Một số biện pháp giúp học sinh học tốt phần âm, vần môn Tiếng Việt lớp 1
Bạn đang xem nội dung tài liệu Một số biện pháp giúp học sinh học tốt phần âm, vần môn Tiếng Việt lớp 1, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút TẢI VỀ ở trên
UBND HUYỆN YÊN THẾ TRƯỜNG TH TAM TIẾN PHẦN E. ĐÁNH GIÁ, NHẬN XÉT CỦ A NHÀ TRƯỜNG 1. Đánh giá, nhận xét của tổ/ nhóm chuyên môn BÁO CÁO BIỆN PHÁP THAM GIA HỘI THI . GIÁO VIÊN DẠY GIỎI CẤP HUYỆN CHU KỲ 2024 - 2026 Tên biện pháp: Một sốT bỔiệ/NHÓMn pháp giúp TRƯ hỞọcNG sinh CHUYÊN học tốt ph MÔNần âm , vần môn Tiếng(ký Vi vàệ tghi lớp rõ 1 họ tên) 2. Đánh giá, nhận xét, xác nhận của Hiệu trưởng . THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ (ký và đóng dấu) Họ và tên: Nguyễn Thị Tuyết Vỹ Môn giảng dạy: Văn hóa Trình độ chuyên môn: Đại học Chức vụ: Tổ trưởng tổ 1 Đơn vị công tác: Trường TH Tam Tiến TÁC GIẢ XÁC NHẬN CỦA NHÀ TRƯỜNG (Kí, ghi rõ họ tên) (Ký tên, đóng dấu) Nguyễn Thị Tuyết Vỹ Trần Ngọc Khương Tam Tiến, ngày 23 tháng 4 năm 2025 MỤC LỤC I. PHẦN MỞ ĐẦU Trang 1 1 Lý do chọn sáng kiến Trang 1 2 Mục đích nghiên cứu Trang 2 3 Nhiệm vụ nghiên cứu Trang 2 4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu Trang 3 4.1 Đối tượng nghiên cứu Trang 3 4.2 Phạm vi nghiên cứu Trang 3 5 Phương pháp nghiên cứu Trang 3 II. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU Trang 3 1 Cơ sở lí luận Trang 3 1.1 Mục tiêu chương trình môn Tiếng Việt cấp Tiểu học Trang 3 1.2 Vai trò của môn Tiếng Việt lớp 1 Trang 4 1.3 Vai trò của việc dạy học âm, vần trong môn Tiếng Việt lớp Trang 4 1 1.4 Đặc điểm tâm sinh lý học sinh lớp 1 Trang 4 1.5 Yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học theo chương trình Trang 5 Giáo dục phổ thông 2018 2 Cơ sở thực tiễn Trang 5 2.1 Về phía giáo viên Trang 5 2.2 Về phía học sinh Trang 6 2.3 Về phía phụ huynh học sinh Trang 6 3 Các biện pháp Trang 7 3.1 Biện pháp 1: Giúp học sinh nắm chắc phần cấu tạo của các âm - vần, phát âm đúng để viết đúng Trang 7 3.2 Biện pháp 2: Tổ chức dạy phân hóa đối tượng học sinh và Trang 9 thực hiện tăng cường luyện đọc cá nhân kết hợp nhóm nhỏ. 3.3 Biện pháp 3: Ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học âm - vần Trang 11 3.4 Biện pháp 4: Tăng cường sử dụng trò chơi học tập trong dạy học âm, vần Trang 13 3.5 Biện pháp 5: Phối hợp với phụ huynh một cách hiệu quả Trang 14 III. KẾT QUẢ VÀ ỨNG DỤNG Trang 16 1 Kết quả Trang 16 2 Ứng dụng Trang 17 IV. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ Trang 17 1 Kết luận Trang 17 2 Kiến nghị Trang 17 1 I. PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lí do chọn sáng kiến Tiểu học là bậc học đầu tiên trong hệ thống giáo dục nước ta, là bậc học nền tảng có ý nghĩa quan trọng, đặt cơ sở ban đầu cho việc hình thành và phát triển nhân cách học sinh. Với chương trình GDPT 2018 hiện nay, mục tiêu của chương trình giáo dục Tiểu học là: “giúp học sinh hình thành và phát triển những yếu tố căn bản đặt nền móng cho sự phát triển hài hòa về thể chất và tinh thần, phẩm chất và năng lực; định hướng chính vào giáo dục về giá trị bản thân, gia đình, cộng đồng và những thói quen, nề nếp cần thiết trong học tập và sinh hoạt”. Tiếng Việt là môn học vô cùng quan trọng không chỉ với bậc Tiểu học nói chung mà với tất cả các bậc học khác. Tiếng Việt không chỉ là môn học độc lập mà còn giữ vai trò nền tảng, là công cụ chủ yếu để học sinh tiếp cận tri thức ở tất cả các môn học khác. Để đạt được mục tiêu chung của cấp Tiểu học, chúng ta cần quan tâm sâu sắc tới môn học Tiếng Việt. Môn học này giúp học sinh hình thành và phát triển năng lực ngôn ngữ ở tất cả các kĩ năng đọc, viết, nói và nghe. Trong đó kĩ năng đọc là một kĩ năng quan trọng hàng đầu của học sinh ở bậc tiểu học. Lớp 1 là lớp học đầu tiên của bậc Tiểu