Một số biện pháp nâng cao hiệu quả phòng chống tai nạn đuối nước
Bạn đang xem nội dung tài liệu Một số biện pháp nâng cao hiệu quả phòng chống tai nạn đuối nước, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút TẢI VỀ ở trên
1 MỤC LỤC Trang I. PHẦN MỞ ĐẦU .................................................................................... 1 1- Lí do chọn đề tài. .................................................................................... 1 2- Mục đích nghiên cứu. ............................................................................. 1 3- Nhiệm vụ nghiên cứu. ............................................................................. 1 4- Đối tượng, phạm vi nghiên cứu. ............................................................. 1 5- Phương pháp nghiên cứu. ....................................................................... 2 II. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU ................................................................ 2 1- Cơ sở lí luận ........................................................................................... 2 2 - Cơ sở thực tiễn . . .3 3 - Các giải pháp thực hiện . 5 III. KẾT QUẢ VÀ ỨNG DỤNG .............................................................. 11 IV. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ . ..13 2 I. PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Thực hiện nhiệm vụ trọng tâm hàng năm của Sở Giáo dục và đào tạo Bắc Giang đều đề cập đến vấn đề rèn kĩ năng sống cho học sinh và trong đó phòng chống tai nạn thương tích là một trong những nhiệm vụ trọng tâm. Trong đó, kĩ năng phòng tránh tai nạn đuối nước là một trong những nội dung quan trọng và thiết thực với đối tượng học sinh lứa tuổi tiểu học. Những năm gần đây kĩ năng phòng tránh tai nạn đuối nước được tuyên truyền và phổ biến rộng rãi trong cả nước nói chung và trong các trường tiểu học của huyện Yên Thế nói riêng. Bởi kĩ năng phòng tránh tai nạn đuối nước rèn luyện cho học sinh tránh được những rủi ro thương tâm, đồng thời rèn sự nhanh nhẹn, khéo léo, dẻo dai, khả năng tư duy sáng tạo, tâm lý vững vàng, tự tin quyết đoán. Tuy nhiên do thời lượng tập của học sinh ở lớp ít và điều kiện cơ sở vật chất đặc thù nên kỹ năng của học sinh còn hạn chế. Trong điều kiện thực tế thì thể lực và kĩ năng phòng tránh tai nạn đuối nước không phải cứ là tập luyện dưới nước mà thể lực và kĩ thuật luyện tập trên cạn là yếu tố cấu thành lên kĩ năng sinh tồn của các em. Chính vì lẽ đó luôn thôi thúc tôi làm thế nào để giúp các em trang bị kĩ năng phòng tránh tai nạn được hiệu quả nhất. Với mong muốn như trên tôi quyết định lựa chọn đề tài “Một số biện pháp nâng cao hiệu quả phòng chống tai nạn đuối nước”. 