Biện pháp rèn kĩ năng giải toán có lời văn cho học sinh lớp 2

pdf8 trang | Chia sẻ: Chan Chan | Ngày: 10/02/2026 | Lượt xem: 1 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Biện pháp rèn kĩ năng giải toán có lời văn cho học sinh lớp 2, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút TẢI VỀ ở trên
 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM 
 Độc lập – Tự do – Hạnh phúc 
 THUYẾT MINH MÔ TẢ GIẢI PHÁP 
 1. Tên giải pháp: 
 Biện pháp rèn kĩ năng giải toán có lời văn cho học sinh lớp 2 
 2. Ngày giải pháp được áp dụng: 16/9/2020 
 3. Các thông tin cần bảo mật: Không 
 4. Mô tả các giải pháp cũ thường làm: 
 1. Phân tích đề toán: 
 - Cho học sinh đọc bài toán 1, 2 lần 
 - Giáo viên đặt câu hỏi: 
 + Bài toán cho biết gì? 
 + Bài toán hỏi gì? 
 + Ta phải làm phép tính gì? 
 2. Tìm cách giải bài toán: 
 - Chọn phép tính giải thích hợp: Yêu cầu học sinh tìm từ khóa của bài toán như “ 
ít hơn”, “ nhiều hơn”, “tất cả”, “ trong đó”, “ gộp”, “bớt”, để từ đó lựa chọn phép 
tính giải thích hợp. 
 - Đặt câu lời giải thích hợp: Thông thường tôi hay hướng dẫn các em : Dựa vào 
câu hỏi của bài toán rồi bỏ bớt từ đầu “hỏi” và từ cuối “mấy” rồi thêm từ “là” để có 
câu lời giải. 
 3. Giải bài toán: học sinh làm bài vào vở/ bảng phụ; nhận xét, chia sẻ, chấm 
chữa, bổ sung bài. Song chưa chú ý khai thác, mở rộng bài toán. 
 * Hạn chế: 
 Với cách làm như trên tôi nhận thấy nhiều học sinh chưa hiểu bản chất của bài 
toán mà thường làm rập khuôn máy móc theo gợi ý của cô hoặc sự giúp đỡ của bạn, 
chưa chủ động trong việc giải toán. Một số em thì cứ dựa vào từ khóa: “ ít hơn” là làm phép tính trừ, “ nhiều hơn” là làm phép tính cộng, “ trong đó” là làm phép tính 
trừ,... Bên cạnh đó việc tìm câu lời giải chưa đa dạng, có bài toán cả lớp có câu lời 
giải giống nhau. Khi gặp bài toán mở rộng, nâng cao học sinh gặp khó khăn không 
tìm ra cách giải. 
 5. Sự cần thiết phải áp dụng giải pháp: 
 Trong nhà trường phổ thông nói chung và nhà trường Tiểu học nói riêng, Toán là 
một môn chiếm vị trí quan trọng, nó là cơ sở, nền tảng để giúp học sinh tiếp thu các 
bộ môn khoa học khác. Đặc biệt là giải toán có lời văn, nó góp phần phát triển trí 
thông minh, cách suy nghĩ độc lập - linh hoạt sáng tạo, đồng thời nó góp phần giáo 
dục học sinh một số phẩm chất của con người như cần cù, cẩn thận, ý thức vượt khó, 
làm việc có kế hoạch, có nề nếp tác phong khoa học 
 Qua thực tế giảng dạy, tôi thấy các em học sinh từ lớp 1 lên lớp 2 khi giải toán 
có lời văn còn gặp nhiều khó khăn. Các em còn nhầm lẫn giữa các dạng toán, rập 
khuôn theo mẫu mà không giải thích được cách làm. Đặc biệt không nhận thấy được 
mối liên hệ giữa các số liệu, dữ kiện cụ thể của bài toán dẫn đến hiểu sai nội dung nên 
lựa chọn phép tính không đúng. Số học sinh có câu lời giải sáng tạo ít. Cụ thể qua bài 
khảo sát đầu năm lớp 2B3 của tôi năm học 2020-2021 như sau: 
 Số HS làm Số HS làm sai Số HS có 
 Tổng số 
 đúng bài toán Tỉ lệ bài toán có Tỉ lệ câu lời giải Tỉ lệ 
 học sinh 
 có lời văn lời văn sáng tạo 
 29 20/29 68,9% 9/29 31,1% 8/29 27,6% 
 6. Mục đích của giải pháp: 
 Với việc đề ra một số biện pháp rèn kĩ năng giải toán cho học sinh lớp 2 tôi 
mong muốn: 
 - Hình thành và phát triển năng lực giải toán có lời văn cho học sinh lớp 2. 
