Một số giải pháp phát triển năng lực giao tiếp cho học sinh lớp 2
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Một số giải pháp phát triển năng lực giao tiếp cho học sinh lớp 2, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút TẢI VỀ ở trên
PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO YÊN THẾ TRƯỜNG TIỂU HỌC TÂN SỎI BIỆN PHÁP Tên biện pháp: “MỘT SỐ BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN KĨ NĂNG GIAO TIẾP CHO HỌC SINH LỚP 3” Họ và tên: Trần Thị Thu Trang Đơn vị : Trường Tiểu học Tân Sỏi huyện Yên thế, tỉnh Bắc XÁC NHẬN CỦA NHÀ TRƯỜNG NGƯỜI VIẾT HIỆU TRƯỞNG (Ký, ghi rõ họ tên) Lê Thu Hường Trần Thị Thu Trang Yên Thế, tháng 4 năm 2024 2 MỤC LỤC Trang I. PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn tên biện pháp 2 2. Mục đích nghiên cứu 3 3. Nhiệm vụ nghiên cứu 3 4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 3 5. Phương pháp nghiên cứu 3 II. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 1. Cơ sở lí luận 3 2. Cơ sở thực tiễn 4 3. Một số biện pháp 3.1. Giải pháp 1: Phân loại khả năng giao tiếp và giữ mối liên 5 hệ chặt chẽ với cha mẹ học sinh. 3.2. Giải pháp 2: Linh hoạt áp dụng phương pháp dạy học 7 nhằm rèn kỹ năng giao tiếp cho học sinh 3.3. Giải pháp 3: Hướng dẫn kỹ năng giao tiếp giữa thầy và trò, giữa trò với trò. 11 3.4. Giải pháp 4: Rèn kỹ năng giao tiếp qua các tiết Hoạt 13 động tập thể, Hoạt động ngoài giờ lên lớp, đặc biệt là tiết Sinh hoạt lớp. III. KẾT QUẢ VÀ ỨNG DỤNG 14 IV. KẾT LUẬN 18 TÀI LIỆU THAM KHẢO 20 3 I. PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn biện pháp Trường học không chỉ là môi trường giáo dục, giúp học sinh nâng cao kiến thức mà còn cần phải tạo điều kiện cho trẻ phát triển các kỹ năng giao tiếp để thích nghi tốt hơn với cuộc sống ngoài xã hội trong tương lai. Vì vậy để làm tốt công tác chủ nhiệm lớp, đặc biệt là kỹ năng giao tiếp giúp cho học sinh biết nói đủ câu khi trả lời các câu hỏi học tập, khi trò chuyện với bạn cùng lớp với thầy cô giáo, biết xử lý tình huống, tự tin trao đổi với bạn, tích cực tham gia vào các hoạt động của lớp của trường, tôi nhận thấy rằng rèn năng lực giao tiếp cho học sinh lớp 2 ở Tiểu học là cực kì quan trọng, là nhân tố số một quyết định chất lượng giáo dục toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ và các kĩ năng sống cơ bản cho học sinh. Rèn năng lực giao tiếp là người giáo viên phải rèn cho học sinh năng lực về ngôn ngữ nghe, nói, đọc, viết nhằm giúp học sinh sử dụng ngôn ngữ tiếng Việt có hiệu quả trong suy nghĩ và trong giao tiếp. Ngôn ngữ giao tiếp là cầu nối giữa ba môi trường giáo dục gia đình, nhà trường và xã hội. Hiện nay, vì nhiều lý do xuất phát từ gia đình và xã hội nên có rất nhiều học sinh tiểu học vẫn còn hạn chế trong vấn đề ứng xử, giao tiếp với người khác còn nhút nhát, một số em còn có sự nuông chiều của gia đình, được gia đình phục vụ đáp ứng mọi yêu cầu chỉ biết học nên việc giao tiếp còn hạn chế. Vì sự mưu sinh của gia đình không ít cha mẹ học sinh đã giao phó việc giáo dục con cái cho nhà trường, ít quan tâm đến con em mình nên năng lực giao tiếp chưa phát triển đúng theo độ tuổi, lời nói của các em nói chưa đủ câu, sử dụng từ chưa phù hợp trong giao tiếp, trong học tập cũng như trong cuộc sống. Đó cũng là băn khoăn, suy nghĩ của bản thân tôi làm thế nào để rèn các em học sinh tự tin, mạnh dạn và giao tiếp hiệu quả hơn. Chính vì lẽ đó tôi chọn giải pháp “Một số giải pháp phát triển năng lực giao tiếp cho học sinh lớp 2” góp phần hoàn thành mục tiêu giáo dục tất cả vì sự phát triển toàn diện của trẻ em lứa tuổi tiểu học. 4 2. Mục đích nghiên cứu Biện pháp nhằm mục đích giúp học sinh mạnh dạn hơn, không còn ngại gần gũi, ngại tiếp xúc với mọi người; các em có cơ hội phát huy tối đa những khả năng vốn có của mình trong giao tiếp, học tập cũng như mọi hoạt động ở lớp, ở trường. 