2. Mục đích nghiên cứu: Đảm bảo hiệu quả phòng chống đuối nước. 3. Nhiệm vụ nghiên cứu: Tìm ra những giải pháp thiết thực nâng cao hiệu quả phòng chống tai nạn đuối nước. 4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 4.1. Đối tượng nghiên cứu: Một số biện pháp nâng cao hiệu quả phòng chống đuối nước cho học sinh. 4.2. Phạm vi nghiên cứu: Học sinh tại trường 5. Phương pháp nghiên cứu 3 - Quan sát, thống kê. - Trao đổi, thảo luận với đồng nghiệp. - Nghiên cứu tài liệu. - Thực nghiệm, thi đấu. II. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 1. Cơ sở lí luận Trong môn Bơi lội tự do có 4 kiểu bơi cơ bản chính thống nhất là: bơi trườn sấp (hay còn gọi là bơi sải) – đây là kiểu bơi nhanh nhất, bơi ếch, bơi bướm, bơi ngửa; có thể phát sinh thêm các kiểu bơi chó, bơi lặn... - Bơi trườn sấp là gì? Bơi trườn sấp (tiếng Anh: Freestyle stroke) là kiểu bơi nhanh nhất trong các kiểu bơi. Người thực hiện có cơ thể nằm sấp và gần như hoàn toàn trong nước, thân người thẳng – gần như ngang với mặt nước, sử dụng hai tay quạt liên tục so le về phía trước, gạt nước về phía sau làm động lực đưa cơ thể tiến lên kết hợp với thở. Hai chân vẫy so le, gần như giữ thẳng đầu gối, duỗi thẳng hai bàn chân, biên độ góc gấp thay đổi ít. - Bơi ngửa (tiếng Anh: Backstroke): là kiểu bơi có kỹ thuật khá tương tự với bơi trườn sấp nhưng tư thế cơ thể ngược lại, ngửa mặt lên trên. - Bơi ếch (tiếng Anh: Breaststroke): kiểu bơi chậm nhất trong 4 kiểu bơi thể thao, là kiểu bơi có hình thức giống loài ếch bơi dưới nước. - Bơi bướm: (tiếng Anh: Butterfly stroke, hoặc đôi khi là Fly stroke, Dolphin stroke): là kiểu bơi nhanh, đòi hỏi kỹ thuật và thể lực cao nhất vì phải kết hợp nhịp nhàng của toàn thân. Trong bơi bướm, động tác của đôi tay đối xứng nhau, hai chân khép sát, đạp nước tựa như đuôi cá heo, toàn thân kết hợp trồi lên và ngụp xuống tạo ra sự uốn nhịp nhàng theo hình sóng.[04- Giáo trình Bơi lội-NXB TDTT] Để hướng dẫn kĩ năng phòng tránh tai nạn đuối nước thì giáo viên hướng dẫn chủ yếu kĩ thuật bơi ếch Để có được những giờ tập luyện đạt kết quả cao khi luyện tập môn bơi lội trước tiên cần tạo cho các em niềm say mê, hứng thú trong khi tập luyện nắm 4 vững nội dung và thực hiện các động tác một cách tốt nhất. Giáo viên cần phải nghiên cứu kỹ nội dung bài tập, làm mẫu chính xác từng động tác, thao tác thuần thục, phân tích rõ ràng từng chi tiết kĩ thuật động tác trước khi lên lớp. Giáo viên làm mẫu động tác phải đạt được yêu cầu chính xác, đúng kĩ thuật. Vì những động tác làm mẫu dễ gây được ấn tượng trong trí nhớ các em. Khi phân tích, giảng giải kĩ thuật động tác nên ngắn gọn, xúc tích, dễ hiểu mặt khác dùng tranh, ảnh để minh hoạ tạo sự chú ý cho các em. Do đặc điểm tâm sinh lý của các em là học sinh thường hay hiếu động, thiếu tập trung nhất là trong những giờ học ngoại khoá do ảnh hưởng các yếu tố bên ngoài. Vậy giáo viên cần quán triệt học sinh thực hiện nghiêm túc nội qui trong giờ học. Chia lớp học thành từng nhóm, đội và thường xuyên cho các nhóm này thi đua với nhau để kích thích trong mỗi học sinh luôn luôn có