 - Học sinh nắm chắc các bước giải một bài toán có lời văn. 
 - Phát triển tư duy toán học, tư duy sáng tạo cho học sinh. - Nâng cao chất lượng môn toán. 
 7. Nội dung: 
 7.1. Thuyết minh giải pháp mới hoặc cải tiến: 
 Từ khó khăn, hạn chế của học sinh khi giải toán có lời văn, tôi đề ra một số 
biện pháp để giúp học sinh có kĩ năng giải toán có lời văn, cụ thể như sau: 
 1. Biện pháp 1: Xây dựng nền nếp, thói quen học tập 
 Đối với học sinh tiểu học, đặc biệt là học sinh lớp Một, Hai, việc tạo thói quen 
học tập là vô cùng cần thiết. Học sinh có nền nếp, thói quen học tập mới động não 
suy nghĩ, nghe bạn, nghe thầy cô kết hợp với năng lực bản thân cùng vốn kiến thức 
sẵn có sẽ tiếp thu bài tốt hơn. Để lớp có nền nếp, thói quen học tập tôi rèn học sinh 
bằng một số hình thức, như: 
 - Đội ngũ Ban lãnh đạo HĐTQ lớp cùng ban học tập chủ động kiểm tra sự chuẩn 
bị bài theo thời khóa biểu của các bạn, duy trì việc ôn bài đầu giờ. 
 - Rèn cho học sinh có thói quen học cộng tác nhóm, thói quen chia sẻ, chủ động 
tìm kiếm sự giúp đỡ khi gặp khó khăn,... 
 - Chú trọng phát triển năng lực tự học, giải quyết vấn đề của học sinh trong các 
môn học nói chung và nhất là trong toán học. 
 Kết quả: Cuối tháng 9 năm 2020, lớp tôi đã có nền nếp học tập tốt. Học sinh biết 
chuẩn bị sách vở, tìm hiểu trước nội dung bài học theo TKB, nhiều em còn có thể tự 
làm toán trước ở nhà. Các em bước đầu biết học theo nhóm, biết chia sẻ cùng bạn 
cùng cô, bài khó thì chủ động hỏi cô, bạn để được giúp đỡ. 
 2. Biện pháp 2: Nắm chắc qui trình giải bài toán 
 Đây là vấn đề then chốt cần cung cấp cho học sinh để tạo cho các em một thói 
quen phân tích và giải toán, các em không được dựa vào đơn phương dữ liệu hoặc 
câu hỏi để làm bài, vì có nhiều loại bài không thể hiện rõ cách làm trong dữ liệu của 
đề bài. 
 2.1. Tìm hiểu đề bài: Gồm các bước sau: 
 - Phải xuất phát từ câu hỏi chính của bài toán để phân tích đề. 
 - Tìm mối liên hệ giữa các đại lượng. - Phân biệt đâu là điều kiện, đâu là yêu cầu của bài, để tóm tắt bài toán bằng sơ 
đồ hoặc bằng lời.(khuyến khích HS tóm tắt bằng sơ đồ nếu bài toán có thể) 
 - Dùng ký hiệu biểu diễn mối liên hệ giữa điều kiện và yêu cầu đối với bài tóm 
tắt bằng sơ đồ và sắp xếp các đại lượng cùng một đơn vị ở một phía đối với bài toán 
tóm tắt bằng lời. 
 2.2. Xây dựng hướng giải: 
 Với hệ thống câu hỏi gợi mở ta xây dượng hướng giải quyết gồm cả nội dung 
tổng quát lẫn chi tiết. Khi các em đã xác định được dữ kiện đề ra và yêu cầu giải 
quyết thì giúp các em đi đến hướng giải quyết từ câu hỏi của bài (Vì toán có lời văn 
lớp 2 chỉ giải bằng một phép tính) 
 2.3. Trình bày bài giải: 
 Đây là bước quan trọng nhất và mới là thực sự là sản phẩm của các em. Sản 
phẩm tốt hay xấu là do kỹ năng vận dụng của từng cá nhân. Ở bước này các em 
thường sai lầm như sau: 
- Lời giải rườm rà, không gãy gọn, lúng túng, đôi khi lặp lại câu hỏi. 
- Dùng không đúng tên đơn vị, do vậy giáo viên đóng vai trò giúp đỡ, nhận xét từng 
sai sót và kịp thời uốn nắn sai lệch như: 
 + Dựa vào sơ đồ ( nơi có ghi dấu? ). 