học. Việc hình thành và phát triển bốn kỹ năng ngôn ngữ: nghe - nói - đọc - viết được xem là nhiệm vụ trọng tâm. Nếu HS lớp 1 có kĩ năng đọc tốt các em sẽ hứng thú với học tập, có niềm tin với các hoạt động học tập khác, góp phần phát triển các kĩ năng còn lại của môn Tiếng Việt. Kĩ năng đọc tốt còn giúp các em tự tin trong các môn học khác, qua đó giúp phát triển các năng lực cần thiết khác của bậc học. Nội dung học đầu tiên trong môn Tiếng Việt của học sinh lớp 1 là âm - vần. Trong đó, học âm, vần là bước khởi đầu quan trọng, giúp học sinh tiếp cận với hệ thống ngôn ngữ tiếng Việt một cách bài bản và có hệ thống. Học vần vì thế giữ vai trò như chiếc “chìa khóa” mở cánh cửa ngôn ngữ cho học sinh lớp 2 Một. Đây là nội dung tiền đề cho sự phát triển toàn diện của các em, tiến tới đọc được, viết được các tiếng, từ, câu và sau là đoạn, bài. Do vậy, việc học sinh lớp 1 học tốt nội dung âm - vần là vô cùng cần thiết. Tuy nhiên học sinh lớp 1 còn nhỏ, rất nhiều em còn gặp khó khăn khi phát âm, phát âm chưa chính xác, đọc ngọng, đọc chưa rõ ràng, viết chưa đúng quy trình, chưa liền mạch, còn sai độ cao, độ rộng và mắc nhiều lỗi chính tả, . Chính vì vậy, việc dạy và học nội dung âm - vần trong môn Tiếng Việt càng mang tính quan trọng hơn. Là giáo viên dạy lớp 1, tôi nhận thấy tầm quan trọng của việc dạy học âm - vần cho các em. Nếu các em gặp khó khăn khi học phần âm thì khi sang học ghép âm thành vần các em sẽ càng khó khăn hơn nữa. Các em sẽ đọc rất chậm, viết rất chậm, thậm chí có thể không đọc được, không viết được. Khi các em không đọc, không viết được hay đọc chậm, viết chậm các em sẽ rất khó khăn tham gia các hoạt động học tập khác. Qua thực tế giảng dạy tôi nhận thấy nhiều em còn gặp khó khăn khi nhận diện, phát âm và ghép vần, dẫn đến chậm tiến bộ và ảnh hưởng đến chất lượng học tập lâu dài. Vì vậy, việc tìm ra các biện pháp hỗ trợ học sinh học tốt phần âm, vần là yêu cầu cấp thiết. Xuất phát từ những lí do trên, năm học 2024-2025 tôi mạnh dạn áp dụng sáng kiến: " Một số biện pháp giúp học sinh học tốt phần âm, vần môn Tiếng Việt lớp 1” nhằm nâng cao hiệu quả học tập cho học sinh và tạo nền tảng vững chắc cho các lớp học tiếp theo. 2. Mục đích nghiên cứu - Nghiên cứu thực trạng phát âm của học sinh lớp 1. - Tìm ra một số biện pháp phù hợp giúp học sinh lớp 1 học tốt phần âm, vần trong môn Tiếng Việt. - Góp phần nâng cao chất lượng dạy và học Tiếng Việt ở lớp 1. 3. Nhiệm vụ nghiên cứu - Tìm hiểu thực trạng, đề xuất và áp dụng một số biện pháp giúp học sinh lớp 1 học tốt phần âm, vần. 3 4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 4.1. Đối tượng nghiên cứu Học sinh lớp 1A2 năm học 2024 - 2025. 4.2. Phạm vi nghiên cứu Nội dung học âm - vần trong môn Tiếng Việt lớp 1 bộ sách Kết nối tri thức với cuộc sống. 5. Phương pháp nghiên cứu - Phương pháp hỏi đáp. - Phương pháp trực quan. - Phương pháp thảo luận nhóm. - Phương pháp gợi mở. - Phương pháp đặt vấn đề. II. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 1. Cơ sở lí luận 1.1. Mục tiêu chương trình môn Tiếng Việt cấp Tiểu học - Giúp học sinh hình thành và phát triển những phẩm chất chủ yếu với các biểu hiện cụ thể: yêu thiên nhiên, gia đình, quê hương; có ý thức đối với cội nguồn; yêu thích cái đẹp, cái thiện và có cảm xúc lành mạnh; có hứng thú học tập, ham thích lao động; thật thà, ngay thẳng trong học tập và đời sống; có ý thức thực hiện trách nhiệm đối với bản thân, gia đình, xã hội và môi trường xung quanh. - Giúp học sinh bước đầu hình thành các năng lực chung, phát triển năng lực ngôn ngữ ở tất cả các kĩ năng đọc, viết, nói và nghe với mức độ căn bản: đọc đúng, trôi chảy văn bản; hiểu được nội dung, thông tin chính của văn bản; liên hệ, so sánh ngoài văn bản; viết đúng chính tả, ngữ pháp; viết được 