Một số biện pháp góp phần nâng cao năng lực tự chủ và tự học cho học sinh

pdf16 trang | Chia sẻ: Chan Chan | Ngày: 10/02/2026 | Lượt xem: 13 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Một số biện pháp góp phần nâng cao năng lực tự chủ và tự học cho học sinh, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút TẢI VỀ ở trên
 PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO YÊN THẾ 
 TRƯỜNG TIỂU HỌC ĐỒNG KỲ 
 BIỆN PHÁP 
 Tên biện pháp: “Một số biện pháp góp phần nâng cao năng lực tự chủ 
 và tự học cho học sinh” 
 Họ và tên: NGUYỄN THỊ THU HẰNG 
 Đơn vị: Trường Tiểu học Đồng Kỳ, huyện Yên thế, tỉnh Bắc Giang 
XÁC NHẬN CỦA NHÀ TRƯỜNG NGƯỜI VIẾT 
 (Ký ghi rõ họ tên) 
 Nguyễn Thị Thu Hằng 
 Yên Thế, tháng 10 năm 2023 
 MỤC LỤC 
 Nội dung Trang 
I. PHẦN MỞ ĐẦU 
1. Lý do chọn tên biện pháp 2 
2. Mục đích nghiên cứu 2 
3. Nhiệm vụ nghiên cứu 3 
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 3 
5. Phương pháp nghiên cứu 3 
II. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 
1. Cơ sở lí luận 3 
2. Cơ sở thực tiễn 
2.1. Thực trạng. 
2.1.1. Thuận lợi 4 
2.1.2. Hạn chế 4 
2.2. Kết quả khảo sát thực trạng. 5 
3. Các biện pháp: 
3.1. Biện pháp 1: Hướng dẫn học sinh tự học và hỗ trợ học sinh 6 
trên lớp. 
3.2. Biện pháp 2: Xây dựng mối quan hệ bạn bè. 8 
3.3. Biện pháp 3: Tổ chức tốt giờ sinh hoạt lớp. 9 
3.4. Biện pháp 4: Phối hợp, trao đổi với cha mẹ học sinh. 10 
III. KẾT QUẢ VÀ ỨNG DỤNG 11 
IV. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 
1. Ý nghĩa của biện pháp 13 
2. Bài học kinh nghiệm 13 
TÀI LIỆU THAM KHẢO 15 
 2 
 I. PHẦN MỞ ĐẦU 
 1. Lý do chọn tên biện pháp: 
 Năm học 2023 – 2024 là năm thứ 4 thực hiện chương trình giáo dục phổ 
thông 2018. Có thể khẳng định rằng đây là một chương trình giáo dục hiện đại 
và đổi mới, lấy kết quả đầu ra để làm nền tảng. Nghĩa là học sinh học xong sẽ 
làm được gì chứ không phải học sinh sẽ hiểu gì. Chương trình này lấy năng lực, 
phẩm chất làm phương châm giáo dục. Với cách dạy học này, khi học sinh bước 
ra khỏi trường học sẽ trực tiếp lao động, làm việc được, mang lại lợi ích cho 
bản thân và cho xã hội. 
 Giáo dục trẻ em là một nhiệm vụ vô cùng quan trọng mà cả xã hội đều 
quan tâm, bởi vì “Trẻ em hôm nay, thế giới ngày mai”. Để ngày mai thế giới 
có những chủ nhân và xã hội, có những công dân tốt thì ngay từ bậc Tiểu học 
chúng ta phải đào tạo thế hệ trẻ có kiến thức, có phẩm chất đạo đức tốt, có năng 
lực trình độ để các em được học lên các cấp học trên dễ dàng. Là giáo viên chủ 
nhiệm tôi luôn hiểu tâm sinh lí lứa tuổi học sinh ở bậc Tiểu học nói chung và 
lớp 3 nói riêng. Trong thời gian này, xã hội đang nói rất nhiều về giáo dục, về 
chất lượng học sinh trên lớp, về những những thay đổi sách giáo khoa. Là một 
giáo viên chủ nhiệm lớp, tôi không khỏi suy nghĩ phải làm gì? Làm như thế nào 
để “sản phẩm” của mình có chất lượng và việc học sinh “tự học” như thế nào 
cho có hiệu quả là vô cùng quan trọng. Chính vì những lý do đó đã thôi thúc 
tôi cần phải có kế hoạch và biện pháp cụ thể góp phần đưa chất lượng học sinh 
đạt hiệu quả cao, giúp học sinh có kế hoạch học tập và rèn luyện một cách tốt 
nhất. Đó là lý do tôi đã chọn “Một số biện pháp góp phần nâng cao năng lực 
tự chủ và tự học cho học sinh”. 