 + Xác định lời giải ( số mét, số kg, số km, số cây...) 
 + Dựa vào câu hỏi đề ra để ghi lời giải. 
 + Dựa vào câu hỏi đề ra để ghi tên đơn vị. 
 Thực hiện lôgic như vậy sẽ có 1 sản phẩm tri thức chính xác. 
 * Ví dụ: Bài 4 trang 82- Toán 2. 
 Tóm tắt: 
 48 cây 
 Lớp 2A: 
 12 cây 
 Lớp 2B: 
 ? cây Bài giải: 
 Số cây lớp 2B trồng được là: 
 48 + 12 = 60( cây ) 
 Đáp số: 60 cây 
 2.4. Thử lại: 
 Đây là bước không thể hiện trong bài làm của học sinh, tuy nhiên tôi vẫn tạo cho 
học sinh có thói quen thử lại bài toán. Bởi vì, bước này rất cần thiết cho các em giải 
toán có đến hai phép tính trở lên ở các lớp trên, đồng thời giúp các em khắc sâu về 
mối quan hệ giữa phép cộng và trừ, giữa nhân và chia. 
 Kết quả: Các em học sinh khá giỏi đã có kĩ năng phân tích đề, thói quen thử lại 
bài toán trước khi nộp bài cho giáo viên kiểm tra. Đây là một dấu hiệu tốt cho việc 
học toán có lời văn. 
 3. Biện pháp 3: Củng cố kĩ năng vận dụng giải 
 Đây là bước luyện tập thực hành, để hình thành trong não các em một khu nhớ 
khắc sâu kiến thức không gì hơn là rèn luyện, bằng cách dựa vào sơ đồ lập nhiều đề 
toán khác nhau và giải hoặc cùng một đề toán nhưng thay đổi dữ kiện cho học sinh 
giải. Vì thế trong việc củng cố kiến thức và kĩ năng môn toán tiết luyện tập thực hành 
toán ( buổi chiều), tôi giúp các em củng cố như sau: 
 a. Vẫn bài toán học buổi sáng, thay số để học sinh giải (Đối với học sinh tiếp thu 
chậm ) 
 b. Cho phép tính, yêu cầu học sinh đặt đề, vẽ sơ đồ.(học sinh khá) 
 c. Cho sơ đồ, yêu cầu học sinh đặt đề và giải hoặc tự học sinh đặt đề thuộc loại 
toán và giải.(học sinh giỏi) 
 Kết quả: Đối với học sinh khá giỏi, các em không ngại đối với các yêu cầu mở 
rộng bài toán ở các tiết học tăng cường, ngược lại các em rất háo hức khi được giao 
nhiệm vụ đối với những bài toán mới lạ. 
 4. Biện pháp 4 : Tìm lời giải độc đáo, gãy gọn trong nhiều cách giải 
 Toán có lới văn, không phải bài nào cũng có nhiều cách giải, nhưng cần rèn 
luyện cho học sinh thói quen không bao giờ thỏa mãn với kết quả mà phải luôn luôn học hỏi không ngừng, chọn con đường ngắn nhất đến kết quả để có lời giải đúng mà 
ngắn nhất, hay nhất. Đây là bước tôi thường mở rộng cho các em ở tiết luyện tập thực 
hành toán ( buổi chiều). Tôi tiến hành như sau: 
 - Tổ chức cho các em một hai phút thảo luận nhóm đôi, tìm ra câu trả lời hay 
nhất. 
 - Các nhóm trình bày, bình chọn câu trả lời độc đáo nhất. 
 - Nhận xét tuyên dương ngay trước lớp. 
 Ví dụ: Sau bài toán số 4 trang 82- Toán 2, học sinh trả lời rất nhiều câu trả lời 
độc đáo: 
 - Số cây lớp 2B trồng được là (câu trả lời học sinh thường sử dụng nhiều nhất) 
 - Lớp 2B trồng được số cây là 
 - Lớp 2B có số cây trồng được là 
 - Số cây mà lớp 2B đã trồng được là 
 Kết quả: Đối với các bài toán có lời văn, một bài trong lớp tôi có ít nhất 2 dạng 
câu lời giải. Đặc biệt các em ngồi cùng bàn đã thể hiện rất rõ khả năng độc lập của 
mình qua lời giải bài toán không giống bạn cùng bàn. 