3. Nhiệm vụ nghiên cứu - Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn về năng lực giao tiếp của học sinh. - Tiến hành khảo sát đánh giá thực trạng năng lực giao tiếp của học sinh lớp 2B trường Tiểu học nơi tôi công tác. Đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển năng lực giao tiếp cho học sinh. 4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu: Một số giải pháp phát triển năng lực giao tiếp cho học sinh lớp 2. Phạm vi nghiên cứu: Học sinh lớp 2B trường Tiểu học nơi tôi công tác. 5. Phương pháp nghiên cứu - Phương pháp nghiên cứu lý thuyết. - Phương pháp nghiên cứu thực tiễn. - Phương pháp phân tích, tổng hợp, thống kê. II. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 1. Cơ sở lý luận Theo “Từ điển thuật ngữ ngôn ngữ học” thì giao tiếp được định nghĩa là sự thông báo hay truyền đạt thông báo nhờ một hệ thống mã nào đó. Theo đó có thể hiểu giao tiếp là hoạt động giữa hai người hay hơn hai người nhằm bày tỏ với nhau một thông tin trí tuệ hay một thông tin cảm xúc nào đó, của một ý muốn hành động hay một ý muốn nhận xét nào đó. Cũng như các hoạt động tâm lý khác, hoạt động lời nói chỉ nảy sinh khi có động cơ nói năng. Chính vì vậy công việc đầu tiên của dạy học là tạo ra được động cơ, nhu cầu nói năng, kích thích học sinh tham gia vào cuộc giao tiếp. Do đó nội dung dạy học phải gần gũi, thân thiết với học sinh, từ đó học sinh có hứng thú với những vấn đề xung quanh cuộc sống, tham gia tích cực vào hoạt động giao tiếp. 5 Mỗi cá nhân cần được trang bị tốt các năng lực giao tiếp hiệu quả. Trong thực tế, một người có khả năng giao tiếp tốt thì người đó rất dễ thành công trong công việc và cuộc sống. Nói tóm lại, kỹ năng giao tiếp là nghệ thuật, là cách thức biểu lộ tình cảm, trò chuyện... Năng lực giao tiếp là một trong những kỹ năng nền tảng để giúp học sinh nhận thức được cái mới, các giá trị cuộc sống và hình thành các kỹ năng sống khác như: chia sẻ, hợp tác,.. từ đó giúp cho kết quả học tập của các em được nâng lên. Vì thế cần phải quan tâm và giúp đỡ học sinh phát triển đúng hướng, từng bước một trong suốt chiều dài phát triển nhân cách của học sinh. 2. Cơ sở thực tiễn Trong những năm học trước, giáo viên thường chú trọng công tác giảng dạy, truyền đạt kiến thức thông qua các môn học theo một chiều dẫn đến sự tương tác giữa thầy cô với trò và giữa trò với trò còn hạn chế. Vì vậy năng lực giao tiếp của học sinh trong học tập và giao tiếp hàng ngày còn nhiều hạn chế. Năm học 2022 – 2023 tôi được phân công giảng dạy và chủ nhiệm lớp 2B. Qua tìm hiểu, khảo sát thông qua giảng dạy, các hoạt động ngoài giờ lên lớp tôi thu được kết quả như sau: Trước khi thực hiện các giải pháp Nhóm Lớp 2B (Sĩ số: 32 HS) Số HS Tỉ lệ (%) Nhóm 1: Giao tiếp khá tốt, tự tin, có lời nói lưu loát, diễn đạt trôi chảy, biết thể hiện lời nói biểu cảm trong 5 15,6 % giao tiếp. Nhóm 2: Diễn đạt lời nói tương đối lưu loát, trôi chảy 15 46,9 % nhưng thiếu tự tin trong giao tiếp. Nhóm 3: Nhút nhát, ngại giao tiếp, diễn đạt lời nói chưa 12 37,5 % rõ ý. 6 3. Các biện pháp 3.1. Giải pháp 1: Phân loại khả năng giao tiếp và giữ mối liên hệ chặt chẽ với cha mẹ học sinh. a) Phân loại học sinh Ngay từ đầu năm học, nhà trường chỉ đạo cho giáo viên các khối lớp bàn giao công tác chủ nhiệm, tôi đã liên hệ với giáo viên chủ nhiệm cũ hỏi cặn kẽ về từng học sinh, tìm hiểu hoàn cảnh, sở thích và cá tính của từng em Đồng thời trong quá trình giảng dạy, tôi nắm được tình hình chất lượng và các mặt hoạt động khác của từng học sinh trong lớp. Do đó, tôi đã mạnh dạn phân loại học sinh theo các nhóm sau: Nhóm 1: Học sinh giao tiếp khá tốt, có lời nói lưu loát, diễn đạt trôi chảy, biết thể hiện lời nói biểu cảm trong giao tiếp. Ở nhóm này, phần