 2. Mục đích nghiên cứu 
 - Đưa ra một số biện pháp góp phần nâng cao năng lực tự chủ và tự học 
trong học tập cho học sinh. 
 - Giúp học sinh chủ động, tự tin, mạnh dạn phát huy năng lực tự chủ và tự 
học trong học tập. 
 3 
 - Giúp học sinh chia sẻ mạnh dạn và giúp đỡ bạn cùng tự chủ trong học tập. 
 3. Nhiệm vụ nghiên cứu 
 - Mô tả thực trạng về việc tự chủ và tự học của học sinh trong học tập. 
 - Rút ra kết luận và hiệu quả của việc vận dụng một số biện pháp góp phần 
nâng cao năng lực tự chủ và tự học cho học sinh. 
 - Chia sẻ với đồng nghiệp một số kinh nghiệm trong việc vận dụng một số 
biện pháp góp phần nâng cao năng lực tự chủ và tự học cho học sinh. 
 4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 
 - Đối tượng nghiên cứu: Một số biện pháp góp phần nâng cao năng lực tự 
chủ và tự học cho học sinh. 
 - Phạm vi nghiên cứu: Học sinh lớp 3B và học sinh khối 3 năm học 2022 
– 2023, từ tháng 9 năm 2022 đến tháng 5 năm 2023. 
 5. Phương pháp nghiên cứu 
 Để thực hiện đề tài này, tôi đã sử dụng các phương pháp sau: 
 * Phương pháp nghiên cứu thực tế. 
 * Phương pháp điều tra, quan sát. 
 * Phương pháp phân tích, tổng hợp. 
 II. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 
 1. Cơ sở lí luận: 
 Trong quá trình giảng dạy, để giáo dục có hiệu quả và đạt chất lượng cao 
chúng ta cần biết lựa chọn phương pháp dạy tối ưu nhất, phù hợp với phương 
pháp đổi mới, phù hợp với mục tiêu và nội dung của bài học. Song để đi đến 
thành công giáo dục đòi hỏi mọi người phải biết và không ngừng nỗ lực phấn 
đấu, sáng tạo, đổi mới phương pháp dạy học, đầu tư thích đáng vào công việc 
của mình. Đây là một công việc vừa mang tính giáo dục vừa mang tính nghệ 
thuật. Bộ Giáo dục đã đề ra yêu cầu của việc dạy học hiện nay là tăng cường 
hoạt động tích cực, độc lập, sáng tạo của học sinh. Đổi mới về phương pháp 
dạy học ở tất cả các môn học thông qua việc đổi mới chương trình và sách giáo 
 4 
khoa từ lớp 1 đến lớp 5. Đó là yêu cầu tất yếu nhằm nâng cao chất lượng giáo 
dục của nhà trường tiểu học ở trong tình hình hiện nay. 
 2. Cơ sở thực tiễn: 
 2.1. Thực trạng: 
 2.1.1. Thuận lợi: 
 Năm học 2022 – 2023 tôi được nhà trường phân công chủ nhiệm lớp 3B. 
Lớp tôi có tổng số 30 em, trong đó có 11 em nữ, 8 em dân tộc thiểu số. Phần 
lớn các em đi học đúng độ tuổi (8 tuổi), chỉ có 1 em ngoài độ tuổi (1 em 9 tuổi). 
