Một số biện pháp rèn kĩ năng đọc cho học sinh lớp 1 trong các tiết dạy Học vần của môn Tiếng Việt - Bộ sách giáo khoa Cánh Diều

pdf21 trang | Chia sẻ: Chan Chan | Ngày: 10/02/2026 | Lượt xem: 22 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Một số biện pháp rèn kĩ năng đọc cho học sinh lớp 1 trong các tiết dạy Học vần của môn Tiếng Việt - Bộ sách giáo khoa Cánh Diều, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút TẢI VỀ ở trên
 3 
 I. PHẦN MỞ ĐẦU 
 1. Lý do chọn đề tài: “Một số biện pháp rèn kĩ năng đọc cho học sinh 
lớp 1 trong các tiết dạy Học vần của môn Tiếng Việt - bộ sách giáo khoa 
Cánh Diều”. 
 Trong công cuộc đổi mới đất nước, bên cạnh những biến đổi của nền 
kinh tế, chính trị, văn hóa thì Giáo dục đào tạo cũng đang trên đà phát triển 
và đổi mới. Bởi vậy Đảng và Nhà nước ta đã nêu cao vai trò: Giáo dục đào 
tạo là quốc sách hàng đầu, bậc Tiểu học là nền tảng. Cho nên mục tiêu giáo 
dục cũng nhấn mạnh: Hình thành cho học sinh những cơ sở ban đầu cho sự 
nghiệp phát triển đúng đắn và lâu dài về tình cảm, trí tuệ, thể chất và kĩ năng 
cơ bản, ban đầu để các em học tiếp các cấp tiếp theo hoặc đi vào cuộc sống 
lao động vững vàng hơn. Trong quá trình đổi mới phương pháp dạy học của 
bậc Tiểu học với mục tiêu giáo dục toàn diện các em được học 9 môn trong 
đó môn Tiếng Việt là môn học hết sức quan trọng. Nhất là đối với lớp Một, là 
lớp đầu cấp, người ta thường nói “ Cấp Tiểu học là nền, Lớp Một là móng”, 
móng có chắc thì nền mới vững. 
 Năng lực cốt lõi theo NQ29 là: Đổi mới Giáo dục là phải chuyển mạnh 
quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện 
phẩm chất và năng lực người học. Điều này phải đòi hỏi phải đổi mới tất cả 
các thành tố của chương trình giáo dục bao gồm: phạm vi và kết cấu nội 
dung, chuẩn cần đạt, phương pháp và hình thức tổ chức dạy học....theo yêu 
cầu phát triển phẩm chất và năng lực cho học sinh. 
 Trong quá trình đổi mới cần chú ý hình thành và phát triển những năng 
lực cần cho việc học suốt đời, gắn với cuộc sống hàng ngày, trong đó chú 
trọng các năng lực chung như: năng lực tự học, năng lực cá nhân, năng lực xã 
hội, năng lực giao tiếp, năng lực tư duy... Để hình thành và phát triển năng 
lực giao tiếp thì kỹ năng đọc là sự khởi đầu giúp cho học sinh chiếm lĩnh một 
công cụ mới để sử dụng trong học tập và trong giao tiếp. Nếu kỹ năng viết 
được coi là phương tiện ưu thế nhất trong hệ thống ngôn ngữ thì kỹ năng đọc 4 
có một vị trí quan trọng không thể thiếu được trong chương trình môn Tiếng 
Việt ở Tiểu học. 
 Môn Tiếng Việt ở Tiểu học nhằm trang bị cho học sinh các kĩ năng nghe, 
nói, đọc, viết. Riêng ở phân môn Học vần, kĩ năng đọc và viết được đặc biệt 
ưu tiên. Bởi mục tiêu của phân môn là dạy chữ - một phương tiện biểu đạt lời 
nói đặc biệt hiệu quả mà học sinh lớp 1 hầu như chưa biết tới.Tuy nhiên với 
thực tế bắt nhịp chương trình giáo dục phổ thông 2018, đứng trước thực trạng 
có rất nhiều bộ sách giáo khoa, thầy và trò lớp 1 còn gặp nhiều khó khăn 
trong quá trình dạy học. 