lớn là các em học sinh tiếp thu bài học khá tốt, nắm vững các kiến thức, kĩ năng các môn học. Trong các phong trào của trường, lớp như văn nghệ, hoạt động tập thể, thể dục, thể thao,... các em đều tự tin, chủ động và tích cực tham gia, cũng chính từ việc tham gia nhiều hoạt động như vậy, đã giúp các em trở nên mạnh dạn, năng động hơn, tự tin thể hiện ý kiến của mình trước đám đông. Nhóm 2: Học sinh có lời nói tương đối lưu loát, trôi chảy nhưng thiếu tự tin trong giao tiếp. Các em học sinh ở nhóm này có khả năng tiếp thu kiến thức khá tốt. Khả năng diễn đạt của các em cũng khá rõ ràng, mạch lạc. Qua quan sát, tôi nhận thấy mặc dù các em thường rất thoải mái trò chuyện với bạn bè hay những người thân quen, nhưng các em lại rất ngại tiếp xúc với người lạ hoặc trước đám đông. Thông thường các em rất khi chủ động trong việc phát biểu ý kiến của bản thân. Đây là nhóm học sinh mà chúng ta cần khích lệ, quan tâm, động viên kịp thời để giúp các em giải tỏa tâm lí ngại ngùng, e dè, nhút nhát khi giao tiếp. 7 Nhóm 3: Học sinh còn nhút nhát, ngại giao tiếp, diễn đạt lời nói chưa rõ ý. Ở nhóm này, một biểu hiện rõ nét nhất là trong giờ học, các em rất ít tham gia phát biểu ý kiến. Và nếu phải phát biểu, các em thường nói rất nhỏ, nội dung lời nói thường lan man, không rõ ý và thường không nhìn thẳng vào mắt người đang nói chuyện với mình. Đây là nhóm học sinh cần nhiều sự quan tâm về việc tăng cường rèn luyện kĩ năng giao tiếp cho các em. Bởi lẽ, các em vừa gặp khó khăn trong diễn đạt bằng ngôn ngữ vừa có tâm lí e ngại, sợ giao tiếp, nói chưa thành câu. Sau khi phân tích đặc điểm cũng như khả năng giao tiếp của từng học sinh trong lớp, tôi tiến hành xếp chỗ ngồi cho học sinh sao cho phân bố đều khắp 3 đối tượng học sinh nêu trên trong các tổ, các nhóm. Từ đó, tôi lập kế hoạch chủ nhiệm – hình thành ban cán sự lớp, biên chế tổ học tập, nhóm học tập, đôi bạn học tập, theo tình hình chất lượng lớp, tạo điều kiện cho các em được học tập, trao đổi, giúp đỡ lẫn nhau. b) Giữ mối quan hệ chặt chẽ với cha mẹ học sinh. Thực tế cho thấy nhiều học sinh ở trường rất ngoan nhưng khi về nhà thì lại ngược lại. Chính vì vậy ngay từ đầu năm học, tôi đã xây dựng kế hoạch cho buổi họp PHHS thật cụ thể, chi tiết. Tại buổi họp phụ huynh đầu năm, tôi đã triển khai thời khoá biểu, thời gian học, nội quy của lớp, quy định về sách vở, đồ dùng học tập, đồng phục và một số phong trào lớn của Nhà trường như: vở sạch chữ đẹp, hát múa sân trường Qua đó, đề ra biện pháp để phụ huynh cùng GVCN rèn nề nếp học sinh như sau: Hằng ngày kiểm tra sách vở của con em mình. Nhắc nhở con em học bài cũ và chuẩn bị bài mới trước khi đến lớp. Chuẩn bị sách vở và đồ dùng học tập cho con em theo thời khoá biểu hằng ngày. Giáo dục con ý thức gọn gàng, ngăn nắp khi học tập, vui chơi. Sinh hoạt điều độ, đúng thời khoá biểu, giờ nào việc nấy tránh tình trạng vừa học vừa chơi. Thường xuyên trao đổi với GVCN qua trò chuyện trực tiếp, điện thoại hoặc qua sổ cá nhân, phiếu liên lạc để kịp thời nhắc nhở, khuyên bảo, đôn đốc học sinh nề nếp học tập ở lớp cũng như ở nhà, đặc biệt là việc rèn các kĩ năng sống trong đó có kĩ năng giao tiếp cho các em. 8 Ngoài ra, việc chuẩn bị bài học trước khi lên lớp sẽ giúp các em tự tin hơn khi phát biểu. Vì vậy, giáo viên cũng phải luôn đề cao việc học tập và chuẩn bị bài ở nhà của học sinh, cùng với cha mẹ học sinh thường xuyên kiểm tra bài làm và cũng như sự chuẩn bị bài ở nhà của các em. Hơn nữa, cha mẹ học sinh là người tiếp xúc nhiều nhất với các em khi ở nhà, người trực tiếp dạy dỗ chỉ bảo các em từng lời ăn tiếng nói khi tiếp xúc với mọi người xung quanh, cha mẹ học sinh cần nhắc nhở các em nói năng lễ phép và mạnh dạn hơn. Thực hiện giải pháp này tôi đã phân loại được đối tượng học sinh của lớp, từ đó