4 một số câu, đoạn, bài văn ngắn (chủ yếu là bài văn kể và tả); 6 phát biểu rõ ràng; nghe hiểu ý kiến người nói. - Phát triển năng lực văn học với yêu cầu phân biệt được thơ và truyện, biết cách đọc thơ và truyện; nhận biết được vẻ đẹp của ngôn từ nghệ thuật; có trí tưởng tượng, hiểu và biết xúc động trước cái đẹp, cái thiện của con người và thế giới xung quanh được thể hiện trong các văn bản văn học. 1.2. Vai trò của môn Tiếng Việt lớp 1 Chương trình môn Tiếng Việt lớp 1 được phân bổ theo thời lượng là 12 tiết/ tuần tương ứng 420 tiết/ năm. Như vậy thời lượng của mô Tiếng Việt chiếm tới 31% tổng thời lượng chương trình dành cho các môn học bắt buộc. Môn Tiếng Việt lớp 1 giữ vai trò nền tảng, giúp học sinh hình thành và phát triển các kỹ năng ngôn ngữ cơ bản như nghe, nói, đọc, viết. Đây là môn học then chốt, làm cơ sở cho việc tiếp thu tri thức ở các môn học khác và cho quá trình học tập lâu dài. Đồng thời, qua các bài học, học sinh được bồi dưỡng tư duy ngôn ngữ, phẩm chất đạo đức và năng lực giao tiếp, từng bước hoàn thiện nhân cách. 1.3. Vai trò của việc dạy học âm, vần trong môn Tiếng Việt lớp 1 - Âm, vần là nền tảng để hình thành tiếng - đơn vị nhỏ nhất của lời nói có nghĩa trong Tiếng Việt. - Việc học chắc âm, vần giúp học sinh đọc đúng, viết đúng, phát triển khả năng giao tiếp và tư duy ngôn ngữ. - Ở lớp 1, việc dạy phần âm, vần, giữ vai trò nền tảng, giúp học sinh hình thành kỹ năng đọc - viết ban đầu, từ đó phát triển năng lực ngôn ngữ. - Dạy học âm, vần tốt sẽ giúp học sinh phát triển vốn từ, khả năng nghe - nói - đọc - viết chính xác, góp phần hình thành phẩm chất và năng lực theo yêu cầu Chương trình Giáo dục phổ thông 2018. 1.4. Đặc điểm tâm sinh lý học sinh lớp 1 5 - Học sinh lớp 1 vừa chuyển từ hoạt động vui chơi mẫu giáo sang học tập có chủ đích; khả năng tập trung còn hạn chế. - Các em học chủ yếu qua quan sát, nghe, bắt chước và trải nghiệm thực tế. - Các hoạt động học tập cần nhẹ nhàng, sinh động, gắn với trò chơi, vận động và hình ảnh trực quan để duy trì hứng thú học tập. 1.5. Yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học theo chương trình Giáo dục phổ thông 2018 - Chương trình GDPT 2018 nhấn mạnh việc hình thành và phát triển phẩm chất, năng lực học sinh, trong đó năng lực ngôn ngữ là cốt lõi từ lớp 1. - Dạy học cần lấy học sinh làm trung tâm, phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo trong quá trình tiếp thu kiến thức. - Dạy học âm, vần không chỉ chú trọng luyện đọc, luyện viết mà còn phải giúp học sinh vận dụng linh hoạt trong giao tiếp và học tập. 2. Cơ sở thực tiễn 2.1. Về phía giáo viên - Giáo viên đã được bồi dưỡng, tập huấn chuyên môn, nắm vững yêu cầu của chương trình môn Tiếng Việt lớp 1 theo Chương trình GDPT 2018. - Giáo viên có tinh thần trách nhiệm, tâm huyết với nghề, tích cực đổi mới phương pháp dạy học để phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý học sinh lớp 1. - Tuy nhiên, trong thực tế, việc tổ chức dạy học âm, vần vẫn còn gặp khó khăn như: + Nhiều giáo viên vẫn còn lúng túng trong việc đổi mới phương pháp dạy học âm, vần theo định hướng phát triển năng lực. + Hình thức tổ chức hoạt động học tập đôi khi chưa thật sự phong phú, chưa tạo được hứng thú cho học sinh trong quá trình học âm, vần. + Hoạt động dạy học phần âm, vần đôi khi còn nặng tính áp đặt, chưa tạo được sự tích cực mạnh mẽ cho học sinh trong tiết học. 6 2.2. Về phía học sinh - Nhiều học sinh lớp 1 còn hạn chế về vốn tiếng Việt, khả năng phát âm chưa chuẩn. Các em phát âm còn ngọng, còn sai lệch nhiều. - Kỹ năng nghe, phân biệt âm thanh còn yếu; khả năng ghi nhớ mặt chữ, ghép vần chậm, dẫn đến khó khăn trong việc ghép âm, ghép vần, đọc thành tiếng và đọc hiểu. - Có những học sinh học xong âm này hôm sau kiểm tra lại thì