Một số biện pháp rèn kĩ năng đọc cho học sinh lớp 1 trong các tiết dạy Học vần của môn Tiếng Việt - Bộ sách giáo khoa Cánh Diều
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Một số biện pháp rèn kĩ năng đọc cho học sinh lớp 1 trong các tiết dạy Học vần của môn Tiếng Việt - Bộ sách giáo khoa Cánh Diều, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút TẢI VỀ ở trên
3 I. PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài: “Một số biện pháp rèn kĩ năng đọc cho học sinh lớp 1 trong các tiết dạy Học vần của môn Tiếng Việt - bộ sách giáo khoa Cánh Diều”. Trong công cuộc đổi mới đất nước, bên cạnh những biến đổi của nền kinh tế, chính trị, văn hóa thì Giáo dục đào tạo cũng đang trên đà phát triển và đổi mới. Bởi vậy Đảng và Nhà nước ta đã nêu cao vai trò: Giáo dục đào tạo là quốc sách hàng đầu, bậc Tiểu học là nền tảng. Cho nên mục tiêu giáo dục cũng nhấn mạnh: Hình thành cho học sinh những cơ sở ban đầu cho sự nghiệp phát triển đúng đắn và lâu dài về tình cảm, trí tuệ, thể chất và kĩ năng cơ bản, ban đầu để các em học tiếp các cấp tiếp theo hoặc đi vào cuộc sống lao động vững vàng hơn. Trong quá trình đổi mới phương pháp dạy học của bậc Tiểu học với mục tiêu giáo dục toàn diện các em được học 9 môn trong đó môn Tiếng Việt là môn học hết sức quan trọng. Nhất là đối với lớp Một, là lớp đầu cấp, người ta thường nói “ Cấp Tiểu học là nền, Lớp Một là móng”, móng có chắc thì nền mới vững. Năng lực cốt lõi theo NQ29 là: Đổi mới Giáo dục là phải chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện phẩm chất và năng lực người học. Điều này phải đòi hỏi phải đổi mới tất cả các thành tố của chương trình giáo dục bao gồm: phạm vi và kết cấu nội dung, chuẩn cần đạt, phương pháp và hình thức tổ chức dạy học....theo yêu cầu phát triển phẩm chất và năng lực cho học sinh. Trong quá trình đổi mới cần chú ý hình thành và phát triển những năng lực cần cho việc học suốt đời, gắn với cuộc sống hàng ngày, trong đó chú trọng các năng lực chung như: năng lực tự học, năng lực cá nhân, năng lực xã hội, năng lực giao tiếp, năng lực tư duy... Để hình thành và phát triển năng lực giao tiếp thì kỹ năng đọc là sự khởi đầu giúp cho học sinh chiếm lĩnh một công cụ mới để sử dụng trong học tập và trong giao tiếp. Nếu kỹ năng viết được coi là phương tiện ưu thế nhất trong hệ thống ngôn ngữ thì kỹ năng đọc 4 có một vị trí quan trọng không thể thiếu được trong chương trình môn Tiếng Việt ở Tiểu học. Môn Tiếng Việt ở Tiểu học nhằm trang bị cho học sinh các kĩ năng nghe, nói, đọc, viết. Riêng ở phân môn Học vần, kĩ năng đọc và viết được đặc biệt ưu tiên. Bởi mục tiêu của phân môn là dạy chữ - một phương tiện biểu đạt lời nói đặc biệt hiệu quả mà học sinh lớp 1 hầu như chưa biết tới.Tuy nhiên với thực tế bắt nhịp chương trình giáo dục phổ thông 2018, đứng trước thực trạng có rất nhiều bộ sách giáo khoa, thầy và trò lớp 1 còn gặp nhiều khó khăn trong quá trình dạy học. Năm học 2021 - 2022 trường Tiểu học Đồng Kỳ thực hiện dạy học môn Tiếng Việt 