đưa ra kế hoạch và biện pháp kèm cặp cụ thể. Đến thời điểm này, các em đã tích cực học tập, các em có hoàn cảnh khó khăn đã có đầy đủ sách vở, đồ dùng học tập để đi học. Học sinh nhút nhát đã mạnh dạn, tự tin, hoà nhập cùng các bạn trong sinh hoạt. Trong quá trình học tập cùng với sự giúp đỡ, động viên, cổ vũ của các bạn trong nhóm sẽ giúp các em mạnh dạn, năng động hơn rất nhiều trong quá trình rèn luyện kỹ năng nói, tự tin hơn trước lời phát biểu của mình. Cha mẹ học sinh đã kịp thời nắm bắt được tình hình học tập của con em mình ở trường, có sự chuẩn bị chu đáo cho con em mình khi đi học. So với đầu năm học, học sinh mạnh dạn, tự tin hơn khi đến lớp. Tạo được mối quan hệ tốt giữa nhà trường và gia đình học sinh, phụ huynh có niềm tin vào kế hoạch giáo dục của nhà trường. 3.2. Biện pháp 2: Linh hoạt áp dụng phương pháp dạy học nhằm rèn năng lực giao tiếp cho học sinh. Linh hoạt áp dụng phương pháp dạy học là dạy và học theo hướng tích cực chủ động, sáng tạo trong đó học sinh phải tự phát hiện, tự giải quyết vấn đề, tự chiếm lĩnh kiến thức mới theo sự tổ chức và hướng dẫn hợp lý của giáo viên. Trong các tiết học, tôi đã vận dụng linh hoạt các phương pháp, hình thức dạy học phù hợp tạo điều kiện cho học sinh rèn luyện năng lực giao tiếp của mình. 9 - Phương pháp cộng tác nhóm: Tổ chức nhóm là nhằm tạo cơ hội cho mọi đối tượng được nói, được trình bày miệng trước tổ, được mạnh dạn trình bày và biết cách trình bày một vấn đề trước tập thể. Từ đó, giúp các em rèn kỹ năng giao tiếp, biểu hiện thái độ cử chỉ khi trình bày, mạnh dạn, tự tin hơn khi nói trước đông người. Vì vậy, đối với các môn học mục tiêu là rèn kỹ năng giao tiếp cho học sinh tôi thường vận dụng hình thức này như đối với phân môn Tập làm văn khi dạy các bài như: Chào hỏi. Tự giới thiệu; Cảm ơn, xin lỗi; Kể về người thân; tôi thường cho học sinh tự suy nghĩ cá nhân sau khi xác định yêu cầu của bài tập, cộng tác nhóm với bạn, thống nhất kết quả để thực hiện bài tập, sau đó các nhóm trình bày kết quả thảo luận của nhóm mình. - Trong khi học sinh thảo luận nhóm, giáo viên cần quan sát, theo dõi và hướng dẫn, hỗ trợ khi các em gặp khó khăn trong quá trình thảo luận bằng cách đặt câu hỏi, hướng dẫn trả lời, cung cấp thêm thông tin cho các em. - Khi các nhóm trình bày, các nhóm khác phải lắng nghe nhóm bạn trình bày, nhận xét, bổ sung và so sánh cách làm, kết quả với nhóm mình. Đồng thời, giáo viên cần động viên, khuyến khích các nhóm và cá nhân đưa ra các câu hỏi có liên quan đến công việc của mỗi nhóm để học sinh trả lời. Tôi luôn sử dụng phương pháp này vào giảng dạy nhằm làm cho tất cả học sinh được hoạt động, tạo không khí lớp học sôi động, hấp dẫn, các em tiếp thu bài cũng dễ dàng hơn, đặc biệt tạo điều kiện để các em bổ sung vốn từ Tiếng Việt một cách hiệu quả. - Trò chơi học tập: Trò chơi học tập là hình thức học tập có hiệu quả đối với học sinh, đặc biệt là những em ngại nói, tức là ngại giao tiếp, trò chơi học tập sẽ làm cho các em hứng thú hơn trong học tập. Thông qua trò chơi, học sinh được luyện tập, làm việc cá nhân, làm việc trong đơn vị nhóm, đơn vị lớp theo sự phân công và tinh thần hợp tác. Trò chơi tạo cơ hội cho học sinh tự hoạt động, tự củng cố kiến thức, tự hoàn thiện năng lực giao tiếp của chính mình. 10 Các trò chơi học tập có thể tổ chức cho học sinh trong giờ tự học, giờ ra chơi hoặc giờ sinh hoạt lớp hay trong phần củng cố của mỗi giờ học. Qua các trò chơi này, học sinh được tăng cường rèn luyện các kiến thức vừa được học, từ đó sẽ nhớ bài và vận dụng vào việc giao tiếp trong đời sống hằng ngày. Ví dụ: Trò chơi phỏng vấn (Tự nhiên và xã hội, bài 19: Đường giao thông) Để củng cố cho học sinh về các loại đường giao thông, phương tiện giao thông và nhận biết một số biển báo giao thông. Cách chơi: Một học