06 47,06 
Chuẩn bị đầy đủ đồ dùng 
 29/34 85,3 34/34 100 14,7 
học tập khi lên lớp 
Có tinh thần và thường 
xuyên phát biểu xây dựng 22/34 64,7 34/34 100 35,3 
bài 
Tích cực, tự giác hoàn 
thành công việc được 34 23/34 67,6 34/34 100 32,4 
nhóm giao đúng hẹn 
Chủ động khi thực hiện 
 25/34 73,5 34/34 100 26,5 
các nhiệm vụ học tập 
Mạnh dạn khi tham gia 
các hoạt động chung của 23/34 67,6 32/34 94,1 26,5 
lớp, trường 
Nhiệt tình trong các hoạt 
động chung của lớp, 20/34 58,8 32/34 94,1 35,3 
trường 
Mạnh dạn trong giao tiếp 
 21/34 61,8 34/34 100 38,2 
với thầy cô giáo 
Có kĩ năng hoạt động 
 20/34 58,8 33/34 97,06 38,26 
nhóm 
Tự tin trong giao tiếp ứng 
 25/34 73,5 34/34 100 26,5 
xử với các bạn trong lớp 
 18 
 Qua quá trình áp dụng các giải pháp trên, tôi thấy tính tích cực, tự giác 
của lớp 4A4 đã chuyển biến rõ rệt. Học sinh đến lớp chuyên cần hơn. Trong 
quá trình giao tiếp và học tập học sinh khá mạnh dạn và tự tin. Với các biện 
pháp áp dụng đã làm cho học sinh học tập một cách tích cực, tự giác, độc lập 
và sáng tạo. Mặt khác còn kích thích được phong trào thi đua học tập trong 
lớp. Do đó, kết quả mang lại rất khả quan; nhiều em rụt rè nay đã hăng say 
phát biểu xây dựng bài, lớp học sôi nổi, học sinh hứng thú, tiếp thu kiến thức 
nhanh chóng. 
 Việc thực hiện các biện pháp trên còn để giúp đỡ học sinh còn hạn chế 
mạnh dạn tự tin hơn trong các hoạt động học tập và vui chơi. Kết quả cho 
thấy học sinh ham học hơn, học tập có tiến bộ, năng động hơn trong học tập 
cũng như sinh hoạt vui chơi và có ý thức tự học và biết tương tác, giúp đỡ bạn 
trong học tập. Trong giao tiếp với bạn bè và thầy cô giáo các em cũng khá tự 
tin mạnh dạn. Trong quá trình học tập ở lớp các em cũng đã chủ động khi 
thực hiện các nhiệm vụ học tập và chủ động nêu thắc mắc và tích cực phát 
biểu ý kiến trong giờ học. Bên cạnh đó các em cũng thể hiện được sự tự tin 
trong các cuộc thảo luận nhóm và luôn nỗ lực, có trách nhiệm trong học tập 
và rèn luyện bản thân. Ngoài ra các em cũng tự giác, tập trung cho các nhiệm 
vụ học tập, không cần giáo viên nhắc nhở và cũng tôn trọng nội quy và thực 
hiện nghiêm túc nội quy lớp học, trường học. 
 2. Ứng dụng 
 Từ những kết quả thống kê nêu trên, tôi thấy việc áp dụng các biện pháp 
đã thu được kết quả nhất định, học sinh sẽ học tập một cách tích cực, tự giác, 
độc lập và sáng tạo trong học tập, nhiều em rụt rè nay đã hăng say phát biểu 
xây dựng bài, lớp học sôi nổi, học sinh hứng thú, tiếp thu kiến thức nhanh 
chóng. Tôi thiết nghĩ biện pháp này có thể chia sẻ với bạn bè đồng nghiệp 
trong và ngoài nhà trường để làm tài liệu tham khảo giúp học sinh tích cực và 
tự giác hơn trong các hoạt động học tập và rèn luyện. 
 19 
 IV. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 
 1. Kết luận 
 Khi thực hiện theo giải pháp mới học sinh đã tích cực, tự giác hơn 
trong tất cả các hoạt động học tập và rèn luyện. Học sinh và giáo viên đã rút 
ngắn hơn khoảng cách, cô trò gần gũi và thân thiện hơn. Việc đổi mới phương 
pháp dạy học phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo đã rèn luyện 
cho học sinh thói quen và khả năng tự học, tinh thần hợp tác, kĩ năng vận 
dụng kiến thức vào những tình huống khác nhau trong học tập và trong thực 
tiễn, tạo niềm vui, hứng thú trong học tập. 
 2. Kiến nghị 
 2.1. Đối với giáo viên 
 - Trong công tác chủ nhiệm mỗi người giáo viên cần linh hoạt tổ chức 
các hoạt động giáo dục. 
 - Thường xuyên tự bồi dưỡng nâng cao chuyên môn, nghiệp vụ 
bản thân. 
 2.2. Đối với nhà trường 
 - Nâng cao hơn nữa việc quán triệt tinh thần học tập tới từng lớp, từng 
học sinh. 
 - Luôn tạo môi trường học tập và rèn luyện tốt nhất cho học sinh. 
 2.3. Đối với phụ huynh 
 - Quan tâm đến việc học tập của con ở trên lớp cũng như ở nhà. 
 - Chuẩn bị đầy đủ sách vở, đồ dùng học tập cho con. 
 - Đôn đốc, nhắc nhở việc tự học của con khi ở nhà. 
 Trên đây là biện pháp của tối, rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến 
của bạn bè đồng nghiệp. 
 * Cam kết: Chúng tôi cam đoan những điều khai trên đây là đúng sự thật 
và không sao chép hoặc vi phạm bản quyền. 
 Tôi xin chân thành cảm ơn ! 

File đính kèm:

  • pdfphat_huy_tinh_tich_cuc_tu_giac_hoc_tap_va_ren_luyen_cua_hoc.pdf