 5. Biện pháp 5: Rèn tư duy toán học, tư duy sáng tạo cho học sinh thông 
qua việc đưa ra các câu hỏi mở, tình huống mở có vấn đề 
 Trong quá trình giảng dạy, tôi hạn chế tối đa việc sử dụng các câu hỏi: “có -
không”, “đúng - sai”. Tôi thường đưa ra các câu hỏi mở, tình huống mở để cho học 
sinh tư duy tìm ra nhiều câu trả lời khác nhau, từ đó sẽ phát triển tư duy toán học, tư 
duy sáng tạo cho học sinh. 
 * Ví dụ: Bài tập số 4 - trang 26 - Toán 2 
 Em 7 tuổi, anh hơn em 5 tuổi. Hỏi anh bao nhiêu tuổi? 
 Để giúp học sinh giải bài toán trên tôi hướng dẫn các em theo 4 bước (biện pháp 
2). Khi học sinh thực hiện chữa bài, chia sẻ giáo viên sẽ đưa ra các câu hỏi mở, như: 
“ Em thấy câu trả lời của bạn thế nào?” thay vì hỏi: “ Câu trả lời của bạn đúng 
chưa?”,... 
 Sau đó, tôi sẽ đưa ra các tình huống mở cho bài toán. Chẳng hạn: Anh 7 tuổi, anh hơn em 5 tuổi. Hỏi em bao nhiêu tuổi? 
 Như vậy với tình huống mở trên học sinh sẽ phải tư duy, so sánh dữ kiện của bài 
toán mới so với bài toán ban đầu để thấy được bản chất bài toán đã có sự thay đổi từ 
dạng toán “nhiều hơn” sang dạng toán “ít hơn”. 
 Hoặc cũng có thể yêu cầu học sinh với hiểu biết cuả mình đặt ra bài toán thực tế 
có dạng toán giống bài toán đã cho,... 
 Kết quả: Đến nay, mỗi khi các em gặp bài toán có lời văn thì hầu hết các em có 
thói quen xác định ngay loại toán trước khi giải. Nhiều em có khả năng giải được 
những bài toán có nội dung mở rộng, nâng cao so với chương trình trong sách giáo 
khoa. Đó là một thành công mà tôi luôn mong đợi. 
 Kết quả kiểm tra môn Toán cuối kì 1, năm học 2020 -2021 của lớp tôi đã thể 
hiện rất rõ kĩ năng làm bài của các em. 
 Cụ thể : 
 Số HS làm Số HS làm sai Số HS có 
 Tổng số 
 đúng bài toán Tỉ lệ bài toán có Tỉ lệ câu lời giải Tỉ lệ 
 học sinh 
 có lời văn lời văn sáng tạo 
 29 29/29 100% 0/29 0% 20/29 68,9% 
 Như vậy so với đầu năm học, các em học sinh đã tiến bộ nhiều không chỉ về kĩ 
năng giải toán có lời văn mà tôi còn nhận thấy các em được phát triển các năng lực 
như: tự chủ và tự học, hợp tác nhóm, giải quyết vấn đề theo nhiều cách khác nhau, tư 
duy sáng tạo. Bên cạnh đó phẩm chất trách nhiệm, chăm chỉ,.. cũng được hình thành 
và phát triển. Đó cũng những yêu cầu cần đạt của chương trình Giáo dục phổ thông 
2018 đề ra. 
 7.2. Thuyết minh về phạm vi áp dụng giải pháp: 
 Tôi đã tiến hành áp dụng các biện pháp trên với đối tượng là 29 học sinh lớp 2B3 
Trường Tiểu học Thị trấn Phồn Xương, năm học 2020-2021. Biện pháp này có thể áp dụng cho mọi đối tượng học sinh lớp 2 trường Tiểu học 
Thị trấn Phồn Xương nói riêng cũng như trong toàn huyện nói chung. 
 7.3. Thuyết minh về lợi ích kinh tế, xã hội của giải pháp: 
 Việc áp dụng các biện pháp trên cho học sinh không tốn kém về kinh tế. 
 Thực hiện tốt biện pháp này sẽ mang lại hứng thú học tập cho học sinh, nâng cao 
hiệu quả giáo dục, góp phần rèn cho học sinh có được những năng lực, phẩm chất đáp 
ứng được yêu cầu của đổi mới giáo dục hiện nay. 
 * Cam kết: Tôi cam đoan những nội dung trên đây là đúng sự thật và không sao 
chép hoặc vi phạm bản quyền. 
 Xác nhận của cơ quan, đơn vị Tác giả 
 Dương Thị Hiền 

File đính kèm:

  • pdfbien_phap_ren_ki_nang_giai_toan_co_loi_van_cho_hoc_sinh_lop.pdf