sự phấn đấu trong học tập hơn nữa mặt khác tạo điều kiện cho các em có nhiều cơ hội tập luyện vận dụng những bài tập đã học một cách nhuần nhuyễn, mạnh dạn... Để mỗi khi tham gia dự thi ở các cấp luôn tự tin mạnh dạn không nhút nhác, e dè, sợ sệt... Giáo viên thường xuyên tuyên dương khích lệ những cá nhân tích cực tham gia tập luyện và ghi nhận những thành quả của học sinh đã đạt được trong những năm qua. Tạo được niềm tin, lòng tự hào của mỗi thành viên trong đội. Đồng thời cũng nhẹ nhàng nêu phân tích những khuyết điểm còn yếu kém, khó khăn chưa khắc phục được. 2. Cơ sở thực tiễn: Trên địa bàn xã An Thượng có rất nhiều ao hồ nhưng chỉ có 01 bể bơi đảm bảo an toàn để các em vui chơi, tập luyện và thực hành những kỹ thuật đã học. Học sinh đông nhưng số lượng giáo viên có đủ điều kiện giảng dạy môn đặc thù này còn thiếu vì thế mà phong trào tập luyện chưa thường xuyên, không có hệ thống bài bản và phương pháp cần thiết để hỗ trợ môn bơi lội này. - Việc khó khăn hơn cả đối với GV khi thực hiện là kinh nghiệm ít, khi thực hiện GV chủ yếu dựa vào kinh nghiệm tích lũy sau mỗi đợt tập luyện và thi đấu. - Thời gian tập luyện giành cho học sinh không nhiều (phải tranh thủ sau thời gian học văn hóa mới có thời gian để tập luyện chuyên môn). Học sinh còn nhỏ nên việc đi lại gặp nhiều khó khăn. 5 - Số lượng học sinh tham gia tập luyện kĩ năng bơi là rất ít, mặc dù rất muốn tham gia nhưng lại không được phép của bố mẹ vì sợ nguy hiểm đến tính mạng mà vì thế phong trào tập luyện hầu như không có chỉ khi thi đấu mới tập luyện vì thế chưa có nhiều hạt nhân chủ chốt khi tham gia các cuộc thi. - Bơi lội là môn thể thao đem lại sức khoẻ cho người tập nhưng nếu không có sự chỉ dẫn và quản lý của người lớn thì dễ dẫn đến đuối nuớc, nguy hiểm đến tính mạng. Để thi đấu đạt kết quả cao thì đòi hỏi người tham gia phải thực sự có sự tập luyện bài bản và nghiêm túc và nắm rõ các yếu lĩnh của kỹ thuật bơi của từng kiểu bơi thì mới có thể đạt kết quả cao. - Khảo sát học sinh đã biết bơi thì có đến 90% các em chỉ là đc gia đình thả xuống nước tự nổi lên chứ chưa biết làm như vậy để làm gì và không bơi hết được cự ly bể bơi theo yêu cầu (35m). Phối hợp chân, tay, thân người chưa đúng mà chỉ là có kĩ năng bơi – biết cách để cơ thể nổi lên trên mặt nước. - Kĩ năng tập luyện trên cạn không có mà chỉ mang khái niệm bơi là xuống nước, còn các bài tập trên cạn là không cần thiết. - Khi khảo sát các em không tự tin, còn rụt rè. Thực hiện khảo sát vào tháng 4/ 2020 trên học sinh trường về kĩ năng bơi theo bảng sau (n=411): Chưa biết bơi Biết bơi nhưng chỉ Biết bơi đúng kĩ STT biết nổi tự do thuật Số lượng % Số lượng % Số lượng % Khối 1 85/94 90,4 9/94 9,6 0/94 0 Khối 2 70/94 74,5 21/94 22,3 3/94 3,2 Khối 3 48/64 75 13/64 20,3 3/64 4,7 Khối 4 65/82 79,2 9/82 10,9 8/82 9,9 Khối 5 45/77 58,4 22/77 28,6 10/77 13 6 Theo bảng khảo sát trên nhận thấy tỉ lệ học sinh