 Năm học 2021 - 2022 trường Tiểu học Đồng Kỳ thực hiện dạy học môn 
Tiếng Việt 1 bộ sách Cánh Diều. Bộ sách trong thời gian qua có những bình 
luận nhiều về nội dung cũng như từ ngữ biểu đạt của sách. Đồng thời, với đặc 
thù học sinh lớp 1 mới bước vào môi trường tiểu học “học là chính”, khác 
hẳn với môi trường mầm non “chơi mà học” thì việc tổ chức dạy học cho học 
sinh lớp 1 nhất là môn Tiếng Việt còn gặp rất nhiều khó khăn. 
 Bởi vậy việc rèn kĩ năng đọc cho học sinh là rất cần thiết và quan trọng. 
Là một giáo viên dạy lớp 1 tôi luôn trăn trở suy nghĩ làm như thế nào để dạy 
cho học sinh của mình ghi nhớ vần, từ nhanh và đọc thành thạo tiếng, từ, 
đoạn ứng dụng. Từ đó sẽ giúp các em có kỹ năng đọc tốt hơn. 
 Bằng tất cả mọi nỗ lực của mình trong suy nghĩ, tìm tòi, trao đổi, thảo 
luận với các đồng nghiệp khác cùng với việc cọ xát thực tiễn trải nghiệm 
công tác dạy lớp 1 với chương trình giáo dục phổ thông mới 2018, với những 
kinh nghiệm ít ỏi của bản thân tôi xin mạnh dạn đưa ra một số số ý kiến, suy 
nghĩ của mình qua đề tài: “Một số biện pháp rèn kĩ năng đọc cho học sinh 
lớp 1 trong các tiết dạy Học vần của môn Tiếng Việt - bộ sách giáo khoa 
Cánh Diều”. 
 2. Mục đích nghiên cứu 5 
 - Nhằm phát triển kỹ năng đọc của học sinh, giúp học sinh ghép vần 
thành thạo, giúp học sinh không lúng túng khi tìm các tiếng mới. Giúp học 
sinh chủ động và tự tin hơn trong học tập môn Tiếng Việt. 
 - Nâng cao chất lượng giáo dục môn Tiếng Việt lớp 1 nói riêng, chất 
lượng giáo dục toàn diện nói chung. 
 - Rút ra bài học kinh nghiệm cho bản thân và chia sẻ cùng đồng nghiệp 
về những biện pháp rèn kĩ năng đọc cho học sinh lớp 1 trong các tiết dạy Học 
vần của môn Tiếng Việt 
 3. Nhiệm vụ nghiên cứu. 
 Nghiên cứu cơ sở lí luận và thực tiễn về kỹ năng đọc của học sinh. 
 Đề xuất một số biện pháp rèn kỹ năng đọc cho học sinh lớp 1 trong các 
tiết dạy Học vần của môn Tiếng Việt. Phát triển năng lực cá nhân, năng lực 
giao tiếp, năng lực tư duy cho học sinh. 
 Thử nghiệm sư phạm nhằm kiểm tra tính khả thi của một số giải pháp 
rèn kỹ năng đọc cho học sinh lớp 1 trong các tiết dạy Học vần của môn Tiếng 
Việt. 
 4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 
 4.1. Đối tượng nghiên cứu. 
 - Một số biện pháp rèn kĩ năng đọc cho học sinh lớp 1 trong các tiết dạy 
Học vần của môn Tiếng Việt. 
 - Đối tượng khảo sát: Học sinh lớp 1B và học sinh khối 1 năm học 
2021-2022 trường Tiểu học Đồng Kỳ. 
 4.2. Phạm vi nghiên cứu 
 - Chương trình môn Tiếng Việt ở lớp 1 nói chung và với biện pháp “Một 
số biện pháp rèn kĩ năng đọc cho học sinh lớp 1 trong các tiết dạy Học vần 
của môn Tiếng Việt - bộ sách giáo khoa Cánh Diều. 
 - Không gian nghiên cứu: 
 + Lớp 1B và học sinh khối 1 Trường Tiểu học Đồng Kỳ 
 - Thời gian nghiên cứu: 6 
+ Từ tháng 9 năm 2021 đến tháng 5 năm 2022. 
+ Áp dụng cho những năm học tiếp theo. 