không nhớ nổi mặt chữ. Rất nhiều học sinh phát âm không chuẩn phần âm. Đa phần các em phát âm sai ở âm đầu: n/l; t/c; s/x; tr/ch, ; các lỗi phát âm sai phần vần: anh/ăn; an/ang; at/ac, - Một số học sinh nhút nhát, thiếu tự tin khi tham gia các hoạt động học tập, đặc biệt là các hoạt động luyện đọc, luyện phát âm. - Một số học sinh chưa có thói quen học tập tự giác, thiếu kiên trì trong luyện đọc, luyện viết. 2.3. Về phía phụ huynh - Rất nhiều phụ huynh không có điều kiện về thời gian để hỗ trợ con cái học tập. Điều này tạo ra một khoảng cách giữa nhà trường và gia đình trong việc theo dõi, khuyến khích và động viên học sinh trong việc học âm, vần. - Một số phụ huynh còn chưa nhận biết được tầm quan trọng của việc học âm - vần trong chương trình môn Tiếng Việt lớp 1. - Một số phụ huynh chưa biết cách hướng dẫn con học nội dung âm - vần, phụ huynh chủ yếu hỗ trợ các con đọc thuộc lòng, chép chữ mà không chú ý đến việc phát âm chuẩn hay giúp con cải thiện kỹ năng đọc đúng cách, viết đúng cách. Từ những cơ sở thực tiễn trên, năm học 2024- 2025 tôi đã chủ động khảo sát kĩ năng phát âm của học sinh lớp tôi sau 3 tuần nhận lớp. Tôi thu được kết quả như sau: 7 TS HS Đọc nhanh Đọc đúng Đọc chậm Chưa biết đọc SL % SL % SL % SL % 28 5 17,86 7 25 9 32,14 7 25 Theo kết quả khảo sát, lớp tôi chỉ có 17,86% học sinh đọc nhanh, phát âm chuẩn; 25% học sinh thuộc bảng chữ cái, biết đọc. Còn lại số học sinh chưa thuộc bảng chữ cái, thậm chí đọc rất chậm chiếm 57,14% ( khoảng hơn một nửa số lượng học sinh của lớp). Trong đó, lỗi chủ yếu là phát âm sai, phát âm ngọng rất nhiều. 3. Các biện pháp 3.1. Biện pháp 1: Giúp học sinh nắm chắc phần cấu tạo của các âm – vần, phát âm đúng để viết đúng - Với HS lớp 1 nhận biết thông qua trực quan sẽ giúp các em ghi nhớ dễ dàng hơn. Do vậy khi dạy mỗi một âm - vần mới, GV có thể sử dụng nhiều phương pháp, vừa nhìn (quan sát) kết hợp với nghe rồi làm theo mẫu và luyện tập thực hành ngay trên lớp. GV sử dụng hình ảnh, thẻ âm, thẻ vần, hình ảnh có tiếng chứa âm - chứa vần, để giới thiệu âm - vần mới. Qua đó, học sinh sẽ dễ dàng nhận diện và ghi nhớ mỗi âm, mỗi vần mới. HS thực hành tìm âm - vần mới và gài âm - vần khi đã nhận diện được âm - vần. Ví dụ: Khi dạy HS âm m, GV sẽ đưa ra hình ảnh âm m, hình ảnh tiếng chứa âm m giúp HS dễ nhận biết. 8 Ví dụ: Khi dạy HS vần am, GV sẽ đưa ra hình ảnh vần am, hình ảnh tiếng chứa vần am giúp HS dễ nhận biết. - Khi hướng dẫn HS phát âm, GV cho HS nghe cách phát âm để nhận biết, GV phát âm mẫu để HS quan sát cách phát âm, sau đó GV cần hướng dẫn học sinh phân tích cụ thể các yếu tố: vị trí bộ phận phát âm, cách thức bật âm, độ căng hay thả lỏng của cơ quan phát âm. HS sẽ thực hành phát âm cá nhân, theo nhóm nhỏ, GV bao quát và sửa kịp thời cho HS để các em phát âm thật đúng mỗi âm mới khi học. Ví dụ: Khi dạy âm /t/: Giáo viên hướng dẫn học sinh đặt đầu lưỡi chạm vào chân răng trên, bật mạnh ra để phát âm; âm /p/ được tạo ra bằng cách khép hai môi lại rồi bật mạnh ra. Vần /ap/: Phát âm "a" → giữ hơi → khép môi → bật nhẹ "p". Lưu ý với HS phát âm vần /ap/ xong môi sẽ khép lại. Khi HS đã nhận diện và phát âm đúng các âm - vần, GV sẽ hướng dẫn HS viết âm - vần. GV cho HS quan sát chữ viết mẫu, xem video hướng dẫn cách viết, GV viết mẫu trên bảng cho HS quan sát và sau đó HS thực hành viết bảng con rồi viết vở. 9 Tất cả các chữ trong bảng chữ cái tiếng Việt đều có đặc điểm, cấu tạo và cách viết cụ thể. Giáo viên phải giúp học sinh nhận biết được cấu tạo của chữ để viết đúng. Ví dụ 1: Chữ m viết thường cỡ nhỡ cao 2 ô li (3 đường kẻ ngang), chúng ta sẽ sử dụng 3 nét để viết. Cụ thể: Nét 1 (nét móc xuôi): Đặt bút giữa đường kẻ 2 và Đường kẻ 3 viết nét móc xuôi (trái) (chạm đường kẻ 3); dừng bút ở đường kẻ 1. Nét 2 (nét móc