biết bơi đúng kĩ thuật ở các khối lớp chưa đạt 10% từ khối 1-4 học sinh khối 5 chỉ đạt 13%, số học sinh chưa biết bơi tức là đa số đã không được tiếp cận đến kĩ năng phòng tránh tai nạn đuối nước. Vì những lý do trên mà tôi đưa ra những giải pháp này để phần nào hỗ trợ những giáo viên có những bài tập thiết thực và hữu ích nhất khi đảm nhận tập huấn kĩ năng phòng chống tai nạn đuối nước để phù hợp với điều kiện cơ sở vật chất ở đơn vị mình. 3. Các giải pháp thực hiện Giải pháp 1: Thành lập lớp dạy bơi: Khảo sát, phân loại đối tượng học sinh thành lập các lớp kĩ năng cơ bản hay nâng cao. Từ những học sinh tham gia học tập kĩ năng ở lớp cơ bản sẽ tuyển chọn được những em có thể lực và yếu lĩnh kĩ thuật đúng và nhanh tham gia và lớp nâng cao có thể tham gia thi đấu. Qua tuyên truyền, khảo sát và đăng kí đã thành lập được 10 lớp theo độ tuổi và đặc thù tập luyện (mỗi lớp trung bình 20-25 em) + Tuổi 5-6-7: 04 lớp. + Tuổi 8-9-10: 06 lớp. + Lớp câu lạc bộ chất lượng tham gia thi đấu: 01 lớp. Từ đó có lịch cụ thể theo thời gian hợp lý cho từng lớp. Giải pháp 2: Dạy kĩ năng phòng tránh cơ bản và kĩ thuật bơi Giáo viên cần hướng dẫn cho các em nắm được kĩ thuật động tác cơ bản ban đầu và kĩ thuật bơi cho các em cần làm và đạt được như nào – đây là mấu chốt tạo hiệu quả cho kĩ năng phòng chống tai nạn đuối nước và là tiền đề cho thể thao thành tích cao. 7 2.1. Kĩ năng phòng tránh cơ bản ban đầu: Buổi tập huấn kĩ năng phòng tránh tai nạn đuối nước cho học sinh - Giảng dạy lý thuyết theo đúng tài liệu chính thống được ban hành về kĩ năng phòng tránh tai nạn đuối nước trên cạn cho học sinh ở các buổi sinh hoạt chung và ở đầu các buổi học. Những điều lưu ý khi tham gia vui chơi và tập luyện ở đâu để đảm bảo an toàn với môi trường nước. 2.2. Kĩ thuật bơi 2.2.1. Tư thế thân người - Tư thế thân người nằm sấp và gần như hoàn toàn trong nước, thân người thẳng – gần như ngang với mặt nước tạo với mặt nước 1 góc khoảng 3 – 5 độ. - Cách tập luyện: Giáo viên cho học sinh nằm trên ghế dài hơi nâng phần đầu và cổ lên một góc từ 3 – 5 độ, ở các tư thế hai tay xuôi theo thân và hai tay duỗi thẳng trên đầu (hai mũi bàn tay chạm nhau) đếm từ 1 - 6 sau đó lặp lại 3- 4 tổ. 2.2.2. Đặc điểm kỹ thuật động tác chân Người tập thực hiện động tác chân theo 4 nhịp: - Nhịp 1: Ngồi trên bậc rộng, hai tai chống phía sau, thân trên hơi ngả ra sau, hai chân và hai bàn chân đều duỗi thẳng, thoải mái không gồng. - Nhịp 2: rút chân từ từ lên hai đùi và hai gối hơi mở rộng ra hai bên nhưng hai chân vẫn duỗi thẳng. 