sinh là phóng viên đến thăm lớp và hỏi các bạn một số câu hỏi liên quan đến bài học, như: + Bạn biết những loại đường giao thông nào? + Đường bộ dành cho phương tiện giao thông nào? + Tàu hỏa là phương tiện ở đường giao thông nào? + Đường thủy, đường hàng không dành cho những phương tiện nào? + Ở nơi bạn ở có những loại đường và phương tiện giao thông nào? + Tại sao chúng ta cần nhận biết một số biển báo trên đường giao thông? Qua trò chơi này cùng với những kiến thức vừa được học, các em sẽ thấy hứng thú và chủ động tham gia phát biểu ý kiến trước lớp. - Phương pháp thuyết trình – kể chuyện – đóng vai Đây là hình thức học tập được áp dụng nhiều ở phân môn Kể chuyện qua bài tập “Phân vai dựng lại câu chuyện”. Để học sinh có kỹ năng giao tiếp tốt, giáo viên cần chú ý cho học sinh có giọng kể thích hợp kết hợp cùng cử chỉ, điệu bộ trong khi đóng vai. Đặc biệt nắm vững nội dung câu chuyện định kể. Ví dụ 1: Tiết kể chuyện, bài 4: Bím tóc đuôi sam. Giáo viên có thể cho học sinh tham gia dựng lại câu chuyện như sau: - Các nhân vật: Người dẫn chuyện, thầy giáo, Hà, Tuấn, các bạn gái. - Phần 1: Hà đến lớp với hai bím tóc nhỏ và được các bạn khen. - Phần 2: Tuấn nghịch, kéo bím tóc của Hà . 11 - Phần 3 : Bạn Hà gặp thầy giáo. - Phần 4: Tuấn xin lỗi Hà. - Học sinh chọn vai phù hợp với từng nhân vật. - Giáo viên hướng dẫn cách diễn xuất cho từng nhân vật (qua ánh mắt, cử chỉ, động tác, lời nói...). - Học sinh trình diễn, cả lớp nhận xét, bình chọn học sinh diễn xuất giỏi để tuyên dương. Sau khi thực hiện giải pháp này, học sinh mạnh dạn trao đổi ý kiến với các bạn trong thảo luận nhóm. Các em mạnh dạn trình bày kết quả học tập của nhóm to, rõ ràng, lưu loát, tự tin; mạnh dạn đặt câu hỏi giao lưu với bạn dựa trên chuẩn kiến thức và kỹ năng. Các em nhút nhát tự tin hơn khi trình bày ý kiến. Tiết học trở nên sôi nổi, học sinh hứng thú hơn trong học tập. Ví dụ 2: Trong giờ học môn Đạo đức lớp 2, bài “Lịch sự khi đến nhà người khác”, có hoạt động đóng vai theo tình huống ở bài tập 4/40, trong hoạt động này học sinh sẽ thảo luận nhóm để chọn tình huống và cùng tham gia đóng vai, giáo viên quan sát và hỗ trợ các nhóm còn rụt rè,giúp các em thể hiện được cử chỉ, điệu bộ, nét mặt trong giao tiếp. Cụ thể: Tình huống a) Em sang nhà bạn chơi và thấy trong tủ nhà bạn có nhiều đồ chơi đẹp mà em rất thích. Tôi hướng dẫn học sinh kết hợp lời nói lịch sự với cử chỉ, nét mặt để xử lí tình huống cho phù hợp: Học sinh 1 (nói nhẹ nhàng): Con gấu bông này thật đẹp! Mình thích nó lắm. Bạn cho mình mượn chơi một lát được không? Học sinh 2 (nét mặt vui vẻ): Để mình lấy cho bạn. Việc đóng vai đã tạo cho các em sự mạnh dạn, nói to dõng dạc hơn khi đứng trước đám đông và giúp các em có kỹ năng giao tiếp hạn chế học tập cách sử dụng ngôn từ, cách xưng hô phù hợp, có những cử chỉ, hành vi lịch sự, văn minh. 12 Bên cạnh đó, sách thiếu nhi là phương tiện phản ánh hiện thực khách quan bằng hình ảnh, ngôn ngữ phù hợp với tâm lí lứa tuổi của các em. Đọc sách, các em có thể tiếp cận và lĩnh hội các giá trị văn hóa, đồng thời hình thành và phát triển những phẩm chất tốt đẹp. Song trong những năm gần đây, sự phát triển và phổ biến của Internet đã ảnh hưởng khá lớn tới nhu cầu và thị hiếu đọc sách của giới trẻ, đặc biệt là các em lứa tuổi thiếu niên và nhi đồng, các em không còn thích đọc sách như trước. Vì thế tiết đọc thư viện đóng một vai trò quan trọng trong việc góp phần tôn vinh văn hóa đọc và rèn kỹ năng giao tiếp cho học sinh. Thay vì học sinh thường xuyên học tập ở lớp học thì vào tiết đọc tại thư viện, các em sẽ đến một không gian học tập mới đó là phòng đọc thư viện với môi trường học tập rộng rãi, thoải mái, căn phòng được trưng bày sinh động, hấp dẫn các em. Ngoài ra, giáo viên cũng cần tổ chức cho học sinh đọc thêm