1 bộ sách Cánh Diều. Bộ sách trong thời gian qua có những bình luận nhiều về nội dung cũng như từ ngữ biểu đạt của sách. Đồng thời, với đặc thù học sinh lớp 1 mới bước vào môi trường tiểu học “học là chính”, khác hẳn với môi trường mầm non “chơi mà học” thì việc tổ chức dạy học cho học sinh lớp 1 nhất là môn Tiếng Việt còn gặp rất nhiều khó khăn. Bởi vậy việc rèn kĩ năng đọc cho học sinh là rất cần thiết và quan trọng. Là một giáo viên dạy lớp 1 tôi luôn trăn trở suy nghĩ làm như thế nào để dạy cho học sinh của mình ghi nhớ vần, từ nhanh và đọc thành thạo tiếng, từ, đoạn ứng dụng. Từ đó sẽ giúp các em có kỹ năng đọc tốt hơn. Bằng tất cả mọi nỗ lực của mình trong suy nghĩ, tìm tòi, trao đổi, thảo luận với các đồng nghiệp khác cùng với việc cọ xát thực tiễn trải nghiệm công tác dạy lớp 1 với chương trình giáo dục phổ thông mới 2018, với những kinh nghiệm ít ỏi của bản thân tôi xin mạnh dạn đưa ra một số số ý kiến, suy nghĩ của mình qua đề tài: “Một số biện pháp rèn kĩ năng đọc cho học sinh lớp 1 trong các tiết dạy Học vần của môn Tiếng Việt - bộ sách giáo khoa Cánh Diều”. 2. Mục đích nghiên cứu 5 - Nhằm phát triển kỹ năng đọc của học sinh, giúp học sinh ghép vần thành thạo, giúp học sinh không lúng túng khi tìm các tiếng mới. Giúp học sinh chủ động và tự tin hơn trong học tập môn Tiếng Việt. - Nâng cao chất lượng giáo dục môn Tiếng Việt lớp 1 nói riêng, chất lượng giáo dục toàn diện nói chung. - Rút ra bài học kinh nghiệm cho bản thân và chia sẻ cùng đồng nghiệp về những biện pháp rèn kĩ năng đọc cho học sinh lớp 1 trong các tiết dạy Học vần của môn Tiếng Việt 3. Nhiệm vụ nghiên cứu. Nghiên cứu cơ sở lí luận và thực tiễn về kỹ năng đọc của học sinh. Đề xuất một số biện pháp rèn kỹ năng đọc cho học sinh lớp 1 trong các tiết dạy Học vần của môn Tiếng Việt. Phát triển năng lực cá nhân, năng lực giao tiếp, năng lực tư duy cho học sinh. Thử nghiệm sư phạm nhằm kiểm tra tính khả thi của một số giải pháp rèn kỹ năng đọc cho học sinh lớp 1 trong các tiết dạy Học vần của môn Tiếng Việt. 4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 4.1. Đối tượng nghiên cứu. - Một số biện pháp rèn kĩ năng đọc cho học sinh lớp 1 trong các tiết dạy Học vần của môn Tiếng Việt. - Đối tượng khảo sát: Học sinh lớp 1B và học sinh khối 1 năm học 2021-2022 trường Tiểu học Đồng Kỳ. 4.2. Phạm vi nghiên cứu - Chương trình môn Tiếng Việt ở lớp 1 nói chung và với biện pháp “Một số biện pháp rèn kĩ năng đọc cho học sinh lớp 1 trong các tiết dạy Học vần của môn Tiếng Việt - bộ sách giáo khoa Cánh Diều. - Không gian nghiên cứu: + Lớp 1B và học sinh khối 1 Trường Tiểu học Đồng Kỳ - Thời gian nghiên cứu: 6 + Từ tháng 9 năm 2021 đến tháng 5 năm 2022. + Áp dụng cho những năm học tiếp theo. 5. Phương pháp nghiên cứu. - Phương pháp điều tra, phỏng vấn - Phương pháp đàm thoại, trao đổi - Phương pháp trực quan - Phương pháp thực nghiệm khoa học - Phương pháp thu thập số liệu - Phương pháp phân tích tổng hợp 7 II. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 1. Cơ sở lý luận. Ở lứa tuổi lớp Một các em làm quen với Nghe, nói, đọc, viết. Kĩ năng đọc khi được hình thành ở các em, nó sẽ theo các em suốt cả cuộc đời. Không những thế mà nó còn để phát triển tư duy, cảm nhận cái hay, cái đẹp trong mỗi bài học, hiểu được nghĩa của tiếng, từ mình vừa đọc và các em có thể nắm bắt được kho tàng tri thức của loài người. Mặt khác ở lớp Một các em đọc đúng, đọc thành thạo thì khi lên các lớp trên các em mới học vững vàng và khi biết đọc các em sẽ có điều kiện các môn học khác được tốt hơn. Để làm được điều đó, điều đầu tiên giáo viên phải làm là nắm được tâm lí của học sinh, dạy học mang tính chất chuẩn xác khoa học. Mục đích của việc rèn kĩ năng đọc cho học sinh lớp Một là giúp các em cảm nhận được cái hay, cái đẹp, nhận thức về thế giới xung quanh, về cuộc sống của con người và xã hội. Qua đó, giáo dục cho các em tình yêu dân tộc, yêu quê hương đất nước. Kỹ năng đọc cho học sinh lớp Một rất quan trọng, đó cũng là sự phản hồi của kết quả học tập sau một quá trình của các em. Nó thể hiện kết quả nhận biết các con chữ, các vần và khả năng ghép chữ cái với nhau thành vần, ghép chữ cái với nhau thành tiếng, và khả năng đọc từ, đọc câu sau cùng là đọc được một bài văn ngắn, một đoạn thơ...Là nền tảng cho các em học tốt khi lên các lớp trên. 2. Cơ sở thực tiễn: * Thực trạng vấn đề: " Rèn kĩ năng đọc cho học sinh lớp 1 trong các tiết dạy Học vần của môn Tiếng Việt" Khi tiến hành dạy hoạt động đọc trong các tiết Học vần của môn Tiếng Việt, tôi thường sử dụng chữ mẫu, hình ảnh có liên quan đến bài đọc cho học sinh quan sát. Giáo viên đưa ra các câu hỏi gợi ý để học sinh quan sát trả lời từ đó phát hiện ra những âm vần mới.Trong quá trình dạy học thực tế trên lớp, tôi nhận thấy học sinh còn gặp một số hạn chế sau: 8 * Hạn chế - Học sinh gặp khó khăn trong việc nhận biết âm, vần mới. Nhất là các âm ghép, vần dài. - Việc ghép vần của học sinh chưa thành thạo nhất là với các em nhận thức trung bình và chậm. Các em dễ quên, khó đọc trơn trong các từ mới, câu ứng dụng và đoạn ứng dụng. - Học sinh đánh vần bằng nhiều cách khác nhau. - Học sinh còn lúng túng khi tìm tiếng mới: Bị đảo âm đầu và vần, tìm tiếng không phù hợp vần đang học. Bảng khảo sát Tuần thứ 3 năm học 2021-2022: Học sinh có kĩ Học sinh có thể đọc Học sinh có kĩ năng đọc tốt, chủ được âm, vần, tiếng từ năng đọc âm, vần, Thời Sĩ động tìm tiếng, từ mới có sẵn, bước đầu tự tiếng từ mới điểm số mới linh hoạt. tìm được tiếng, từ mới. chậm, ghi nhớ KS chậm. Số lượng % Số lượng % Số lượng % Tuần 3 26 5 19,2 13 50 8 30,8 * Nguyên nhân Từ những hạn chế mà học sinh gặp phải, qua thực tế giảng dạy, tôi phát hiện ra những nguyên nhân như sau: - Khả năng tiếp thu bài của học sinh chưa tốt nên việc nhớ âm và vần còn nhiều khó khăn. - Bản thân nhiều em chưa thực sự chú ý trong tiết học để nắm được cấu trúc của vần hoặc của tiếng chứa vần mới, kĩ năng nghe hiệu lệnh chưa tốt, việc phối hợp sử dụng bộ đồ dùng của một số em còn hạn chế. Vì thế, việc ghép