8 - Nhịp 3: Rút hai mũi bàn chân lên và bẻ ra hai bên cho lòng bàn chân hướng ra ngoài. - Nhịp 4: Đạp mạnh hai chân ra hai bên liền khép nhanh chân sát vào nhau bàn chân duỗi trở về nhịp 1 - kết thúc 1 chu kì chân ếch. Khi luyện tập chân ếch người tập thực hiện chậm theo 4 nhịp: 2 tổ, mỗi tổ 10 chu kì; sau đó thực hiện co – duỗi – đạp – khép nhanh trong 1 nhịp: 2 tổ, mỗi tổ 15 – 20 chu kì. 2.2.3. Kĩ thuật quạt tay * Hai tay với kĩ thuật bơi ếch thực hiện theo 4 nhịp: - Nhịp 1: Người tập đứng chân trước chân sau hoặc rộng bằng vai thân người hơi khom người về trước, đầu ở tư thế cúi – cảm giác cầm gần như chạm vào cổ, hai tay duỗi thẳng phía trước, lòng bàn tay úp xuống dưới. - Nhịp 2: Hai tay đồng thời quạt mạnh ra hai bên tì nước (đè nước) và xuống dưới, lòng bàn tay hướng ra hai bên, đầu hơi ngẩng lên – cao hơn mặt phẳng của vai, miệng ù há ra để thở. - Nhịp 3: Khi hai tay kéo đến hai vai nhanh chóng khép hai khuỷu tay gần sát vào nhau, long bàn tay gần như úp vào nhau. - Nhịp 4: Đẩy mạnh hai tay duỗi về phía trước thành nhịp 1 và kết thúc 1 chu kì tay ếch. Người tập ban đầu tập chậm theo đúng 4 nhịp: 10 chu kì; sau đó tăng tốc độ lên tì mạnh tay kết hợp ngẩng đầu, khép nhanh và duỗi thẳng: 30 chu kì 2.2.4. Phối hợp tay chân và thân người * Đối với phối hợp tay – chân ếch phối hợp với nhịp thở trên cạn người tập thực hiện theo 4 nhịp: - Nhịp 1: Hai khuỷu tay khép gần sát nhau, hai bàn tay chắp trước ngực, hai chân khuỵu thấp rộng bằng vai. - Nhịp 2: Hai tay duỗi thẳng lên trời đồng thời đạp mạnh, duổi thẳng hai chân vào mặt đất. 9 - Nhịp 3: Kéo tì mạnh hai tay xuống ngang vai – lòng bàn tay hướng ra hai bên quạt nước. Đầu ngửa ra há miệng thở ù ra. - Nhịp 4: Khép nhanh hai khuỷu tay gần sát nhau trước ngực, hai chân khuỵu thấp trở về như nhịp 1. Người tập phối hợp tay – chân ếch với nhịp thở tập theo từng nhịp: 2 tổ, mỗi tổ 10 lần; sau đó tăng nhanh tốc độ vào một nhịp thực hiện 2 tổ, mỗi tổ 15 lần. 2.2.5. Bài tập phối hợp thở có nước: Người tập nằm trên ghế băng dài mặt úp vào chậu nhỏ đầy nước- tập trên cạn (chậu đặt bằng với mặt phẳng ghế băng). Tập dưới nước thì ngụp đầu trong nước thực hiện hai tay rút xuống đồng thời ngẩng đầu thổi ù bong bóng há mồm ra thở - khi mồm trên khỏi mặt phẳng nước sau đó ngậm miệng lại và cúi đầu vào nước để chuẩn bị thực hiện nhịp thở tiếp theo. Người tập thực hiện như trên 2 tổ, mỗi tổ 20 lần thở. 2.2.6. Bài tập thả lỏng: Sau các buổi tập phải nghiêm túc thực hiện các bài tập căng cơ, thả lỏng tích cực để người tập hồi phục nhanh nhất và tăng cường sức khỏe cho buổi tập sau: - Bài tập tự thả lỏng + Ngồi rung đùi - chân thả lỏng cá nhân + Đứng cúi người thả lỏng tay, thân người + Bài tập thả trôi người ngửa dưới nước là bài tập phục hổi nhanh nhất - Bài tập có người hỗ trợ. + Đứng cúi người, người kia cầm hai tay hoặc ngồi chống hai tay ra sau cầm hai chân thả lỏng tích cực. + Cũng có thể cúi người người phục vụ đấm lưng, xoa bóp các nhóm cơ vận động nhiều. + Nằm sấp, ngửa người hỗ trợ dùng chân rung các nhóm cơ đùi, cẳng chân, lưng + Giáo viên có thể dùng các bài tập xoa bóp thể thao để hồi phục tích cực cho người tập. 2.2.7. Lưu ý: 10 Trước khi bắt đầu buổi tập giáo viên cần kiểm tra sức khỏe người tập bằng cách hỏi – trao đổi trực tiếp