 5. Phương pháp nghiên cứu. 
- Phương pháp điều tra, phỏng vấn 
- Phương pháp đàm thoại, trao đổi 
- Phương pháp trực quan 
- Phương pháp thực nghiệm khoa học 
- Phương pháp thu thập số liệu 
- Phương pháp phân tích tổng hợp 
 7 
 II. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 
 1. Cơ sở lý luận. 
 Ở lứa tuổi lớp Một các em làm quen với Nghe, nói, đọc, viết. Kĩ năng 
đọc khi được hình thành ở các em, nó sẽ theo các em suốt cả cuộc đời. Không 
những thế mà nó còn để phát triển tư duy, cảm nhận cái hay, cái đẹp trong 
mỗi bài học, hiểu được nghĩa của tiếng, từ mình vừa đọc và các em có thể 
nắm bắt được kho tàng tri thức của loài người. Mặt khác ở lớp Một các em 
đọc đúng, đọc thành thạo thì khi lên các lớp trên các em mới học vững vàng 
và khi biết đọc các em sẽ có điều kiện các môn học khác được tốt hơn. Để 
làm được điều đó, điều đầu tiên giáo viên phải làm là nắm được tâm lí của 
học sinh, dạy học mang tính chất chuẩn xác khoa học. Mục đích của việc rèn 
kĩ năng đọc cho học sinh lớp Một là giúp các em cảm nhận được cái hay, cái 
đẹp, nhận thức về thế giới xung quanh, về cuộc sống của con người và xã hội. 
Qua đó, giáo dục cho các em tình yêu dân tộc, yêu quê hương đất nước. 
 Kỹ năng đọc cho học sinh lớp Một rất quan trọng, đó cũng là sự phản hồi 
của kết quả học tập sau một quá trình của các em. Nó thể hiện kết quả nhận 
biết các con chữ, các vần và khả năng ghép chữ cái với nhau thành vần, ghép 
chữ cái với nhau thành tiếng, và khả năng đọc từ, đọc câu sau cùng là đọc 
được một bài văn ngắn, một đoạn thơ...Là nền tảng cho các em học tốt khi lên 
các lớp trên. 
 2. Cơ sở thực tiễn: 
 * Thực trạng vấn đề: " Rèn kĩ năng đọc cho học sinh lớp 1 trong các 
tiết dạy Học vần của môn Tiếng Việt" 
 Khi tiến hành dạy hoạt động đọc trong các tiết Học vần của môn Tiếng 
Việt, tôi thường sử dụng chữ mẫu, hình ảnh có liên quan đến bài đọc cho học 
sinh quan sát. Giáo viên đưa ra các câu hỏi gợi ý để học sinh quan sát trả lời 
từ đó phát hiện ra những âm vần mới.Trong quá trình dạy học thực tế trên 
lớp, tôi nhận thấy học sinh còn gặp một số hạn chế sau: 8 
 * Hạn chế 
 - Học sinh gặp khó khăn trong việc nhận biết âm, vần mới. Nhất là các 
âm ghép, vần dài. 
 - Việc ghép vần của học sinh chưa thành thạo nhất là với các em nhận 
thức trung bình và chậm. Các em dễ quên, khó đọc trơn trong các từ mới, câu 
ứng dụng và đoạn ứng dụng. 
 - Học sinh đánh vần bằng nhiều cách khác nhau. 
 - Học sinh còn lúng túng khi tìm tiếng mới: Bị đảo âm đầu và vần, tìm 
tiếng không phù hợp vần đang học. 
 Bảng khảo sát Tuần thứ 3 năm học 2021-2022: 
 Học sinh có kĩ Học sinh có thể đọc Học sinh có kĩ 
 năng đọc tốt, chủ được âm, vần, tiếng từ năng đọc âm, vần, 
 Thời 
 Sĩ động tìm tiếng, từ mới có sẵn, bước đầu tự tiếng từ mới 
 điểm 
 số mới linh hoạt. tìm được tiếng, từ mới. chậm, ghi nhớ 
 KS 
 chậm. 
 Số lượng % Số lượng % Số lượng % 
 Tuần 3 26 5 19,2 13 50 8 30,8 
 * Nguyên nhân 
 Từ những hạn chế mà học sinh gặp phải, qua thực tế giảng dạy, tôi phát 
hiện ra những nguyên nhân như sau: 
 - Khả năng tiếp thu bài của học sinh chưa tốt nên việc nhớ âm và vần còn 
nhiều khó khăn. 
 - Bản thân nhiều em chưa thực sự chú ý trong tiết học để nắm được cấu 
trúc của vần hoặc của tiếng chứa vần mới, kĩ năng nghe hiệu lệnh chưa tốt, 
việc phối hợp sử dụng bộ đồ dùng của một số em còn hạn chế. Vì thế, việc 
ghép vần hoặc tạo tiếng mới gặp nhiều khó khăn. 9 
 - Học sinh chưa mạnh dạn chủ động khi tìm tiếng mới từ những vần đang 
học. Một số em còn phụ thuộc vào các bạn khá hơn, nhìn và làm theo bạn. 