vần hoặc tạo tiếng mới gặp nhiều khó khăn. 9 - Học sinh chưa mạnh dạn chủ động khi tìm tiếng mới từ những vần đang học. Một số em còn phụ thuộc vào các bạn khá hơn, nhìn và làm theo bạn. Chính vì vậy việc tìm tiếng mới cho học sinh gặp hạn chế. Một số em khác do không thuộc từ, không thuộc quy luật ghép tiếng nên có thể bị đảo lộn giữa vần và âm đầu. - Nhiều em nhận biết chậm nên khi cho đọc đồng thanh thì thực hiện được nhưng đến khi đọc cá nhân nhất là những từ mới và đoạn ứng dụng còn gặp khó khăn. Do các em chưa nhận biết được những vần vừa học và những vần đã học của những bài trước. - Phụ huynh của một số gia đình chưa quan tâm đến việc tiếp cận chương trình mới và cách dạy đọc cho học sinh phù hợp. Chính vì vậy, phụ huynh có thể dạy đọc theo cách khác, hoặc cho học sinh nghe cách đọc khác với giáo viên dẫn đến học sinh bị tiếp thu nhiều cách đọc khác nhau nên khi đánh vần chung của lớp còn chưa khớp và dễ nhầm lẫn. Hơn nữa, một số phụ huynh chưa quan tâm việc học của con, có tư tưởng phó mặc cho giáo viên và nhà trường. 3. Các biện pháp 3.1. Biện pháp 1: Điều tra, phân loại học sinh, phát huy tính cộng tác, chủ động của học sinh. - Trước tiên điều tra lý lịch trích ngang trong sổ chủ nhiệm, bản thân tôi lập riêng một sổ theo dõi về năng lực và tiến độ học tập hàng tuần của học sinh. - Khoảng 3 - 4 tuần đầu tôi đã nắm được danh sách học sinh của lớp yếu môn Học vần (đọc còn ngọng, phát âm chưa chuẩn, không nắm được âm, mau quên, viết yếu) ghi vào sổ theo dõi (mỗi em một trang) thường nhật và tổng kết tháng. Đồng thời nắm được những em học tốt và các mức độ nhận thức khác. - Với những học sinh có nhận thức tốt, tôi động viên phát huy năng lực của các em, để các em có thể tìm được nhiều tiếng mới, từ mới, đọc được các 10 đoạn ứng dụng và trả lời những câu đọc hiểu. Đồng thời phát huy khả năng giúp đỡ bạn của các em, học sinh có thói quen cộng tác, giúp bạn khắc phục khó khăn ở mức độ đơn giản, hướng dẫn cho bạn chứ không cho bạn nhìn và chép. - Với những em học sinh có nhận thức chậm,ở trên lớp tôi thường dành thời gian nhiều hơn cho các em, gọi các em đọc, nêu ý kiến của mình, động viên khích lệ các em để các em mạnh dạn hơn trong quá trình học tập cũng như trao đổi cùng bạn. Giáo viên đến bên cạnh các em thường xuyên để giúp đỡ các em. Về phía gia đình, phối hợp với bố mẹ các em để các em được quan tâm hơn và cùng các em hoàn thành những phần mà trên lớp các em chưa thực hiện xong. - Tạo ra các nhóm học tập như “ đôi bạn cùng tiến”, “ nhóm bạn về nhất” để kích thích sự cố gắng của các em, tạo sự đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau từ chính những bạn học tốt với những bạn chậm. Điều này cũng giúp các em bỏ qua khoảng cách giữa học sinh học tốt và học sinh học yếu. Để chính các em có thể hỗ trợ lẫn nhau một cách tự nhiên nhất. - Tôi thường xuyên hướng dẫn học sinh cách sắp xếp lấy, mở đồ dùng cho đúng. Hướng dẫn học sinh cách lấy âm vần mới bằng cách tôi phân biệt màu sắc của âm, vần mới trong