xuôi): Từ điểm dừng bút của nét 1, rê bút lên gần đường kẻ 2 để viết tiếp nét móc xuôi thứ 2 có độ rộng nhiều hơn độ rộng của nét 1, dừng bút ở đường kẻ 1. Nét 3 (nét móc hai đầu): Từ điểm dừng bút của nét 2, rê bút lên gần đường kẻ 2 để viết tiếp nét móc hai đầu (độ rộng bằng nét 2); dừng bút ở đường kẻ 2. Bên cạnh đó giáo viên phải giúp học sinh nắm vững được các âm, vần, tiếng, từ được ghép bởi những con chữ nào. Ví dụ: Khi dạy Bài 19: ng - ngh GV cần phân tích rõ: Trong tiếng nghé có âm ngh kép được tạo bởi các con chữ n+g+h, tiếng ngà có âm ng đơn được tạo bởi các con chữ n+g. Cả ng đơn và ngh ghép đều đọc là ngờ. Ngoài ra giáo viên cần giúp học sinh nắm vững được quy tắc chính tả để ghép đúng và viết đúng. Đứng trước âm i, âm e, âm ê phải sử dụng ngh. Khi học đến những âm - vần có cách phát âm gần giống nhau như: r/d/gi; t/c; t/th; b/ p; anh/ an; at/ac; am/ap; giáo viên cần nhắc lại cách phát âm, phân tích lại cấu tạo của các âm - vần này, cho học sinh luyện đọc nhiều lần các âm - vần này cùng lúc để các em dễ phân biệt và phát âm đúng để viết đúng. 3.2. Biện pháp 2: Tổ chức dạy phân hóa đối tượng học sinh và thực hiện tăng cường luyện đọc cá nhân kết hợp nhóm nhỏ. Trong lớp học chắc chắn sẽ có nhiều đối tượng HS khác nhau, có những HS việc tiếp thu kiến thức và thực hành rất nhanh nhưng cũng có những em rất chậm. Do vậy để giúp HS phát huy tốt nhất khả năng của mình 10 cũng như khắc phục những hạn chế của bản thân thì việc dạy phân hoá phù hợp với từng đối tượng học sinh là vô cùng cần thiết. Để thực hiện dạy học được phân hoá, GV cần nắm rõ từng đối tượng HS trong lớp mình để chia các em thành các nhóm HTT, HT và CHT. Từ đó sẽ đưa ra các phương pháp, các nhiệm vụ phù hợp với từng nhóm đối tượng HS. Việc dạy học phân hoá có hiệu quả nhất là tổ chức cho các em hoạt động theo nhóm. Tuỳ theo mục đích mong muốn hay lượng kiến thức cần tiếp thu, nhiệm vụ cần thực hiện mà có thể sắp xếp các nhóm hoạt động linh hoạt, phù hợp. Ví dụ nhóm có cả học sinh: HTT, HT và CHT. Với hình thức hoạt động nhóm này thường phù hợp mục đích mong muốn phát huy tích tích cực và tương tác giữa học sinh với nahu, em học tốt chỉ cho em học chậm. Cách hoạt động nhóm này giúp cho học sinh được thực hành và tham gia thảo luận cùng nhau. Qua đó các em sẽ tập trung hơn, hứng thú hơn và rèn khả năng kết nối tương tác cùng nhau. Chính vì vậy sẽ giúp học sinh ghi nhớ và nắm chắc kiến thức. Bên cạnh đó cũng có thể tổ chức hình thức hoạt động nhóm gồm những HS có cùng trình độ với nhau như: nhóm HS HTT, nhóm HS HT và nhóm HS CHT. Khi tổ chức nhóm HS có cùng trình độ với nhau sẽ giúp GV dễ dàng hướng dẫn và giao nhiệm vụ linh hoạt cho từng nhóm. Đồng thời cũng giúp HS dễ dàng tiếp thu kiến thức và giải quyết nhiệm vụ học tập của mình. Khi thực hiện nhiệm vụ buộc các em phải cùng nhau suy nghĩ, đưa ra cách giải quyết mà không có sự hỗ trợ từ các bạn học tốt hơn. Qua đó các em sẽ chủ động hơn trong học tập, ghi nhớ và vận dụng kiến thức mình có hiệu quả hơn. Ví dụ: Khi thực hiện nhiệm vụ gài tiếng có âm - vần mới. Với nhóm HS CHT trước tiên các em chỉ cần gài tiếng mẫu có chưa âm - vần mới để khắc sâu nhận diện âm - vần, cách phát âm, cách đánh vần, cách đọc. Với nhóm HS HT, các em có thể tìm và gài các tiếng khác tiếng mẫu có chứa âm - vần mới. Còn với nhóm HS HTT, các em có thể tìm và gài từ có tiếng chứa âm - vần mới học. Khi về nhà các em có thể tìm nhiều tiếng, từ khác có chứa âm - vần mới học, thậm chí có thể nói câu ngắn có tiếng chứa âm - vần mới 11 với sự hướng dẫn, hỗ trợ của người thân. Như vậy các em sẽ thấy lượng kiến thức và công việc vừa sức với mình và các em sẽ có hứng thú học tập, về nhà sẽ có thói quen tự học. Bên cạnh việc học phân hoá theo nhóm thì việc tăng cường luyện đọc cá nhân và