Chính vì vậy việc tìm tiếng mới cho học sinh gặp hạn chế. Một số em khác 
do không thuộc từ, không thuộc quy luật ghép tiếng nên có thể bị đảo lộn 
giữa vần và âm đầu. 
 - Nhiều em nhận biết chậm nên khi cho đọc đồng thanh thì thực hiện 
được nhưng đến khi đọc cá nhân nhất là những từ mới và đoạn ứng dụng còn 
gặp khó khăn. Do các em chưa nhận biết được những vần vừa học và những 
vần đã học của những bài trước. 
 - Phụ huynh của một số gia đình chưa quan tâm đến việc tiếp cận 
chương trình mới và cách dạy đọc cho học sinh phù hợp. Chính vì vậy, phụ 
huynh có thể dạy đọc theo cách khác, hoặc cho học sinh nghe cách đọc khác 
với giáo viên dẫn đến học sinh bị tiếp thu nhiều cách đọc khác nhau nên khi 
đánh vần chung của lớp còn chưa khớp và dễ nhầm lẫn. Hơn nữa, một số phụ 
huynh chưa quan tâm việc học của con, có tư tưởng phó mặc cho giáo viên và 
nhà trường. 
 3. Các biện pháp 
 3.1. Biện pháp 1: Điều tra, phân loại học sinh, phát huy tính cộng 
tác, chủ động của học sinh. 
 - Trước tiên điều tra lý lịch trích ngang trong sổ chủ nhiệm, bản thân tôi 
lập riêng một sổ theo dõi về năng lực và tiến độ học tập hàng tuần của học 
sinh. 
 - Khoảng 3 - 4 tuần đầu tôi đã nắm được danh sách học sinh của lớp yếu 
môn Học vần (đọc còn ngọng, phát âm chưa chuẩn, không nắm được âm, mau 
quên, viết yếu) ghi vào sổ theo dõi (mỗi em một trang) thường nhật và tổng 
kết tháng. Đồng thời nắm được những em học tốt và các mức độ nhận thức 
khác. 
 - Với những học sinh có nhận thức tốt, tôi động viên phát huy năng lực 
của các em, để các em có thể tìm được nhiều tiếng mới, từ mới, đọc được các 10 
đoạn ứng dụng và trả lời những câu đọc hiểu. Đồng thời phát huy khả năng 
giúp đỡ bạn của các em, học sinh có thói quen cộng tác, giúp bạn khắc phục 
khó khăn ở mức độ đơn giản, hướng dẫn cho bạn chứ không cho bạn nhìn và 
chép. 
 - Với những em học sinh có nhận thức chậm,ở trên lớp tôi thường dành 
thời gian nhiều hơn cho các em, gọi các em đọc, nêu ý kiến của mình, động 
viên khích lệ các em để các em mạnh dạn hơn trong quá trình học tập cũng 
như trao đổi cùng bạn. Giáo viên đến bên cạnh các em thường xuyên để giúp 
đỡ các em. Về phía gia đình, phối hợp với bố mẹ các em để các em được quan 
tâm hơn và cùng các em hoàn thành những phần mà trên lớp các em chưa 
thực hiện xong. 
 - Tạo ra các nhóm học tập như “ đôi bạn cùng tiến”, “ nhóm bạn về nhất” 
để kích thích sự cố gắng của các em, tạo sự đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau từ 
chính những bạn học tốt với những bạn chậm. Điều này cũng giúp các em bỏ 
qua khoảng cách giữa học sinh học tốt và học sinh học yếu. Để chính các em 
có thể hỗ trợ lẫn nhau một cách tự nhiên nhất. 
 - Tôi thường xuyên hướng dẫn học sinh cách sắp xếp lấy, mở đồ dùng cho 
đúng. Hướng dẫn học sinh cách lấy âm vần mới bằng cách tôi phân biệt màu 
sắc của âm, vần mới trong tiếng của bài học hôm đó để HS nhớ sâu và nắm 
chắc kiến thức của bài học. Sau khi sử dụng đồ dùng học tập tôi hướng dẫn 
các em cần phải có thao tác cất đồ dùng học tập nhanh, đúng chỗ quy định. 