 Phần lớn gia đình các em đều sinh sống trên cùng địa bàn gần trường, nhà 
ở gần nhau nên tiện việc liên hệ trao đổi. Đa phần các em ngoan, lễ phép, có 
tinh thần đoàn kết, có ý thức tốt trong học tập và lao động. 
 Được sự quan tâm của Ban đại diện cha mẹ học sinh của lớp, của trường 
về mọi mặt, 100% HS có đồ dùng, sách vở đầy đủ... góp phần động viên cán 
bộ, giáo viên, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. 
 Mối quan hệ giữa nhà trường (đại diện là giáo viên) và gia đình học sinh 
rất chặt chẽ. Đa số các gia đình quan tâm và tạo mọi điều kiện học tập cho các 
em. Nhiều gia đình luôn có sự phối kết hợp với giáo viên chủ nhiệm, kịp thời 
nắm bắt thông tin về tình hình học tập của con em mình. 
 2.1.2. Hạn chế: 
 Do các em chưa ý thức đúng đắn về việc học tập nên việc học còn mang 
tính tự phát, thích thì học không thích là không học. 
 Cùng độ tuổi nhưng mức tiếp thu và học không đồng đều. 
 Một số học sinh còn nhút nhát, chưa mạnh dạn, tự giác thực hiện các yêu 
cầu trong hoạt động nhóm và trước lớp. 
 Đa số gia đình các phụ huynh học sinh đều đi làm công ty nên ít quan tâm 
đến việc học tập của con cái, còn phó mặc cho giáo viên và nhà trường, chưa 
chăm lo đầy đủ vật chất cũng như tinh thần cho các em. Các em chưa được 
hướng dẫn xây dựng kế hoạch tự học, phần nào ảnh hưởng đến thái độ tự học 
của các em. 
 5 
 2.2. Kết quả khảo sát thực trạng: 
 Trước thực trạng trên tôi băn khoăn suy nghĩ mình phải làm gì để giúp học 
sinh nâng cao năng lực tự chủ và tự học cho học sinh trong học tập. Vì thế mà 
ngay từ đầu năm học 2022 – 2023 tôi đã tiến hành khảo sát mức độ đạt được 
về năng lực tự chủ và tự học của học sinh lớp 3B và kết quả đạt được như sau: 
 Tốt Đạt Cần cố gắng 
 Thời gian Tổng số SL TL SL TL SL TL 
 HS (%) (%) (%) 
 Đầu năm 30 7 23,3 18 60 5 16,7 
 học 
 Bảng 1. Kết quả khảo sát mức độ đạt được về năng lực tự chủ và tự học của 
 học sinh lớp 3B đầu năm học 2022 – 2023 
 Qua kết quả khảo sát, có thể thấy rằng năng lực tự chủ và tự học của học 
sinh đạt mức tốt chưa đạt kết quả cao. Theo kết quả trên, tỉ lệ học sinh cần cố 
gắng chiếm tỉ lệ cao (16,7%). Có thể thấy nguyên nhân ở đây chính là việc học 
sinh nhận thức chưa đầy đủ vai trò của tự học, năng lực tự học còn hạn chế, 
chưa nỗ lực, kiên trì trong quá trình học tập. Một số em còn chưa mạnh dạn 
tham gia vào các hoạt động giáo dục. Bên cạnh đó là sự phối hợp giữa một số 
giáo viên chủ nhiệm và cha mẹ học sinh chưa chặt chẽ. 
 3. Các biện pháp 
 Muốn hình thành và phát triển nhân cách theo mục tiêu đào tạo đã định, 
thì cần phải giúp cho học sinh có ý thức tự học, học đi đôi với hành, xem đó là 
hạnh phúc trong học tập hàng ngày của bản thân. 
 Học sinh cần rèn luyện cho bản thân tinh thần tự học, kỹ năng tự học. Các 
em không chỉ thực hiện việc tự học ở trường phổ thông mà việc tự học cần phải 
được rèn luyện suốt đời, rèn luyện đến mức nhuần nhuyễn thì mới có thể cập 
nhật được tri thức và “nên người” ở thời đại bùng nổ thông tin như hiện nay. 