theo nhóm nhỏ cũng rất hiệu quả và cần thiết. Mỗi buổi học, khi HS đã nhận biết cách phát âm, GV sẽ tăng cường cho HS luyện đọc cá nhân để phát hiện những khó khăn, nhầm lẫn của từng HS khi phát âm và điều chỉnh kịp thời. GV cũng nên chia học sinh thành các nhóm nhỏ 2 - 4 em để luyện đọc âm, vần cùng nhau. Giáo viên sẽ quan sát, điều chỉnh ngay cách phát âm, nối âm, ghép tiếng cho từng em, tránh lỗi sai kéo dài. Đồng thời, GV cũng động viên học sinh đọc to, rõ ràng trước nhóm hoặc trước lớp để rèn sự tự tin. 3.3. Biện pháp 3: Ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học âm - vần Ứng dụng CNTT là một phương pháp hiện đại, giúp học sinh tiếp cận kiến thức một cách sinh động và dễ dàng phù hợp với đặc điẻm tâm sinh lí lứa tuổi học sinh tiểu học, đồng thời tạo cơ hội cho giáo viên sử dụng các công cụ hiện đại để nâng cao chất lượng giảng dạy. Việc tích hợp công nghệ vào dạy học âm - vần Tiếng Việt 1 sẽ giúp học sinh tiếp thu bài học một cách trực quan, hấp dẫn và hiệu quả hơn. GV nên sử dụng hình ảnh trực quan giới thiệu các tiếng, từ có chứa âm - vần mới mỗi khi dạy âm - vần. Việc sử dụng hình ảnh trực quan giúp HS cảm thấy các con chữ này thật sự dễ dàng và hứng thú, như vậy sẽ thu hút học sinh thực hành. Ngay từ phần Làm quen của phần âm môn Tiếng Việt, GV cần cho học sinh quan sát kĩ hình ảnh minh họa có trong sách mềm và tiếng có chứa âm mới để HS nhớ được các âm. GV cũng có thể khai thác các hình ảnh minh hoạ từ các bộ sách mềm khác nhau để tạo sự phong phú, hấp dẫn HS. Hiện nay các nhà xuất bản đều cung cấp sách mềm hỗ trợ GV và HS trong quá trình dạy học. GV nên khai thác triệt để sách mềm đặc biệt là với nội dung dạy học âm - vần. Khi học mỗi âm - vần mới, GV có thể cho HS vừa 12 quan sát vừa nghe cách phát âm mẫu được cung cấp giúp HS dễ dàng nhận biết và ghi nhớ hơn. GV cũng có thể cho HS luyện tập tìm tiếng có âm mới với thiết kế kéo thả có sẵn trong sách mềm. Giáo viên cũng có thể tạo ra môi trường học tập thú vị, hấp dẫn cho học sinh thông qua các video minh họa về âm - vần. GV có thể sử dụng các video giáo dục có sẵn trên YouTube hoặc các nền tảng học trực tuyến để minh họa các âm, vần trong Tiếng Việt 1. Ví dụ: video giải thích cách phát âm, ghép âm vần, hoặc các đoạn video minh họa các từ có chứa âm - vần. Tuy nhiên khi sử dụng các video này GV cần đảm bảo độ tin cậy và tính chính xác của video trước khi cung cấp tới HS. Giáo viên cũng có thể ứng dụng một số phần mềm học tập Tiếng Việt giúp HS thực hành trực tiếp trên lớp như phần mềm kidsup Tiếng Việt, hoặc tự tạo ra các bài tập tương tác để HS thực hành qua phần mềm Quizizz. 13 3.4. Biện pháp 4: Tăng cường sử dụng trò chơi học tập trong dạy học âm, vần Sử dụng trò chơi học tập nhằm tạo ra môi trường học tập sinh động, hấp dẫn, khơi gợi hứng thú học tập cho học sinh trong quá trình tiếp cận âm, vần Tiếng Việt 1. Thông qua các trò chơi học tập, học sinh vừa học vừa chơi, từ đó tiếp thu kiến thức một cách tự nhiên, nhẹ nhàng và bền vững. Trò chơi học tập là trò chơi gắn liền với các hoạt động học tập và nội dung bài học giúp học sinh khai thác kinh nghiệm vốn có của bản thân để chơi và để học. Vì tập thể mà cố gắng hết khả năng để mang lại chiến thắng cho tổ, nhóm của mình. Đặc biệt, đối với môn Tiếng Việt thì trò chơi học tập càng có ý nghĩa quan trọng hơn trong việc tạo hứng thú học cho học sinh. Đối với chương trình GDPT 2018 nói chung và đối với môn Tiếng Việt nói riêng thì trò chơi học tập là 1 phần không thể thiếu trong mỗi bài học. Giáo viên cần căn cứ vào đặc điểm nội dung bài học và mức độ nhận thức của học sinh để lựa chọn các trò chơi phù hợp, đảm bảo mỗi trò chơi đều gắn liền với mục tiêu dạy học âm, vần như: nhận diện âm, vần; ghép vần tạo tiếng; luyện đọc; luyện viết. Một số trò chơi có thể áp dụng khi dạy âm - vần trong môn Tiếng Việt lớp 1 như: * Trò chơi "Ghép âm nhanh" - Mục tiêu: Củng cố nhận diện âm đầu, vần, dấu thanh và khả năng ghép tiếng. - Cách chơi: + Giáo viên chuẩn bị các thẻ từ: thẻ âm đầu (b, c, m, n...), thẻ vần (an, at, ai, ac...), thẻ dấu (sắc, huyền, hỏi...). + Chia lớp thành các nhóm nhỏ. + Giáo viên hô: "Ghép từ có âm đầu b, vần an, dấu nặng!" → học sinh nhanh tay chọn các thẻ phù hợp và ghép thành từ bạn. + Nhóm ghép đúng và nhanh nhất sẽ giành được điểm thưởng. 