 - Đồng thời, giáo viên tăng cường đan xen các trò chơi hoặc khởi động 
đầu giờ, giữa giờ cho học sinh thư giãn thoải mái. Tạo điều kiện khuyến khích 
học sinh được nêu ý kiến của mình, chia sẻ cùng bạn và trước lớp. Rèn kĩ 
năng lắng nghe, tôn trọng ý kiến của bạn, cùng đóng góp ý kiến để giải quyết 
các vấn đề khó. Qua đó, học sinh chủ động, sáng tạo hơn trong học tập Tiếng 
Việt cũng như các môn học khác. 11 
 ( HS chủ động cộng tác và sử dụng bộ đồ dùng học tập hiệu quả) 
 3.2. Biện pháp 2: Ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học để 
phát huy năng lực thẩm mĩ, tính chủ động và ghi nhớ từ của học sinh. 
 Với bộ sách giáo khoa mới và chương trình giáo dục phổ thông 2018 yêu 
cầu giáo viên cần ứng dụng dạy học tích cực thông qua sách mềm và giáo án 
điện tử. Đây cũng là một nội dung rất hay mà bản thân tôi đã từng áp dụng 
dạy học trên nền giáo án điện tử từ những năm trước. Với tranh hình rất ngộ 
nghĩnh ở trong sách giáo khoa mềm, bản thân tôi thiết kế với những bài giáo 
án điện tử khác nhau nhằm phù hợp với đối tượng học sinh của mình. Với 
những bài học có những hình ảnh và từ ngữ còn chưa phù hợp với học sinh, 
tôi đã linh động lựa chọn những hình ảnh và từ ngữ sao cho HS có thể dễ hiểu 
nhất. 
 VD: Bài âm: i, ia tôi đã thay hình ảnh "tấm bia" bằng hình ảnh "cây mía" 
để gần gũi với học sinh. 12 
 ( Hình ảnh trong SGK) ( Hình ảnh GV điều chỉnh) 
 - Hay bài âm: đ, e tôi đã thay hình ảnh " đe" bằng hình ảnh " quả đỗ" và 
"hạt dẻ" 
 (Hình ảnh trong SGK) 
 ( Hình ảnh GV điều chỉnh) ( Hình ảnh GV điều chỉnh) 13 
 Chính những hình ảnh sinh động thực tế màu sắc giúp học sinh liên 
tưởng đến từ ngữ và dễ khắc ghi. Đặc biệt giáo viên có thể sưu tầm hoặc sử 
dụng những video tình huống để học sinh phát hiện ra những từ ngữ phù hợp 
với nội dung cần truyền đạt. Từ đó kỹ năng rèn nói của học sinh sẽ được tốt 
hơn. Những gì gắn với tình huống và thực tế sẽ giúp học sinh nhớ nhanh nhất. 
Nhờ vậy, việc nhớ âm và vần của học sinh không bị gò bó mà diễn ra một 
cách tự nhiên. 
 (GV ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học hàng ngày) 
 Ví dụ: Bài 14- Hai chú gà con 
 GV sử dụng sách mềm, khai thác câu chuyện thông qua video với hình ảnh 
động ngộ nghĩnh, đồng thời học sinh được nghe kể sẽ dễ nhớ và nhớ lâu hơn. 
 14 
 Khi học sinh thích thú, hào hứng chú ý nghe thì GV khai thác câu hỏi 
thông qua hình ảnh sẵn có trên sách mềm hoặc sách giáo khoa sẽ dễ cho học 
sinh, các em có thể trả lời dễ dàng các câu hỏi đó. 
 (Bài 14: Kể chuyện Hai chú gà con - Sách Tiếng Việt - Cánh diều) 
 Hoặc với bài 41: em - ep 
 GV đưa hình ảnh, để học sinh phát hiện ra từ ngữ mới cho hiệu ứng từ 
ngữ phù hợp với hình ảnh. Điều đó giúp học sinh hào hứng hơn. Trong từ ngữ 15 
tìm được có vần hoặc âm mà giáo viên cần khai thác, vần mới sẽ được giáo 
viên gạch chân vào đó. Bởi những hình ảnh trong bài học đều là những sự vật, 
hoạt động quen thuộc xung quanh cuộc sống của các em. 
 ( Bài 41: Vần em, ep - Sách Tiếng Việt - Cánh Diều) 16 
 Việc sử dụng công nghệ thông tin áp dụng hàng ngày trong các tiết đã 
cải thiện rõ rệt tính chủ động của học sinh, khả năng phát hiện từ và ghi nhớ 
từ thông qua hình ảnh quen thuộc. 