 Tôi đã mạnh dạn đưa ra một số biện pháp góp phần nâng cao năng lực tự 
chủ và tự học cho học sinh trong học tập: 
 6 
 3.1. Biện pháp 1: Hướng dẫn học sinh tự học và hỗ trợ học sinh trên lớp: 
 - Tạo đam mê, hứng thú, yêu thích môn học: Có hứng thú học tập, tự học 
sẽ giúp học sinh khắc phục được những áp lực, sự mệt mỏi, đối phó trong quá 
trình học tập. Giáo viên nên kết hợp nhiều hình thức như giới thiệu về môn học, 
tạo sức hấp dẫn về môn học trên cơ sở các lợi ích các em sẽ đạt được . Từ 
việc tạo cho các em cách quan sát, hình thành thói quen đặt câu hỏi trước sự 
việc quan sát được, hoặc nhiệm vụ được giao trong học tập và hoạt động khác. 
Gây hứng thú từ cách đặt vấn đề của giáo viên, gây được ứng thú và cũng một 
mặt là giao nhiệm vụ cho các em. Có những vấn đề các em chưa biết, chưa 
thích thú nhưng khi thấy giáo viên đặt vấn đề cuốn hút làm cho các em tự có 
nhu cầu tìm hiểu để khám phá nó. Đam mê, hứng thú cũng ít khi tự nhiên mà 
có, mà nó cũng được hình thành trong cuộc sống và đam mê, yêu thích môn 
học là phải hình thành và phát triển chủ yếu từ giáo viên, cũng như tham gia, 
khích lệ của bạn bè, người lớn. 
 - Hướng dẫn, hỗ trợ học sinh trong quá trình tự học: đảm bảo cho học sinh 
khi cần trợ giúp là được trợ giúp kịp thời. 
 + Khi tự học tại lớp, khi tham gia các hoạt động không để học sinh bế tắc 
quá lâu mà không được trợ giúp, hỗ trợ. Khi giao nhiệm vụ cho học sinh giáo 
viên cần dành cho các em thời gian để nghiên cứu, không giám sát quá mức, để 
các em chủ động tra cứu, tìm nguồn thông tin để giải quyết vấn đề. Đặc biệt, 
không trợ giúp, hướng dẫn khi chưa cần thiết tạo thói quen ỉ lại trong các em 
mà không chịu suy nghĩ, tìm tòi. Nghĩa là luôn theo dõi nhưng giáo viên tạo 
tính tự chủ cho các em trong khi tự học. 
 7 
 (Hình ảnh GV hướng dẫn HS tự học trên lớp 
 + Khi tự học ở nhà: Tự học ở nhà là hoạt động học hoàn toàn không có 
GV, HS không có sự tiếp xúc với GV, là hình thức học tập hoàn toàn không có 
sự tương tác thầy trò, do đó HS phải tự tìm hiểu thông qua tài liệu, qua hoạt 
động thực tế để chiếm lĩnh kiến thức. Để giúp HS có thể tự học ở nhà, GV cần 
tăng cường kiểm tra, đánh giá kết quả học bài, làm bài tập ở nhà của học sinh. 
 (Hình ảnh GV hướng dẫn HS một số nội dung tự học ở nhà qua zalo) 
 3.2. Biện pháp 2: Xây dựng mối quan hệ bạn bè: 
 8 
 - Để xây dựng mối quan hệ bạn bè thân thiết, đoàn kết, gắn bó, sẵn sàng 
giúp nhau trong học tập, tôi luôn tạo ra các hoạt động, các vấn đề đòi hỏi sự 
hợp tác của nhiều học sinh. 
 (Hình ảnh HS hướng dẫn, giúp đỡ nhau học tập trong giờ ra chơi) 
 - Trong một số tiết học, tôi chia nhóm ngẫu nhiên. Tiết học này, các em 
chung nhóm với bạn này nhưng tiết sau các em lại chung nhóm với bạn khác 
và tôi sẽ chấm điểm thi đua của từng nhóm. 