14 * Thi "Đọc tiếng nhanh" - Mục tiêu: Rèn kỹ năng đọc tiếng đúng âm, đúng vần, nhanh và chính xác. - Cách chơi: + Giáo viên chuẩn bị một danh sách các tiếng đã học (ví dụ: ba, cá, mẹ, bè, lon, non ). + Mỗi học sinh hoặc nhóm thi đua đọc một danh sách 10 tiếng trong thời gian ngắn nhất. + Ai đọc đúng tất cả và nhanh nhất thì thắng. Nếu sai một âm hoặc đọc nhầm vần, bị trừ điểm. * Trò chơi "Tìm bạn cùng âm" - Mục tiêu: Luyện phân biệt âm đầu hoặc vần. - Cách chơi: + Giáo viên phát cho mỗi học sinh một thẻ tiếng (ví dụ: ba, bé, bè, bò, buộc, bạn, ban, ). + Khi có hiệu lệnh, học sinh phải tìm những bạn có thẻ tiếng có cùng âm đầu hoặc cùng vần với mình để lập nhóm. + Nhóm nào tìm đủ bạn đúng yêu cầu trong thời gian nhanh nhất được tuyên dương. * Trò chơi "Vòng quay kỳ diệu" âm - vần: - Mục tiêu: Luyện ghép âm tạo vần, tiếng, tạo từ, - Cách chơi: +Học sinh lần lượt quay vòng quay để nhận nhiệm vụ ghép âm, tìm tiếng, tìm từ, đặt câu... + Mỗi lần thực hiện đúng yêu cầu sẽ được 1 điểm. + Kết thúc chơi ai có nhiều điểm nhất sẽ giành chiến thắng. 3.5. Biện pháp 5: Phối hợp với phụ huynh một cách hiệu quả 15 Phối hợp với PHHS nhằm huy động sức mạnh tổng hợp giữa nhà trường và gia đình trong việc hỗ trợ học sinh học tốt âm, vần tiếng Việt lớp 1. Qua đó, tạo điều kiện để các em được luyện tập thường xuyên, đúng phương pháp, phát triển kỹ năng đọc, viết một cách vững chắc ngay từ đầu. Ngay từ đầu năm học, giáo viên cần tổ chức họp phụ huynh để trao đổi về tầm quan trọng của việc học âm - vần ở lớp 1. Cần nhấn mạnh rằng: việc học âm, vần là nền tảng cơ bản để học sinh đọc, viết và học tốt các môn học sau này. Để việc phối hợp với PHHS có hiệu quả GV cần quan tâm một số nội dung sau: - Giáo viên cần hướng dẫn phụ huynh một số kỹ năng cơ bản như: + Cách kiểm tra bài cũ cho con (yêu cầu con đọc lại các âm, vần đã học trong ngày). + Cách luyện cho con phát âm chuẩn từng âm, vần. + Cách cùng con đọc sách, truyện thiếu nhi đơn giản để rèn kỹ năng nhận diện âm, vần trong từ. + Cách kèm con viết chính tả các âm, vần, tiếng, từ ngữ đơn giản. - Giáo viên có thể soạn và phát cho phụ huynh: + Các bảng âm, vần đã học theo từng tuần. + Các video hướng dẫn phát âm chuẩn (có thể gợi ý video trên YouTube, hướng dẫn PH truy cập và sử dụng sách mềm). + Các trò chơi đơn giản về âm - vần để phụ huynh cùng con thực hành (ví dụ: tìm tiếng chứa vần "ai", thi đọc nhanh các vần, ghép âm tạo tiếng...). - GV cần tăng cường liên lạc thường xuyên với phụ huynh: + Thiết lập các kênh liên lạc như nhóm Zalo lớp, để giáo viên kịp thời thông tin đến phụ huynh tiến trình học tập của học sinh. + Khen ngợi, động viên kịp thời những học sinh có sự tiến bộ; đồng thời, trao đổi nhẹ nhàng, góp ý cách hỗ trợ với những phụ huynh có con còn chậm. - GV phối hợp kiểm tra, đánh giá nhẹ nhàng: 16 Thỉnh thoảng giáo viên có thể giao bài tập nhỏ (ví dụ: quay video con đọc 5 tiếng chứa vần mới học, gửi cho cô), vừa giúp phụ huynh sát sao hơn, vừa giúp giáo viên nắm bắt mức độ tiến bộ của học sinh. Khi áp dụng phương pháp này mang lại nhiều lợi ích như: - Học sinh được luyện tập thường xuyên hơn, từ đó nhớ âm, vần chắc chắn và phát triển kỹ năng đọc, viết nhanh chóng. - Phụ huynh hiểu và đồng hành cùng con trong quá trình học