tiếng của bài học hôm đó để HS nhớ sâu và nắm chắc kiến thức của bài học. Sau khi sử dụng đồ dùng học tập tôi hướng dẫn các em cần phải có thao tác cất đồ dùng học tập nhanh, đúng chỗ quy định. - Đồng thời, giáo viên tăng cường đan xen các trò chơi hoặc khởi động đầu giờ, giữa giờ cho học sinh thư giãn thoải mái. Tạo điều kiện khuyến khích học sinh được nêu ý kiến của mình, chia sẻ cùng bạn và trước lớp. Rèn kĩ năng lắng nghe, tôn trọng ý kiến của bạn, cùng đóng góp ý kiến để giải quyết các vấn đề khó. Qua đó, học sinh chủ động, sáng tạo hơn trong học tập Tiếng Việt cũng như các môn học khác. 11 ( HS chủ động cộng tác và sử dụng bộ đồ dùng học tập hiệu quả) 3.2. Biện pháp 2: Ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học để phát huy năng lực thẩm mĩ, tính chủ động và ghi nhớ từ của học sinh. Với bộ sách giáo khoa mới và chương trình giáo dục phổ thông 2018 yêu cầu giáo viên cần ứng dụng dạy học tích cực thông qua sách mềm và giáo án điện tử. Đây cũng là một nội dung rất hay mà bản thân tôi đã từng áp dụng dạy học trên nền giáo án điện tử từ những năm trước. Với tranh hình rất ngộ nghĩnh ở trong sách giáo khoa mềm, bản thân tôi thiết kế với những bài giáo án điện tử khác nhau nhằm phù hợp với đối tượng học sinh của mình. Với những bài học có những hình ảnh và từ ngữ còn chưa phù hợp với học sinh, tôi đã linh động lựa chọn những hình ảnh và từ ngữ sao cho HS có thể dễ hiểu nhất. VD: Bài âm: i, ia tôi đã thay hình ảnh "tấm bia" bằng hình ảnh "cây mía" để gần gũi với học sinh. 12 ( Hình ảnh trong SGK) ( Hình ảnh GV điều chỉnh) - Hay bài âm: đ, e tôi đã thay hình ảnh " đe" bằng hình ảnh " quả đỗ" và "hạt dẻ" (Hình ảnh trong SGK) ( Hình ảnh GV điều chỉnh) ( Hình ảnh GV điều chỉnh) 13 Chính những hình ảnh sinh động thực tế màu sắc giúp học sinh liên tưởng đến từ ngữ và dễ khắc ghi. Đặc biệt giáo viên có thể sưu tầm hoặc sử dụng những video tình huống để học sinh phát hiện ra những từ ngữ phù hợp với nội dung cần truyền đạt. Từ đó kỹ năng rèn nói của học sinh sẽ được tốt hơn. Những gì gắn với tình huống và thực tế sẽ giúp học sinh nhớ nhanh nhất. Nhờ vậy, việc nhớ âm và vần của học sinh không bị gò bó mà diễn ra một cách tự nhiên. (GV ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học hàng ngày) Ví dụ: Bài 14- Hai chú gà con GV sử dụng sách mềm, khai thác câu chuyện thông qua video với hình ảnh động ngộ nghĩnh, đồng thời học sinh được nghe kể sẽ dễ nhớ và nhớ lâu hơn. 14 Khi học sinh thích thú, hào hứng chú ý nghe thì GV khai thác câu hỏi thông qua hình ảnh sẵn có trên sách mềm hoặc sách giáo khoa sẽ dễ cho học sinh, các em có thể trả lời dễ dàng các câu hỏi đó. (Bài 14: Kể chuyện Hai chú gà con - Sách Tiếng Việt - Cánh diều) Hoặc với bài 41: em - ep GV đưa hình ảnh, để học sinh phát hiện ra từ ngữ mới cho hiệu ứng từ ngữ phù hợp với hình ảnh. Điều đó giúp học sinh hào hứng hơn. Trong từ ngữ 15 tìm được có vần hoặc âm mà giáo viên cần khai thác, vần mới sẽ được giáo viên gạch chân vào đó. Bởi những hình ảnh trong bài học đều là những sự vật, hoạt động quen thuộc xung quanh cuộc sống của các em. ( Bài 41: Vần em, ep - Sách Tiếng Việt - Cánh Diều) 16 Việc sử dụng công nghệ thông tin áp dụng hàng ngày trong các tiết đã cải thiện rõ rệt tính chủ động của học sinh, khả năng phát hiện từ và ghi nhớ từ thông qua hình ảnh quen thuộc. 