sách, báo, truyện trong giờ ra chơi; hướng dẫn các em tìm những sách, báo, tài liệu có nội dung phù hợp. Mỗi thầy cô giáo, những người có ảnh hưởng trực tiếp đến học sinh, cần phải là những tấm gương về sử dụng ngôn ngữ và ngữ pháp tiếng Việt, thường xuyên giao tiếp với các em để khích lệ, nhắc nhở hay chấn chỉnh hoạt động giao tiếp của học sinh; tạo thêm nhiều cơ hội giao tiếp. 3.3. Biện pháp 3: Hướng dẫn kỹ năng giao tiếp giữa thầy và trò, giữa trò với trò. Sau hai tuần giảng dạy tôi đã theo dõi thấy một số em giao tiếp với bạn bè còn nhút nhát, rụt rè, nói cộc lốc, không đủ ý, đủ câu. Với thầy cô, người lớn thì lời nói chưa lễ phép, chưa tự tin. Khi tham gia vào các hoạt động, các em chưa mạnh dạn trình bày ý kiến của mình trước đám đông, bạn bè. Chính những điều đó làm ảnh hưởng không ít đến việc học tập của các em cũng như của lớp. Vậy để các em có nhu cầu muốn giao tiếp với thầy cô, bè bạn thì điều đầu tiên, tôi luôn cố gắng tạo không khí lớp học thân thiện, gần gũi. Chỉ khi các em xem lớp học là chính ngôi nhà của mình, xem thầy cô, bè bạn là những người thân của mình thì các em mới dễ dàng nói lên suy nghĩ của bản thân hơn. Trong quá trình giảng dạy, tôi luôn gần gũi, động viên các em, đặc 13 biệt quan tâm hơn đến những em ít nói, thụ động, những câu hỏi dễ thường dành cho những em đó trả lời để các em cùng tham gia nói, tạo sự tự tin trong các em. Đối với những em học tốt, tôi khuyến khích gợi mở bằng những câu hỏi nâng cao hơn, khó hơn một chút để các em mạnh dạn trình bày ý kiến của mình, kích thích sự hứng thú ham học của các em. Ngoài ra, trong quá trình giao tiếp hằng ngày tôi tiến hành sửa câu, sửa cách nói cho các em trong mọi lúc, mọi nơi. * Ví dụ: Trong giờ học, khi học sinh đứng lên trả lời trống không, tôi hướng dẫn các em trước khi trả lời phải “Thưa cô (thưa thầy)” và trả lời trọn câu, trọn ý và vận dụng vào cuộc sống hàng ngày. Với cách giao tiếp bằng các câu hỏi như: Em nào có ý kiến? Em nào trả lời câu hỏi? Em nào có ý kiến khác không?...giúp học sinh cảm thấy tiết học nhẹ nhàng, thân thiện, không gò bó, thoải mái khi học tập. - Khi giao tiếp với bạn bè, một số em có cách xưng hô không phù hợp như dùng danh xưng “mày - tao”, với những em này, tôi hướng dẫn các em dùng cách xưng hô phù hợp hơn, như xưng tên hay “cậu - tớ”, “bạn - mình” để tình bạn thêm thân thiện, gắn kết hơn. Ban đầu tôi hướng dẫn, sửa lời nói cho các em. Tiếp theo, tôi tổ chức cho các em trải nghiệm thực tế bằng cách đóng vai, chơi các trò chơi. Qua những tình huống cụ thể, tôi tiến hành đưa ra các câu hỏi như: + Qua trò chơi em thích cách nói của bạn nào? Vì sao em thích? + Qua trò chơi em không thích cách nói của bạn nào? Vì sao? + Nếu em là bạn em sẽ nói thế nào? Từ đó, các em nhận ra cần nên nói như thế nào là lịch sự, lễ phép và phải ứng xử như thế nào cho phù hợp với từng tình huống. Đối với những em còn e dè, nhút nhát tôi thường xuyên hướng dẫn cho nhóm trưởng cho trình bày phát biểu ý kiến trong nhóm nhiều và tôi cũng thường xuyên cho những học sinh đó phát biểu trước lớp nhiều hơn. Động viên khen thưởng kịp thời để các em có tinh thần tự giác, tích cực trong giao tiếp. 14 Sau khi áp dụng giải pháp trên các em mạnh dạn, tự tin, tích cực hơn khi tham gia vào các hoạt động sinh hoạt ngoại khóa, sinh hoạt lớp, sinh hoạt đầu giờ. Các em không còn e ngại, rụt rè trước đám đông khi trình bày ý kiến của mình. Các em đã biết nói đầy đủ câu, ứng xử phù hợp với từng tình huống cụ thể đặc biệt là không có hiện tượng nói trống không; xưng hô đúng mực tự tin trình bày các ý kiến của mình với thầy cô. Biết thưa gửi, lễ phép trong từng lời nói của mình, các hoạt động diễn ra một cách có hiệu quả hơn. 3.4. Biện pháp 4: Rèn kỹ năng giao tiếp qua các tiết Hoạt động tập thể, Hoạt động ngoài giờ lên