 (Hình ảnh học sinh đang hoạt động nhóm trong tiết học môn Tiếng Việt) 
 - Khi có chuyện xích mích giữa em này với em kia, tôi kịp thời can thiệp 
không để mâu thuẫn kéo dài gây ảnh hưởng xấu tới tình bạn. Tôi gặp gỡ trao 
 9 
đổi riêng với từng học sinh để biết rõ đầu đuôi, sau đó phân tích rõ ai đúng, ai 
sai. Ai sai thì phải nhận lỗi, có những câu nói yêu thương bạn. 
 3.3. Biện pháp 3: Tổ chức tốt giờ sinh hoạt lớp: 
 Trong giờ sinh hoạt lớp, tôi để cho các em tự tổ chức giờ sinh hoạt lớp 
theo sự chỉ đạo của lớp trưởng. Các tổ trưởng, tổ phó sẽ cùng họp với nhau để 
báo cáo về hình thức học tập của các bạn trong tổ và đề ra những biện pháp 
khắc phục những tồn tại trong tuần tới. 
 Học sinh được phát biểu tự do, thoải mái, thể hiện tâm tư nguyện vọng 
của mình. Tôi khuyến khích học sinh nói ra những điều chưa đồng ý về việc 
làm, cách làm của ban cán sự lớp chứ không nói xấu, không xa lánh bạn. 
 Tôi để cho bạn cán sự lớp làm việc xong, học sinh được phát biểu tâm tư, 
nguyện vọng. Sau đó tôi mới phát biểu ý kiến và hướng dẫn việc làm cụ thể 
(nếu các em chưa đưa ra được biện pháp) để các em khắc phục những mặt chưa tốt. 
 Trong phần nội dung sinh hoạt theo chủ đề, học sinh được tham gia các 
hoạt động như múa, hát, kể chuyện, đọc thơ, vẽ tranh, tìm hiểu các trò chơi Giải 
ô chữ, Phóng viên nhí, Mảnh ghép, Hái hoa dân chủ, Ai nhanh ai đúng, Qua 
các hoạt động đó đã lôi cuốn được cả tập thể lớp hào hứng tham gia, tự gắn kết 
thân thiện, giúp các em tự tin hơn khi tham gia vào các hoạt động, góp phần không 
nhỏ vào việc rèn luyện tính tổ chức, kỉ luật, tinh thần tập thể, khả năng tự chủ và 
tự học cũng sẽ cao hơn. 
 (Hình ảnh HS tham gia hoạt động vẽ tranh trong tiết sinh hoạt lớp tuần 
 18 với chủ đề “Vẽ tranh về nghề yêu thích”) 
 10 
 3.4. Biện pháp 4: Phối hợp, trao đổi với cha mẹ học sinh: 
 - Tham gia vào quá trình hình thành và phát triển năng lực tự chủ và tự 
học cho học sinh không chỉ có nhà trường mà còn gia đình. Vì vậy trong suốt 
quá trình rèn luyện kĩ năng này, tôi đã có sự liên hệ chặt chẽ với cha mẹ học 
sinh để cùng hỗ trợ học sinh thực hiện. Từ đó phát huy tối đa vai trò của ban 
đại diện cha mẹ học sinh lớp. 
 - Tăng cường phối hợp với cha mẹ trong việc quản lý giờ giấc, nề nếp sinh 
hoạt và học tập của học sinh ở trường và ở nhà, đặc biệt là giáo dục tốt thái độ 
học tập đúng đắn. Thường xuyên thông tin liên lạc, tổ chức họp mặt cha mẹ 
học sinh và động viên gia đình vượt khó để con em đi học. Với học sinh chậm 
cần hướng dẫn cách tổ chức và kiểm tra con em tự học. 
 - Trong các buổi họp phụ huynh, tôi tổ chức trao đổi kinh nghiệm giáo dục 
về việc học cho con em. 