3.3. Biện pháp 3: Phát huy tư duy logic sáng tạo của các em bằng cách sử dụng bộ đồ dùng học tập và phối hợp phương pháp của Tiếng Việt 1- CGD. ( Hồ Ngọc Đại). Sách giáo khoa Tiếng Việt bộ sách Cánh Diều thiết kế các phần Học Vần bắt nguồn từ những âm chính như: âm/ âp, em/ ep, im/ ip, om/ op,... đều bắt nguồn từ những nguyên âm chính. Vì vậy trong những tiết luyện tập tôi thường giúp học sinh phát hiện và ghi nhớ các nguyên âm (12 nguyên âm) và bước đầu có những khái niệm về phụ âm. Từ đó, khi học những bài như om/op, tôi vận dụng mô hình vần và phân tích bằng tay cho học sinh dễ nhớ. o m o p om op Học sinh có thể so sánh hai vần có gì giống nhau và khác nhau. Trong mỗi vần có âm nào đứng trước và âm nào đứng sau, giúp học sinh ghi nhớ bằng cách sử dụng bộ đồ dùng học tập. Các em đã biết được vần om rồi thì các em thay chữ nào vào trong vần om để được vần op. Khi đó học sinh sẽ nhớ từ hơn. Chính những mối liên hệ từ việc có sự giống nhau ở phần âm chính sẽ giúp học sinh nhớ từ nhiều hơn không bị nhầm lẫn giữa các vần và các từ khác nhau. Khi học sinh đã nắm được mô hình của tiếng om và op, tôi có thể cho học sinh tự tìm những tiếng mới có chứa vần om/op. VD: Các em có thể thêm phụ âm đầu và dấu thanh vào trước vần om/op để tạo ra tiếng mới như: com, lom, bom, tóp, chóp, họp, còm... Dạy học bằng cách gắn kết giữa hai vần sẽ giảm thiểu thời gian rất nhiều. Đồng thời giúp học sinh tạo ra sự liên kết giữa các vần. Học sinh có thể chủ 17 động sáng tạo ghép vần bằng bộ đồ dùng học tập. Khi tìm tiếng mới học sinh tìm được rất nhiều tiếng phong phú khác nhau, giáo viên có thể giúp học sinh chia sẻ những tiếng mới đó thông qua phân tích tiếng. Khi đó, học sinh nắm được vần và cấu tạo tiếng mà mình tạo ra. Giáo viên sử dụng các kí hiệu và tín hiệu trên bảng thường xuyên, rèn cho học sinh tạo thành phản xạ khi có tín hiệu là thực hiện, để giảm bớt việc giáo viên nói nhiều, việc học tập có hiệu quả rõ rệt. ( Hình ảnh GV sử dụng tín hiệu, kí hiệu trong giảng dạy hàng ngày) Đồng thời, để khắc phục việc học sinh dễ nhầm trong luật chính tả, giáo viên giúp học sinh phân biệt cách dùng c/q/k và gh/g hoặc ng/ngh khi kết hợp với i,e,ê. Học sinh nắm được quy tắc chính tả sẽ không còn nhầm lẫn, việc viết chữ sẽ tốt hơn và đánh vần đúng chuẩn. Đó chính là sự kết hợp linh động trong việc vận dụng phương pháp đã dạy Tiếng Việt 1- CGD với bộ sách Cánh Diều mới mà vẫn đảm bảo phát huy được kiến thức của học sinh và ứng dụng đồ dùng học tập hiệu quả. 18 3.4. Biện pháp 4: Quan tâm tận tình, kiểm tra đôn đốc thường xuyên tới từng đối tượng học sinh. Học sinh lớp 1 cần có sự quan tâm thường xuyên. Vì vậy, tôi thường đến tận nơi để quan