 3.3. Biện pháp 3: Phát huy tư duy logic sáng tạo của các em bằng 
cách sử dụng bộ đồ dùng học tập và phối hợp phương pháp của Tiếng 
Việt 1- CGD. ( Hồ Ngọc Đại). 
 Sách giáo khoa Tiếng Việt bộ sách Cánh Diều thiết kế các phần Học Vần 
bắt nguồn từ những âm chính như: âm/ âp, em/ ep, im/ ip, om/ op,... đều bắt 
nguồn từ những nguyên âm chính. Vì vậy trong những tiết luyện tập tôi 
thường giúp học sinh phát hiện và ghi nhớ các nguyên âm (12 nguyên âm) và 
bước đầu có những khái niệm về phụ âm. Từ đó, khi học những bài như 
om/op, tôi vận dụng mô hình vần và phân tích bằng tay cho học sinh dễ nhớ. 
 o m o p 
 om op 
 Học sinh có thể so sánh hai vần có gì giống nhau và khác nhau. Trong 
mỗi vần có âm nào đứng trước và âm nào đứng sau, giúp học sinh ghi nhớ 
bằng cách sử dụng bộ đồ dùng học tập. Các em đã biết được vần om rồi thì 
các em thay chữ nào vào trong vần om để được vần op. Khi đó học sinh sẽ 
nhớ từ hơn. Chính những mối liên hệ từ việc có sự giống nhau ở phần âm 
chính sẽ giúp học sinh nhớ từ nhiều hơn không bị nhầm lẫn giữa các vần và 
các từ khác nhau. 
 Khi học sinh đã nắm được mô hình của tiếng om và op, tôi có thể cho 
học sinh tự tìm những tiếng mới có chứa vần om/op. VD: Các em có thể thêm 
phụ âm đầu và dấu thanh vào trước vần om/op để tạo ra tiếng mới như: com, 
lom, bom, tóp, chóp, họp, còm... 
 Dạy học bằng cách gắn kết giữa hai vần sẽ giảm thiểu thời gian rất nhiều. 
Đồng thời giúp học sinh tạo ra sự liên kết giữa các vần. Học sinh có thể chủ 17 
động sáng tạo ghép vần bằng bộ đồ dùng học tập. Khi tìm tiếng mới học sinh 
tìm được rất nhiều tiếng phong phú khác nhau, giáo viên có thể giúp học sinh 
chia sẻ những tiếng mới đó thông qua phân tích tiếng. Khi đó, học sinh nắm 
được vần và cấu tạo tiếng mà mình tạo ra. 
 Giáo viên sử dụng các kí hiệu và tín hiệu trên bảng thường xuyên, rèn 
cho học sinh tạo thành phản xạ khi có tín hiệu là thực hiện, để giảm bớt việc 
giáo viên nói nhiều, việc học tập có hiệu quả rõ rệt. 
 ( Hình ảnh GV sử dụng tín hiệu, kí hiệu trong giảng dạy hàng ngày) 
 Đồng thời, để khắc phục việc học sinh dễ nhầm trong luật chính tả, giáo 
viên giúp học sinh phân biệt cách dùng c/q/k và gh/g hoặc ng/ngh khi kết hợp 
với i,e,ê. Học sinh nắm được quy tắc chính tả sẽ không còn nhầm lẫn, việc 
viết chữ sẽ tốt hơn và đánh vần đúng chuẩn. Đó chính là sự kết hợp linh động 
trong việc vận dụng phương pháp đã dạy Tiếng Việt 1- CGD với bộ sách 
Cánh Diều mới mà vẫn đảm bảo phát huy được kiến thức của học sinh và ứng 
dụng đồ dùng học tập hiệu quả. 18 
 3.4. Biện pháp 4: Quan tâm tận tình, kiểm tra đôn đốc thường 
xuyên tới từng đối tượng học sinh. 
 Học sinh lớp 1 cần có sự quan tâm thường xuyên. Vì vậy, tôi thường đến 
tận nơi để quan tâm học sinh. Nhắc nhở trường hợp chưa thực hiện được, 
động viên và khích lệ những em đã thực hiện tốt. 