với người tập – nếu người tập không đảm bảo sức khỏe tốt thì không thể thực hiện được tối ưu các yêu cầu của những bài tập mà giáo viên đề ra được. Sau khi kiểm tra thăm hỏi sức khỏe của người tập xong giáo viên tiến hành các bài tập khởi động – đây là phần bắt buộc và không thể thiếu ở trong tất cả các buổi tập. Dù khởi động ở đội hình nào thì vẫn phải tuân theo cách khởi động tất cả các khớp từ dưới lên trên hoặc từ trên xuống dưới, ưu tiên những khớp và cơ quan trọng: vai, bụng, đùi, gối, lưng, cẳng chân.. Đặc thù của các buổi tập ở câu lạc bộ thông thường: 2 buổi tập dưới nước 1 buổi tập hỗn hợp cả dưới nước và trên cạn. Theo nguyên tắc tập ở cạn xong mới xuống nước không được làm ngược lại. Buổi nào tập thể lực trên cạn nhiều thì dưới nước thiên về thả lỏng tích cực. Phần cơ bản của buổi tập bổ trợ trên cạn theo thứ tự: tư thế thân người, chân, tay sau đó đến các bài tập phối hợp. Tăng dần khối lượng bài tập qua các buổi tập và theo đối tượng học sinh với nam và nữ. Trong các buổi tập, người dạy linh hoạt vận dụng các bài tập cho từng nhóm học sinh để đạt hiệu quả tối ưu nhất. Sau mỗi buổi tập, người tập phải thực hiện nghiêm túc việc thả lỏng tích cực để người tập nhanh chóng bình phục và sẵn sàng học tập và tập luyện những buổi tập tiếp theo. Giải pháp 3: Tuyên truyền về mô hình phòng chống đuối nước trong nhà trường và địa phương - Phối hợp với PHHS cấp chứng chỉ bơi cho học sinh cuối cấp. - Hàng năm, trước, trong và sau hè kết hợp với Đoàn thanh niên tuyên truyền thường xuyên, sâu rộng mô hình phòng tránh tai nạn đuối nước và tập luyện Bơi lội. - Động viên, khích lệ kịp thời những em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn và những em có thành tích vượt trội. 11 - Dựa vào cơ sở vật chất – bể bơi đặt tại nhà trường tuyên truyền sâu rộng đến toàn thể các em thanh thiếu niên nhi đồng trên địa bàn xã. Bể bơi đặt tại trường Ban chỉ đạo Thanh niên tình nguyện và hoạt động hè xã cùng với hai nhà trường THCS và TH trao thưởng cho các em có thành tích xuất sắc trong môn Bơi đợt hè năm 2022 12 Kết hợp với Đoàn xã tập huấn kĩ năng phòng chống tai nạn đuối nước tại bể bơi của trường - Hàng năm có kế hoạch tập luyện đội tuyển tham gia thi đấu thường xuyên trước ít nhất 6 tháng vào lúc 16h30’-17h30’ hàng ngày và các buổi sáng 2 ngày cuối tuần (bổ trợ thể lực trên cạn là nhiều). Giải pháp 4: Xã hội hóa hoạt động dạy và học cho học sinh, tạo môi trường thân thiện, gần gũi - Miễn giảm học phí cho những học sinh có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn vươn lên trong học tập: từ khi hoạt động đã miễn giảm được tổng 20 lượt học sinh tham gia khóa học và đã bơi thành thạo. - Tạo điều kiện học nâng cao cho những em có tố chất tham gia tập luyện và thi đấu các cấp. - Kêu gọi những phụ huynh có kĩ năng bơi lội tốt chung tay cùng GV để hướng dẫn, bổ trợ cho HS trên địa bàn. - Trong các buổi tập hoàn thiện, giáo