lớp, đặc biệt là tiết Sinh hoạt lớp. Khi nhận lớp vào buổi học đầu tiên, tôi tạo không khí lớp học gần gũi, cởi mở với các em bằng cách tổ chức hoạt động “Làm quen”. Đầu tiên, tôi niềm nở chào hỏi học sinh, tự giới thiệu bản thân bằng ngôn từ chuẩn mực, nói chậm, to, rõ ràng. Sau đó, khuyến khích học sinh làm quen với cô giáo và bạn bè trong lớp; gợi ý cho các em: khi bắt chuyện cần nở nụ cười thân thiện, sau đó giới thiệu về bản thân rồi đặt câu hỏi để hiểu về bạn; nhắc các em điểm cần lưu ý: dù là bạn mới nhưng các em cũng phải thể hiện sự quan tâm, yêu quý, kết nối với nhau bằng cử chỉ, lời nói chân thành. Tiếp đến, tôi cùng các em xây dựng 10 điều văn minh lịch sự trong giao tiếp treo ở lớp để học sinh đọc và thực hiện hằng ngày. Sau khi xây dựng các quy tắc giao tiếp, cả lớp thống nhất sẽ cùng thực hiện tốt. 10 ĐIỀU VĂN MINH TRONG GIAO TIẾP CỦA HỌC SINH Một là nếp sống văn minh, Có hoài bão đẹp học hành chăm ngoan. Hai là tự trọng bản thân, Cũng như bè bạn xa gần không quên. Ba là đi đứng tác phong, Nói lời nói đẹp trên đường em đi. Bốn là khi gặp thầy cô, Kính trọng, lễ phép sao cho dịu dàng. 15 Năm là cuộc sống đời thường, Phiền ai “xin lỗi”, giúp mình “cảm ơn”. Sáu là yêu quý trẻ thơ, Tôn trọng phụ nữ, người già em thương. Bảy là trên kính, dưới nhường Ông bà cha mẹ yêu thương hết mình. Tám là lịch sự văn minh Đầu tóc, quần áo vệ sinh gọn gàng. Chín là khi gặp đám tang Em ngả mũ nón, nhẹ nhàng tiễn đưa. Mười là không nghịch, không đùa Gặp khách quốc tế không ùa xung quanh. Mười điều thực sự văn minh, Nhớ trong giao tiếp chúng mình không quên. Bên cạnh đó, tôi xem việc rèn kỹ năng giao tiếp như một môn học chính khoá, đầu tư kĩ cho các tiết học Hoạt động tập thể, Hoạt động ngoài giờ lên lớp để thu hút các em tham gia, cho các em tương tác với bạn bè đồng trang lứa sẽ là một điều tuyệt vời để giúp các em thoát ra khỏi vỏ bọc của mình và bắt đầu thực hành, rèn luyện kỹ năng giao tiếp. Ví dụ: Khi tham gia hoạt động trang trí lồng đèn và bày mâm ngũ quả nhân dịp Trung thu, giáo viên tạo điều kiện cho các em cùng nhau thảo luận lên ý tưởng, thực hiện và hoàn thành các sản phẩm. Như vậy, các em trở nên hoạt bát, vui vẻ, gần gũi nhau và thích thú hơn khi thấy được mình đã góp một phần công sức vào thành công chung của lớp. Trong giờ Sinh hoạt lớp, cần tạo cho các em tâm thế thoải mái, không gây sức ép nặng nề đối với học sinh bằng những lời trách phạt, phê bình mà giáo viên cần rèn cho các em biết tự nhận xét, tạo điều kiện cho học sinh bày tỏ những suy nghĩ của mình qua một tuần học. Từ đó, giáo viên nắm được tâm tư, nguyện vọng của từng học sinh mà có kế hoạch phù hợp. 16 Cuối mỗi tuần, tháng, học kì, giáo viên chủ nhiệm tổng kết và thông báo cho học sinh biết kết quả học tập và rèn luyện để các em phấn đấu thi đua. Khen thưởng, động viên kịp thời những cá nhân, tổ có thành tích tốt cho học sinh có sự tiến bộ vượt bậc về các mặt học tập, rèn luyện các năng lực và phẩm chất để tạo hứng thú, tinh thần tích cực thi đua cho các em bằng cách tặng “thư khen ngợi”, đặc biệt là các em có tiến bộ về năng lực giao tiếp. Không chỉ vậy, tôi còn lồng ghép các hoạt động Kỹ năng sống, sinh hoạt theo chủ điểm: tập văn nghệ, đóng kịch, tìm hiểu các tấm gương, tuyên truyền về trật tự an toàn giao thông, các tệ nạn học đường; cho học sinh tìm hiểu về lịch sử địa phương, hiểu ý nghĩa của các ngày lễ lớn, đố vui, chơi trò chơi thi đua giữa các tổ tạo không khí vui vẻ, đoàn kết, thoải mái. III. KẾT QUẢ VÀ ỨNG DỤNG 1. Kết quả đạt được Qua thời gian sử dụng các giải pháp rèn luyện cho các em như đã nêu ở trên, lớp tôi đã đạt được những kết quả đáng kể: 17 Ảnh: Học sinh hăng say, tiến bộ trong học tập. Các em có sự tiến bộ trong giao tiếp, từ chỗ ít hứng thú trong học tập thì bây giờ các em say sưa, hứng