 (Hình ảnh GVCN trao đổi kinh nghiệm giáo dục về việc học của học sinh 
 trong buổi họp phụ huynh đầu năm) 
 - Tôi và phụ huynh tích cực trao đổi về những nội dung học tập, thông tin, 
có cam kết khi trao đổi trên nhóm zalo, cách thức giao bài và số lượng bài mỗi 
ngày cho phù hợp với năng lực của từng học sinh ở nhà 
 11 
 (Hình ảnh về cách thức giao bài tập trên nhóm zalo của lớp) 
 III. KẾT QUẢ VÀ ỨNG DỤNG 
 Qua quá trình theo dõi và vận dụng các biện pháp thực hiện trên, bản thân 
tôi nhận thấy khả năng tự chủ và tự học của các em đã có những tiến bộ rõ rệt. 
 Tốt Đạt Cần cố gắng 
 Thời Tổng số SL TL SL TL (%) SL TL (%) 
 gian HS (%) 
 Cuối 30 14 46,7 16 53,3 0 0 
 HKI 
 Bảng 2. Kết quả khảo sát mức độ đạt được về năng lực tự chủ và tự học của 
 học sinh lớp 3B cuối học kỳ I năm học 2022 – 2023 
 Cuối học kỳ I kết quả đạt được: 
 + Học sinh phát huy được năng lực tự chủ và tự học trong nhóm. Phát huy 
tính tích cực của từng cá nhân học sinh trong nhóm, thực hiện nhiệm vụ cá nhân 
 12 
tốt. Học sinh nắm được nhiệm vụ giáo viên phân công. Có ý thức xây dựng bài 
trong nhóm và trước lớp. 
 + Các em mạnh dạn trình bày ý kiến và mong muốn của mình trước tập thể. 
 + Học sinh đoàn kết yêu thương, giúp đỡ nhau trong học tập. Phát huy 
được mối quan hệ, kích thích các bạn tự giác học tập để thi đua với bạn. 
 Trước kết quả đạt được ở lớp 3B cuối học kỳ I năm học 2022 – 2023 tôi 
mạnh dạn đưa ra “Một số biện pháp góp phần nâng cao năng lực tự chủ và tự 
học cho học sinh” trong buổi sinh hoạt chuyên môn tổ và đã được các thành 
viên trong tổ ủng hộ và đóng góp. Với biện pháp tôi đưa ra đã được các giáo 
viên trong khối 3 áp dụng đến cuối năm học 2022 – 2023 và cho kết quả như sau: 
 Tốt Đạt Cần cố gắng 
 Thời Lớp Tổng SL TL SL TL SL TL 
 gian số HS (%) (%) (%) 
 Cuối 3B 30 25 83,3 5 16,7 0 0 
 năm 
 3A+3C 65 46 70,8 19 29,2 0 0 
 học 
 Khối 3 95 71 74,7 24 25,3 0 0 
 Bảng 3. Kết quả khảo sát mức độ đạt được về năng lực tự chủ và tự học của 
 học sinh khối 3 cuối năm học 2022 – 2023 
 Sau thời gian áp dụng “Một số biện pháp góp phần nâng cao năng lực tự 
chủ và tự học cho học sinh” tôi thấy các em tự giác học tập hơn và nắm được 
kiến thức sau mỗi bài học. Các em có thái độ học tập tích cực, thích thú hơn 
trong tiết học, chủ động nêu lên những thắc mắc, khó khăn với giáo viên. Bên 
cạnh đó, các em tích cực giúp đỡ nhau trong học tập. 
 “Một số biện pháp góp phần nâng cao năng lực tự chủ và tự học cho học 
sinh” áp dụng cho tất cả các môn học với thời gian học trên lớp cũng như thời 
gian tự học ở nhà của học sinh lớp 3 và có thể phổ biến rộng rãi cho giáo viên 
đang giảng dạy ở các khối lớp khác trong trường và toàn huyện ở các năm sau. 