viên tổ chức các cuộc thi đua thành tích cho các em vừa củng cố tinh thần thi đấu vừa tạo động lực cho các em quen dần với các cuộc thi. Giáo viên cũng khích lệ các em bằng các phần quà nhỏ thiết thực. 13 - Hàng ngày, luôn quan sát đến tâm sinh lý của các em, nắm được tính cách, tình cảm của các em, từ đó có những sự quan tâm động viên kịp thời đến các em thì hiệu quả huấn luyện mới đạt được kết quả mong muốn. III. KẾT QUẢ VÀ ỨNG DỤNG 1. Ý nghĩa thực tiễn của sáng kiến: Qua thực tế giảng dạy, tuyên truyền tôi nhận thấy học sinh được trực tiếp tham gia vào tập luyện kĩ năng phòng tránh tai nạn đuối nước đã luôn thi đua hào hứng tập luyện để mang lại thành quả tốt nhất và điều quan trọng là các em đã có sự tiến bộ về thể chất, vững vàng về tinh thần sức mạnh tăng vượt bậc so với thời gian trước khi tập luyện. - Học sinh và nhân dân đã nhận thức được kĩ năng phòng tránh tai nạn đuối nước là cần thiết và quan trọng nên cũng đã quan tâm rất sớm cho các em được học kĩ năng phòng tránh tai nạn đuối nước từ rất nhỏ. Các em đã biết vui chơi ở những khu vực như nào là an toàn- trên địa bàn không xảy ra những trường hợp thương tâm. - Tập luyện kĩ năng phòng tránh tai nạn đuối nước còn giúp các em có sức khỏe, thể lực cường tráng, săn chắc tạo vóc dáng cho người tập cả về thể chất và tinh thần phát triển toàn diện về đức - trí - thể - mĩ. Trung bình đã mở được 10 lớp dạy kĩ năng bơi lội và trên 80% cho học sinh cuối cấp. Một buổi học kĩ năng phòng tránh tai nạn đuối nước 14 Điều này được chứng minh qua các giải Bơi do Phòng Giáo dục và đào tạo huyện Yên Thế và Sở Giáo dục và đào tạo Bắc Giang tổ chức theo chu kỳ HKPĐ hàng năm đội tuyển do tôi huấn luyện năm nào cũng mang lại thành tích đáng khích lệ cho nhà trường. Rất may mắn và được sự tin tưởng của lãnh đạo Phòng GD&ĐT cho bản thân tôi được là người phụ trách chính cho độ tuyển Bơi của huyện nhà tham gia HKPĐ tỉnh năm học 2020 – 2021 đáng khích lệ: 1 Giải Nhì đồng đội, 1 Giải Nhì cá nhân và 3 giải Ba cá nhân. Thực hiện khảo sát học sinh sau khi thực hiện các giải pháp theo bảng sau - thực hiện khảo sát vào tháng 10/2020 (n=412) Chưa biết bơi Biết bơi nhưng chỉ Biết bơi đúng kĩ STT biết nổi tự do thuật Số lượng % Số lượng % Số lượng % Khối 1 66/87 75,9 15/87 17,2 6/87 6,9 Khối 2 25/91 27,5 27/91 30,0 39/91 42,5 Khối 3 26/91 23,7 25/91 27,5 40/91 48,8 Khối 4 16/61 26,2 10/61 16,4 35/61 57,4 Khối 5 15/82 18,3 22/82 26,8 45/82 54,9 Qua bảng trên thấy hiệu quả rõ rệt, các em đã biết bơi đúng kĩ thuật không đơn thuần là biết nổi tự do nữa. Trung bình hơn 50% số học sinh được tiếp cận với kĩ năng bơi và phòng tránh tai nạn đuối nước. - Từ những hiệu quả trên, hiệu quả kinh tế thiết thực với bản thân tôi đó là sử dụng đúng năng lực chuyên môn, đảm bảo thu nhập cho gia đình và tạo thu nhập cho đồng nghiệp từ các lớp học kĩ năng tự nguyện của phụ huynh trên địa bàn. Phổ cập bơi và kĩ năng phòng tránh tại nạn đuối nước đến 100% giáo viên của trường. 