tập, giảm áp lực cho nhà trường. - Tạo mối quan hệ gắn kết, hỗ trợ hiệu quả giữa giáo viên - phụ huynh vì mục tiêu chung: sự tiến bộ của học sinh. Tuy nhiên GV cũng cần lưu ý một số nội dung khi áp dụng giải pháp: - Tôn trọng sự khác biệt trong hoàn cảnh từng gia đình, không gây áp lực quá lớn cho phụ huynh. - Giao nhiệm vụ vừa sức, phù hợp với khả năng của từng học sinh. - Luôn giữ tinh thần động viên, khích lệ, cùng đồng hành, thay vì chỉ giao trách nhiệm cho phụ huynh. III. KẾT QUẢ VÀ ỨNG DỤNG 1. Kết quả Sau hơn 1 học kì áp dụng linh hoạt sáng tạo sáng kiến, tôi đã thu được kết quả sau: TSHS Đọc nhanh Đọc đúng Đọc chậm Chưa biết đọc SL % SL % SL % SL % 28 14 50 9 32,14 5 18,16 0 Bảng đánh giá kĩ năng phát âm của học sinh lớp 1A2 giữa học kì II. Qua quá trình áp dụng các giải pháp trên, tôi thấy tình hình học tập của học sinh đã chuyển biến rõ rệt. Đa số các em đọc to, rõ ràng. Trong quá trình 17 giao tiếp và học tập học sinh khá mạnh dạn và tự tin. Sáng kiến trên giúp cho chất lượng phần âm - vần môn Tiếng Việt ở các lớp ngày càng cao. Do đó, kết quả mang lại rất khả quan. 2. Ứng dụng Sáng kiến có thể áp dụng trong quá trình dạy nội dung học âm vần dành cho học sinh lớp 1 trong trường tiếu học. Sáng kiến sẽ là tài liệu tham khảo dành cho GV dạy lớp 1 nói riêng và GV tiểu học nói chung khi dạy nội dung âm, vần cho học sinh. IV. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ 1. Kết luận Sáng kiến đã áp dụng và mang lại hiệu quả cao không chỉ đối với học sinh lớp tôi mà đối với học sinh khối 1. Sáng kiến này hoàn toàn có thể áp dụng cho học sinh các vùng miền khác nhau. Trong quá trình áp dụng để sáng kiến đạt hiệu quả cao, giáo viên cần có nhiệt huyết, có tình yêu nghề, mến trẻ, tận tuy và hết lòng vì học sinh thân yêu. Đối với sự tiến bộ dù là nhỏ nhất cũng lấy đó làm thành công, là động lực thôi thúc người giáo viên vùng cao bám trường, bám lớp và quyết tâm mang cái chữ đến cho học trò. Không ngừng đổi mới phương pháp dạy âm, vần và vận dụng linh hoạt với từng đối tượng học sinh. 2. Kiến nghị Giáo viên không ngừng học hỏi để nâng cao trình độ học vấn. Cần luyện đọc thường xuyên để có giọng đọc thật chuẩn có sức thuyết phục. Việc đọc mẫu của giáo viên là khâu quan trọng giúp học sinh luyện tập thể hiện sự cảm nhận về nội dung, ý nghĩa của bài đọc qua giọng đọc, đồng thời các em học tập cách đọc của giáo viên. Cần phát huy luyện phát âm theo cặp, theo nhóm để học sinh luyện tập lẫn nhau. 18 Trong quá trình giảng dạy nên tổ chức trò chơi học tập để thay đổi không khí học tập gây hứng thú cho học sinh. Việc rèn học sinh có thói quen học ở nhà là một việc là cần thiết trong khâu đọc, bởi vì ở lớp thời gian học tập rất ít. Các em chuẩn bị bài ở nhà tốt thì đến lớp tiếp thu bài nhanh hơn, đọc tốt hơn. Từng bước giáo viên Tiểu học phấn đấu đạt trình độ chuẩn để đáp ứng mục tiêu cấp học. Cần sớm tiếp thu kết quả nghiên cứu của các nhà giáo dục về đổi mới phương pháp dạy học ở Tiểu học. Giảng dạy nhiệt tình, tạo lên không khí học tập sôi nổi để giúp mọi đối tượng học sinh nắm bắt được kiến thức, rèn luyện kĩ năng. Đặc biệt chú trọng việc rèn thói quen có nề nếp học tập tốt cho học sinh. Tuy nhiên, sáng kiến không tránh khỏi những hạn chế và thiếu xót. Rất mong nhận được ý kiến chia sẻ của các bạn đồng nghiệp, Ban giám hiệu nhà trường, các cấp lãnh đạo để sáng kiến được hoàn thiện hơn và áp dụng vào thực tiễn dạy học phần âm, vần lớp 1 có hiệu quả nhất. TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Tài liệu tập huấn chương trình GDPT 2018, bộ sách KNTT Và CS 2. Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể 2018 3. Thông tư 27/ BGD và ĐT 4. Sách TV tập 1, tập 2 bộ KNTT Và CS
File đính kèm:
mot_so_bien_phap_giup_hoc_sinh_hoc_tot_phan_am_van_mon_tieng.pdf