 Với những học sinh chưa hoàn thành được nhiệm vụ, tôi thường phối 
hợp với phụ huynh và các bạn có năng lực tốt ngồi cạnh để giúp đỡ các em 
hoàn thành ngay trên lớp. 
 ( Hình ảnh giáo viên hướng dẫn học sinh gặp khó khăn) 
 Chính sự quan tâm nhiệt tình tới từng đối tượng học sinh mà những 
em có năng lực chậm đã được bản thân tôi thúc đẩy rèn giũa thường xuyên, 
giúp các em cập nhật nhanh với tiến độ học tập của lớp. 
 19 
 III. KẾT QUẢ VÀ ỨNG DỤNG 
1. Kết quả 
 + Sản phẩm được tạo ra từ biện pháp: 
 • HS biết chú ý lắng nghe, quan sát thực hiện theo hiệu lệnh của GV. 
 • HS đọc tốt các từ có vần mới, câu ứng dụng và đoạn ứng dụng. 
 • HS sử dụng tốt bộ đồ dùng khi thực hiện ghép các vần và tiếng mới. 
 • HS không bị nhầm các lỗi chính tả c/q/k, g/gh, ng/ngh. 
 + Các bảng số liệu, biểu đồ so sánh kết quả trước và sau khi thực hiện 
biện pháp: Sau thời gian dài áp dụng các biện pháp, kết quả thu được như sau: 
 Học sinh có kĩ Học sinh có thể đọc Học sinh có kĩ 
 Thời năng đọc tốt, chủ được vần, tiếng từ mới năng đọc, viết 
 Sĩ 
 điểm động tìm tiếng, từ có sẵn, bước đầu tự chậm, ghi nhớ 
 số 
 KS mới linh hoạt tìm được tiếng, từ mới chậm. 
 Số lượng % Số lượng % Số lượng % 
 Tuần 3 26 
 5 19,2 13 50 8 30,8 
 Cuối 26 
 HK 1 16 61,6 9 34,6 1 3,8 
 Qua bảng khảo sát trên, số học sinh đọc chậm, ghi nhớ chậm đã giảm 
đáng kể. Số học sinh đọc tốt, chủ động sáng tạo tăng lên. 
 Sau khi áp dụng biện pháp “Một số biện pháp rèn kĩ năng đọc cho 
học sinh lớp 1 trong các tiết dạy Học vần của môn Tiếng Việt - bộ sách 
giáo khoa Cánh Diều” tôi đã thu được kết quả khả quan. Trong buổi sinh 
hoạt chuyên môn tổ tôi đã mạnh dạn trình bày biện pháp trước tổ đã được 
đồng nghiệp đánh giá cao và vận dụng vào khối 1 của trường trong học kỳ 2 
năm học 2021-2022. Đến cuối năm tôi thu được kết quả của khối 1 như sau: 20 
 Học sinh có kĩ Học sinh có thể đọc Học sinh có kĩ 
 Thời năng đọc tốt, chủ được vần, tiếng từ mới năng đọc, viết 
 Sĩ 
 điểm động tìm tiếng, từ có sẵn, bước đầu tự chậm, ghi nhớ 
 số 
 KS mới linh hoạt tìm được tiếng, từ mới chậm. 
 Số lượng % Số lượng % Số lượng % 
 Cuối 78 
 HK 2 56 71,8 22 28,2 0 0 
 Nhìn vào bảng số liệu trên, ta thấy số học sinh chậm ghi nhớ của khối 
đã không còn. Số học sinh đọc tốt, chủ động sáng tạo đạt 71,8%. Tôi sẽ tiếp 
tục áp dụng và rèn luyện trong các năm học tiếp theo để không có học sinh 
đọc kém nữa. 
 2. Ứng dụng 
 - Đã được áp dụng ở học kỳ 1 tại lớp 1B (do tôi chủ nhiệm) và ở học kỳ 
2 của toàn khối 1 của trường Tiểu học Đồng Kỳ năm học 2021-2022. 
 - Biện pháp tiếp tục được áp dụng tại khối 1 trường Tiểu học Đồng Kỳ 
trong phân môn Học Vần của môn năm học 2022-2023 và lan rộng tới tất cả 
các trường Tiểu học trong toàn huyện Yên Thế. 
 21 
 IV: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 
 1. Kết luận 
 + Ý nghĩa của sáng kiến 
 Một số biện pháp khi áp dụng vào dạy học cho học sinh đã giúp học 
sinh có nhiều cơ hội để tìm tòi khám phá trong nhiều tình huống của tiết học. 