tâm học sinh. Nhắc nhở trường hợp chưa thực hiện được, động viên và khích lệ những em đã thực hiện tốt. Với những học sinh chưa hoàn thành được nhiệm vụ, tôi thường phối hợp với phụ huynh và các bạn có năng lực tốt ngồi cạnh để giúp đỡ các em hoàn thành ngay trên lớp. ( Hình ảnh giáo viên hướng dẫn học sinh gặp khó khăn) Chính sự quan tâm nhiệt tình tới từng đối tượng học sinh mà những em có năng lực chậm đã được bản thân tôi thúc đẩy rèn giũa thường xuyên, giúp các em cập nhật nhanh với tiến độ học tập của lớp. 19 III. KẾT QUẢ VÀ ỨNG DỤNG 1. Kết quả + Sản phẩm được tạo ra từ biện pháp: • HS biết chú ý lắng nghe, quan sát thực hiện theo hiệu lệnh của GV. • HS đọc tốt các từ có vần mới, câu ứng dụng và đoạn ứng dụng. • HS sử dụng tốt bộ đồ dùng khi thực hiện ghép các vần và tiếng mới. • HS không bị nhầm các lỗi chính tả c/q/k, g/gh, ng/ngh. + Các bảng số liệu, biểu đồ so sánh kết quả trước và sau khi thực hiện biện pháp: Sau thời gian dài áp dụng các biện pháp, kết quả thu được như sau: Học sinh có kĩ Học sinh có thể đọc Học sinh có kĩ Thời năng đọc tốt, chủ được vần, tiếng từ mới năng đọc, viết Sĩ điểm động tìm tiếng, từ có sẵn, bước đầu tự chậm, ghi nhớ số KS mới linh hoạt tìm được tiếng, từ mới chậm. Số lượng % Số lượng % Số lượng % Tuần 3 26 5 19,2 13 50 8 30,8 Cuối 26 HK 1 16 61,6 9 34,6 1 3,8 Qua bảng khảo sát trên, số học sinh đọc chậm, ghi nhớ chậm đã giảm đáng kể. Số học sinh đọc tốt, chủ động sáng tạo tăng lên. Sau khi áp dụng biện pháp “Một số biện pháp rèn kĩ năng đọc cho học sinh lớp 1 trong các tiết dạy Học vần của môn Tiếng Việt - bộ sách giáo khoa Cánh Diều” tôi đã thu được kết quả khả quan. Trong buổi sinh hoạt chuyên môn tổ tôi đã mạnh dạn trình bày biện pháp trước tổ đã được đồng nghiệp đánh giá cao và vận dụng vào khối 1 của trường trong học kỳ 2 năm học 2021-2022. Đến cuối năm tôi thu được kết quả của khối 1 như sau: 20 Học sinh có kĩ Học sinh có thể đọc Học sinh có kĩ Thời năng đọc tốt, chủ được vần, tiếng từ mới năng đọc, viết Sĩ điểm động tìm tiếng, từ có sẵn, bước đầu tự chậm, ghi nhớ số KS mới linh hoạt tìm được tiếng, từ mới chậm. Số lượng % Số lượng % Số lượng % Cuối 78 HK 2 56 71,8 22 28,2 0 0 Nhìn vào bảng số liệu trên, ta thấy số học sinh chậm ghi nhớ của khối đã không còn. Số học sinh đọc tốt, chủ động sáng tạo đạt 71,8%. Tôi sẽ tiếp tục áp dụng và rèn luyện trong các năm học tiếp theo để không có học sinh đọc kém nữa. 2. Ứng dụng - Đã được áp dụng ở học kỳ 1 tại lớp 1B (do tôi chủ nhiệm) và ở học kỳ 2 của toàn khối 1 của trường Tiểu học Đồng Kỳ năm học 2021-2022. - Biện pháp tiếp tục được áp dụng tại khối 1 trường Tiểu học Đồng Kỳ trong phân môn Học Vần của môn năm học 2022-2023 và lan rộng tới tất cả các trường Tiểu học trong toàn huyện Yên Thế. 21 IV: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 1. Kết luận + Ý nghĩa của sáng kiến Một số biện pháp khi áp dụng vào dạy học cho học sinh đã giúp học sinh có nhiều cơ hội để tìm tòi khám phá trong nhiều tình huống của tiết học. Học sinh