thú học bài, các em tích cực giơ tay phát biểu xây dựng bài hơn. Các em ứng xử thân thiện, lịch sự, hòa nhã và biết nhường nhịn, chia sẻ, giúp đỡ lẫn nhau trong học tập và cuộc sống. Ảnh: Học sinh tích cực trong mọi hoạt động Các em có năng lực giao tiếp với mọi người xung quanh rất tốt, các em nhận thức được cần lễ phép với mọi người xung quanh, phải xưng hô đúng cách, biết nói lời cảm ơn, xin lỗi phù hợp. Khả năng giao tiếp của các em đạt kết quả cụ thể như sau: 18 Sau khi thực hiện Trước khi thực hiện các giải pháp các giải pháp Lớp 2B (Sĩ số: 32 Nhóm Lớp 2B (Sĩ số: 32 HS) HS) Số HS Tỉ lệ (%) Số HS Tỉ lệ (%) Nhóm 1: Giao tiếp tốt, tự tin, có lời nói lưu loát, diễn đạt trôi 5 15,6 % 17 53,1 % chảy, biết thể hiện lời nói biểu cảm trong giao tiếp. Nhóm 2: Diễn đạt lời nói tương đối lưu loát, trôi chảy nhưng 15 44,8 % 13 40,6 % thiếu tự tin trong giao tiếp. Nhóm 3: Nhút nhát, ngại giao 12 38 % 2 6,3 % tiếp, diễn đạt lời nói chưa rõ ý. Từ bảng thống kê trên, tôi nhận thấy học sinh có sự tiến bộ rõ rệt về kĩ năng giao tiếp. Tỉ lệ học sinh tự tin trong giao tiếp được nâng cao: Một minh chứng rõ ràng là số lượng học sinh ở nhóm 2 và nhóm 3 (nhóm học sinh còn nhút nhát, không tự tin giao tiếp) giảm, số lượng học sinh ở nhóm 1 (nhóm học sinh giao tiếp khá tốt) tăng. Ảnh: Học sinh hợp tác với bạn trong học tập. 19 2. Ứng dụng - Giải pháp có thể được áp dụng nhân rộng trong các khối lớp ở Tiểu học. IV. KẾT LUẬN Rèn năng lực giao tiếp cho học sinh là một quá trình mà bản thân người giáo viên phải kiên nhẫn, gần gũi với học sinh. Bởi lẽ, chỉ khi học sinh cảm thấy thoải mái, thân thiết các em mới cởi mở giao tiếp với giáo viên, bạn bè, người thân... Từ đó, chúng ta mới dễ dàng khuyến khích, động viên giúp các em tự tin hơn trong giao tiếp với mọi người. Bên cạnh đó, cách ứng xử, giao tiếp của giáo viên cũng ít nhiều ảnh hưởng đến cách ứng xử, giao tiếp của học sinh. Giáo viên phải là tấm gương sáng để học sinh noi theo. Chính vì vậy, tôi luôn nhắc nhở mình ứng xử nhẹ nhàng, đúng mực, gần gũi, động viên, khuyến khích và tuyên dương những em tiến bộ. Công tác chủ nhiệm lớp quả thật rất khó khăn và vất vả. Giáo viên chủ nhiệm phải vừa là người mẹ dịu dàng, người thầy nghiêm khắc, người bạn gần gũi, người trọng tài phân minh. Thành công của giáo viên là làm cho học sinh tôn trọng, kính yêu, tin tưởng, là xây dựng được một tập thể lớp đoàn kết, gắn bó. Muốn đạt được điều đó, giáo viên chủ nhiệm phải đảm bảo các nguyên tắc sau đây: Thầy cô là điểm sáng, là thần tượng của các em để các em dễ tin, dễ nghe theo lời dạy bảo của thầy cô. Nắm chắc được những thuận lợi, khó khăn, hiểu rõ thực tế trường lớp mình, khéo léo tìm cách bỏ đi mọi rào cản trong mối quan hệ với phụ huynh, đề ra những biện pháp hữu hiệu, tiếp cận gần với các em nhất. Luôn gần gũi, bên cạnh, quan tâm tới hoàn cảnh sống của học sinh (nhất là học sinh có hoàn cảnh đặc biệt, khó khăn). Bên cạnh đó, liên hệ chặt chẽ với Hội cha mẹ học sinh của trường, của lớp, vận động cha mẹ học sinh có những hành động thiết thực hỗ trợ cho hoạt động học tập của học sinh, từ đó sẽ giúp cho hoạt động của lớp có hiệu quả hơn. 20 Bản thân giáo viên phải không ngừng nghiên cứu, nắm bắt tâm lí và hoàn cảnh của học sinh để giúp các em vượt lên chính bản thân mình. Giáo viên phải luôn gần gũi, quan tâm yêu thương học sinh, có tâm huyết với nghề. Nếu vận dụng các biện pháp rèn năng lực giao tiếp cho học sinh theo hướng phù hợp với đặc điểm tâm lý lứa tuổi của trẻ gắn với thực tiễn cuộc sống của học sinh, dựa trên nền tảng giá trị sống cơ bản dành cho trẻ em lứa tuổi học sinh Tiểu học thì sẽ nâng cao hiệu quả của việc phát triển năng lực giao tiếp cho học sinh trong nhà trường.
File đính kèm:
mot_so_giai_phap_phat_trien_nang_luc_giao_tiep_cho_hoc_sinh.pdf