Học sinh được tham gia trực tiếp vào quá trình hình thành kiến thức và được 
quan sát, trình bày nhiều hơn. Học sinh cảm thấy hứng thú hơn trong các giờ 
học Học vần của môn Tiếng Việt, do vận dụng đổi mới hình thức và phương 
pháp dạy học, học sinh được: 
 - Hoạt động nhiều hơn, được tự mình suy nghĩ và giải quyết vấn đề nhiều 
hơn. Học sinh tập trung nghe giảng hơn bởi theo cách dạy thử nghiệm học 
sinh phải tham gia hoạt động nhiều nên độ tập trung cao hơn. 
 - Tham gia vào bài học sôi nổi hơn, đã mạnh dạn hơn trong việc bộc lộ 
chính kiến của mình, đặc biệt khả năng diễn đạt có phần trôi chảy và chính 
xác hơn. 
 - Giờ học trở nên phong phú và sinh động hơn phù hợp với học sinh lớp 
Một. Học sinh tiếp thu bài có phần chắc chắn hơn đặc biệt khả năng phát hiện 
từ ngữ mới nhanh thông qua các hình ảnh gần gũi với học sinh. 
 Có thể thấy qua các nguồn thông tin thu được cho phép bước đầu khẳng 
định các biện pháp đưa ra để rèn kỹ năng đọc cho học sinh lớp 1 trong các tiết 
Học vần đã thu được kết quả tích cực và cần phát huy. 
 + Bài học kinh nghiệm 
 Muốn đưa chất lượng môn Tiếng Việt nói chung và nâng cao chất lượng 
đọc cho học sinh lớp Một trong các tiết Học vần nói riêng giáo viên cần phải: 
 - Theo dõi, tìm hiểu nguyên nhân cơ bản các em không nắm chắc âm, 
vần, tiếng, từ để có biện pháp giúp đỡ kịp thời, không để các em học xong 
chương trình lớp Một mà không đọc được. 22 
 - Bản thân giáo viên phải nhiệt tình, tìm tòi nghiên cứu thật kĩ bài dạy để 
cung cấp kiến thức phù hợp với lớp mình. 
 - Phải kiên trì, nhẫn nại, tận tâm, hết mình vì các em, coi các em như con 
em của mình, phải nhẹ nhàng, không nóng nảy, khen nhiều hơn chê. Giáo 
viên cần động viên khuyến khích các em kịp thời. 
 - Giáo viên cần lựa chọn phương pháp dạy học phù hợp, vận dụng đổi 
mới phương pháp dạy học lấy học sinh là trung tâm hay nói cách khác, giáo 
viên chỉ là người tổ chức các hoạt động học, còn học sinh phải chủ động 
chiếm lĩnh tri thức. Việc chuẩn bị đồ dùng cũng phải được coi trọng hàng đầu. 
 2. Kiến nghị 
 Thường xuyên mở những hội thảo, chuyên đề về phương pháp giảng dạy 
cũng như về nội dung chương trình SGK mới để giáo viên có điều kiện tham 
gia học hỏi kinh nghiệm từ đồng nghiệp. Để nâng cao chất lượng giáo dục 
toàn diện. 
 Tăng cường thiết bị dạy học hiện đại hơn nữa để giáo viên vận dụng công 
nghệ thông tin vào trong dạy học đạt hiệu quả cao hơn nữa. 
 Trên đây là một số biện pháp nhỏ của tôi để nâng cao kỹ năng đọc cho 
học sinh lớp Một trong các tiết Học vần. Với những biện pháp trên đã sử dụng 
trong thời gian qua phần nào giúp được học sinh lớp tôi nói riêng và học sinh 
khối Một của trường nói chung có kĩ năng đọc tốt hơn, hào hứng chờ đón tiết 
học. Tôi rất mong được sự đóng góp ý kiến để việc rèn đọc cho học sinh lớp 
Một của tôi có kết quả tốt hơn. 
 Tôi xin trân trọng cảm ơn! 
XÁC NHẬN CỦA NHÀ TRƯỜNG Đồng Kỳ, ngày 18 tháng 10 năm 2022 
 NGƯỜI VIẾT 
 (Ký và ghi rõ họ tên) 
 Ngô Thị Hằng 

File đính kèm:

  • pdfmot_so_bien_phap_ren_ki_nang_doc_cho_hoc_sinh_lop_1_trong_ca.pdf
Bài giảng liên quan