được tham gia trực tiếp vào quá trình hình thành kiến thức và được quan sát, trình bày nhiều hơn. Học sinh cảm thấy hứng thú hơn trong các giờ học Học vần của môn Tiếng Việt, do vận dụng đổi mới hình thức và phương pháp dạy học, học sinh được: - Hoạt động nhiều hơn, được tự mình suy nghĩ và giải quyết vấn đề nhiều hơn. Học sinh tập trung nghe giảng hơn bởi theo cách dạy thử nghiệm học sinh phải tham gia hoạt động nhiều nên độ tập trung cao hơn. - Tham gia vào bài học sôi nổi hơn, đã mạnh dạn hơn trong việc bộc lộ chính kiến của mình, đặc biệt khả năng diễn đạt có phần trôi chảy và chính xác hơn. - Giờ học trở nên phong phú và sinh động hơn phù hợp với học sinh lớp Một. Học sinh tiếp thu bài có phần chắc chắn hơn đặc biệt khả năng phát hiện từ ngữ mới nhanh thông qua các hình ảnh gần gũi với học sinh. Có thể thấy qua các nguồn thông tin thu được cho phép bước đầu khẳng định các biện pháp đưa ra để rèn kỹ năng đọc cho học sinh lớp 1 trong các tiết Học vần đã thu được kết quả tích cực và cần phát huy. + Bài học kinh nghiệm Muốn đưa chất lượng môn Tiếng Việt nói chung và nâng cao chất lượng đọc cho học sinh lớp Một trong các tiết Học vần nói riêng giáo viên cần phải: - Theo dõi, tìm hiểu nguyên nhân cơ bản các em không nắm chắc âm, vần, tiếng, từ để có biện pháp giúp đỡ kịp thời, không để các em học xong chương trình lớp Một mà không đọc được. 22 - Bản thân giáo viên phải nhiệt tình, tìm tòi nghiên cứu thật kĩ bài dạy để cung cấp kiến thức phù hợp với lớp mình. - Phải kiên trì, nhẫn nại, tận tâm, hết mình vì các em, coi các em như con em của mình, phải nhẹ nhàng, không nóng nảy, khen nhiều hơn chê. Giáo viên cần động viên khuyến khích các em kịp thời. - Giáo viên cần lựa chọn phương pháp dạy học phù hợp, vận dụng đổi mới phương pháp dạy học lấy học sinh là trung tâm hay nói cách khác, giáo viên chỉ là người tổ chức các hoạt động học, còn học sinh phải chủ động chiếm lĩnh tri thức. Việc chuẩn bị đồ dùng cũng phải được coi trọng hàng đầu. 2. Kiến nghị Thường xuyên mở những hội thảo, chuyên đề về phương pháp giảng dạy cũng như về nội dung chương trình SGK mới để giáo viên có điều kiện tham gia học hỏi kinh nghiệm từ đồng nghiệp. Để nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện. Tăng cường thiết bị dạy học hiện đại hơn nữa để giáo viên vận dụng công nghệ thông tin vào trong dạy học đạt hiệu quả cao hơn nữa. Trên đây là một số biện pháp nhỏ của tôi để nâng cao kỹ năng đọc cho học sinh lớp Một trong các tiết Học vần. Với những biện pháp trên đã sử dụng trong thời gian qua phần nào giúp được học sinh lớp tôi nói riêng và học sinh khối Một của trường nói chung có kĩ năng đọc tốt hơn, hào hứng chờ đón tiết học. Tôi rất mong được sự đóng góp ý kiến để việc rèn đọc cho học sinh lớp Một của tôi có kết quả tốt hơn. Tôi xin trân trọng cảm ơn! XÁC NHẬN CỦA NHÀ TRƯỜNG Đồng Kỳ, ngày 18 tháng 10 năm 2022 NGƯỜI VIẾT (Ký và ghi rõ họ tên) Ngô Thị Hằng
File đính kèm:
mot_so_bien_phap_ren_ki_nang_doc_cho_hoc_sinh_lop_1_trong_ca.pdf