 13 
 Có được kết quả trên chính là sự tâm huyết với nghề của bản thân tôi cùng 
với sự quan tâm của gia đình và nhà trường, từ đó chất lượng học tập của các 
em được nâng lên. Với kết quả đã đạt được này đã giúp tôi thấy vui hơn, mạnh 
dạn hơn trong việc nghiên cứu và tìm hiểu để tiếp tục vận dụng nhiều biện pháp 
mới mẻ hơn trong việc phát triển năng lực cho học sinh mà tôi đang chủ nhiệm. 
 IV. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 
 1. Ý nghĩa của biện pháp: 
 - Qua nhiều năm làm công tác chủ nhiệm lớp, bản thân tôi đã nhận thấy 
muốn cho học sinh tự chủ, tự học có hiệu quả cao, người GVCN lớp cần chủ 
động lập kế hoạch cho phù hợp với từng đối tượng học sinh. 
 - Giáo viên phải chú trọng, quan tâm tới sự hứng thú, năng lực học tập 
của học sinh, giúp các em có thái độ đúng đắn về nhiệm vụ học tập. Trong dạy 
học người giáo viên cần tạo điều kiện tốt nhất để học sinh lĩnh hội kiến thức. 
 - Vào những giờ học ở trên lớp để học sinh tham gia vào quá trình học một 
cách tự nhiên, tích cực, năng động, trong quá trình giảng dạy giáo viên cần khéo 
léo sử dụng các phương pháp phù hợp với lứa tuổi. 
 - Học sinh phải có đầy đủ sách vở, đồ dùng học tập và có kế hoạch cụ 
thể về việc tự học của mình. Cần phải kiểm tra thường xuyên việc học tập của 
học sinh để kịp thời điều chỉnh và uốn nắn các em. 
 - Thường xuyên quan tâm, giúp đỡ học sinh gặp khó khăn trong học tập, 
tạo sự gần gũi giữa cô và trò để các em có thêm niềm tin và phấn đấu học tập. 
 - Thường xuyên phối hợp, trao đổi với phụ huynh để nắm bắt kịp thời những 
điểm còn hạn chế của học sinh để có biện pháp giúp các em học tập tốt hơn. 
 2. Bài học kinh nghiệm: 
 - Giáo viên cần nắm được các phương pháp đặc trưng, linh hoạt, kết hợp 
nhiều biện pháp khác nhau cho phù hợp, tùy vào đối tượng học sinh của mình. 
 - Luôn theo dõi để kịp thời hỗ trợ những học sinh gặp khó khăn trong việc 
hình thành năng lực. Việc làm này phải được tiến hành thường xuyên và liên 
 14 
tục trong quá trình giáo dục và song song với việc phát triển phẩm chất để giáo 
dục các em phát triển toàn diện. 
 - Giữ vững mối quan hệ khăng khít giữa gia đình, nhà trường và xã hội để 
tạo được sự đồng thuận trong phương pháp và nội dung giáo dục. 
 Trên đây là những suy nghĩ của bản thân về việc nghiên cứu “Một số biện 
pháp nâng cao năng lực tự chủ và tự học cho học sinh”. Bản thân tôi đã mạnh 
dạn áp dụng những kinh nghiệm, sáng tạo thêm những phương pháp mới nhằm 
phát triển năng lực cho học sinh, giáo dục và xây dựng cho các em có năng lực 
tốt, lối sống lành mạnh để các em có thể tự lập, tự tin hơn trong cuộc sống. Rất 
mong nhận được sự đóng góp của hội đồng để biện pháp của bản thân có được 
nhũng kinh nghiệm bổ ích có thể áp dụng cho những năm học sau. 
 Tôi xin chân thành cám ơn! 
 15 
 TÀI LIỆU THAM KHẢO 
1. Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể được Bộ giáo dục và đào tạo ban 
hành tại Thông tư số 32/2018/TT-BGDĐT ngày 26/12/20218. 
2. Thông tư 27/2020/TT của Bộ Giáo dục và đào tạo ban hành ngày 04/9/2020. 

File đính kèm:

  • pdfmot_so_bien_phap_gop_phan_nang_cao_nang_luc_tu_chu_va_tu_hoc.pdf
Bài giảng liên quan