2. Đối tượng hưởng lợi của sáng kiến: Học sinh, nhân dân, giáo viên, huấn luyện viên. 15 IV. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ 1. Kết luận Quá trình áp dụng các giải pháp trên vào đối tượng là các em học sinh tại trường và nhất là đội tuyển Bơi lội của trường giúp tôi làm căn cứ để tìm ra các phương pháp luyện tập cho học sinh phát triển một cách toàn diện nhất về thể lực cho các em không chỉ môn bơi lội mà còn sử dụng cho các môn thể thao khác nữa. Kết quả thực tế đã khẳng định sự khác biệt giữa thực tế thể lực của học sinh có sự nâng cao qua các năm. Bản thân trực tiếp giảng dạy môn Thể dục từ khối 1 đến khối 5 và quản lý các câu lạc bộ Thể dục thể thao tôi áp dụng lồng ghép giới thiệu các bài tập bổ trợ nhẹ nhàng vào các buổi tập chính khóa để không những chỉ các em tập luyện câu lạc bộ được thực hành mà học sinh toàn trường được nâng cao thể lực cơ bản chung phục vụ cho hoạt động sinh hoạt hàng ngày của các em học sinh. Từ đó dần nâng cao chất lượng, tạo tiền đề và sự ổn định về thể lực không chỉ môn Bơi lội mà còn là nền tảng chung và động lực cho các môn thể thao khác. Phấn đấu cuối năm học 2022-2023 đảm bảo 100% học sinh được tập huấn và tiếp cận với kĩ năng phòng tránh tai nạn đuối nước và trên 60% số học sinh biết bơi và bơi tốt. Đảm bảo được không xảy ra tai nạn đuối nước thương tâm trên địa bàn xã. Trên đây là những đánh giá của bản thân tôi dựa trên cơ sở thực tiễn tại cơ sở. 2. Kiến nghị - Qua thời gian giảng dạy cũng như tham gia thi đấu nhiều lần tôi xin có một số ý kiến đề xuất nhằm nâng cao chất lượng, phát triển mở rộng phong trào học tập kĩ năng phòng tránh tai nạn đuối nước cho học sinh như sau: - Với giáo viên cần nâng cao phong trào học và tự học để nâng cao trình độ, kiến thức và tích lũy được nhiều kinh nghiệm cho nội dung này. Giáo viên cần động viên, khuyến khích tinh thần để học sinh hứng thú với bộ môn, đam mê và hăng say tập luyện để khẳng định vị thế của nhà trường trong nội dung này. 16 - Với học sinh cần tích cực, hăng say tập luyện trên cơ sở GV đã trang bị cho kiến thức và kỹ năng. - Từ những kiến thức cơ bản tạo tiền đề cho thể thao thành tích cao- tham gia thi đấu đạt đết quả cao. - Quan tâm đầu tư hơn nữa cả vật chất để GV hăng say làm công tác chuyên môn, thành lập câu lạc bộ đầu tư hỗ trợ kinh phí để hoạt động. Có thể cho giáo viên đi để học hỏi qua các giải đấu. - Với Phòng GD&ĐT, Sở GD&ĐT tổ chức những đợt tập huấn cho GV hàng năm để trao đổi, học những kinh nghiệm của các đơn vị phát triển hơn. Trên đây là những đánh giá của bản thân tôi dựa trên cơ sở thực tiễn tại trường trong những năm qua. Xin chân thành cảm ơn! 17 DANH MỤC CÁC TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Giáo trình Bơi lội – NXB TDTT [01]
File đính kèm:
mot_so_bien_phap_nang_cao_hieu_qua_phong_chong_tai_nan_duoi.pdf



