Một số biện pháp giúp học sinh tích cực, sáng tạo trong học tập môn Mĩ thuật khối 4

pdf18 trang | Chia sẻ: Chan Chan | Ngày: 10/02/2026 | Lượt xem: 18 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Một số biện pháp giúp học sinh tích cực, sáng tạo trong học tập môn Mĩ thuật khối 4, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút TẢI VỀ ở trên
 ỦY BAN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THẾ 
 TRƯỜNG TIỂU HỌC ĐỒNG HƯU 
 BÁO CÁO BIỆN PHÁP THAM GIA HỘI THI 
GIÁO VIÊN DẠY GIỎI CẤP HUYỆN CHU KỲ 2024-2026 
 Tên biện pháp: 
 Một số biện pháp giúp học sinh tích cực, sáng tạo trong học 
 tập môn Mĩ thuật khối 4 
 Họ và tên: Hoàng Thị Hải Yến 
 Môn giảng dạy: Mĩ thuật 
 Trình độ chuyên môn: Đại học 
 Chức vụ: Giáo viên 
 Đơn vị: Trường Tiểu học Đồng Hưu, Yên thế, Bắc Giang. 
 TÁC GIẢ XÁC NHẬN CỦA NHÀ TRƯỜNG 
 HIỆU TRƯỞNG 
 HOÀNG THỊ HẢI YẾN NGUYỄN THỊ ÁNH 
 Đồng Hưu, ngày 25 tháng 04 năm 2025 
 MỤC LỤC 
I. PHẦN MỞ ĐẦU ........................................................................................... 2 
 1. Lý do chọn đề tài ....................................................................................... 2 
 2. Mục đích nghiên cứu ................................................................................. 2 
 3. Nhiệm vụ nghiên cứu ................................................................................ 3 
 4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu ................................................................ 3 
 5. Phương pháp nghiên cứu ........................................................................... 3 
II. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU ........................................................................ 5 
 1. Cơ sở lý luận ............................................................................................. 5 
 2. Cơ sở thực tiễn .......................................................................................... 5 
 3. Các biện pháp ............................................................................................ 6 
 3.1. Biện pháp 1: Tổ chức hoạt động nhóm để học sinh cùng hợp tác và 
 phát huy ý tưởng sáng tạo ......................................................................... 6 
 3.2. Biện pháp 2: Tích hợp trò chơi với thực hành Mĩ thuật .................... 8 
 3.3. Biện pháp 3: Sử dụng đồ dùng dạy học tự làm có tính sáng tạo ....... 9 
 3.4. Biện pháp 4: Sử dụng sơ đồ tư duy .................................................. 11 
 3.5. Biện pháp 5: Khuyến khích học sinh chia sẻ và phản biện trong các 
 hoạt động nhóm ....................................................................................... 12 
III. KẾT QUẢ VÀ ỨNG DỤNG .................................................................... 14 
IV. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ .................................................................. 14 
 1. Kết luận. .................................................................................................. 14 
 2. Kiến nghị. ................................................................................................ 15 
 Tài liệu tham khảo ....................................................................................... 17 
 2 
 I. PHẦN MỞ ĐẦU 
 1. Lý do chọn đề tài 
 Trong thực tế giảng dạy môn Mĩ thuật lớp 4 tại các trường Tiểu học 
hiện nay, vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế trong cách tổ chức dạy học. Đa số 
giáo viên vẫn sử dụng phương pháp truyền thống là giảng bài theo lối thuyết 
trình, sau đó yêu cầu học sinh thực hành theo mẫu định sẵn. Cách dạy này 
khiến học sinh thiếu tính chủ động, sáng tạo, chỉ sao chép lại những gì được 
hướng dẫn mà chưa thực sự hiểu, cảm nhận hay thể hiện được dấu ấn cá nhân 
trong sản phẩm mĩ thuật của mình. 
 Bên cạnh đó, tiết học Mĩ thuật còn thiếu yếu tố tương tác giữa giáo viên 
và học sinh, giữa học sinh với nhau; không gian lớp học chưa được tổ chức 
linh hoạt, đồ dùng trực quan còn ít, chưa phong phú. Học sinh chưa được 
khuyến khích thể hiện ý tưởng riêng, dẫn đến việc học Mĩ thuật trở nên nhàm 
chán, thiếu hứng thú và giảm hiệu quả. Việc đổi mới phương pháp dạy học 
theo định hướng phát triển phẩm chất và năng lực người học là yêu cầu cấp 
thiết, đặc biệt là ở môn học đòi hỏi cao về tư duy hình ảnh, cảm xúc và sáng 
tạo như Mĩ thuật. 
 Chính vì vậy, tôi lựa chọn đề tài “Một số biện pháp giúp học sinh tích 
cực, sáng tạo trong học tập môn Mĩ thuật khối 4” với mong muốn đề xuất 
những giải pháp thiết thực nhằm phát huy tính tích cực, chủ động và sáng tạo 
của học sinh, tạo ra môi trường học tập hấp dẫn, từ đó nâng cao chất lượng 
dạy học Mĩ thuật ở tiểu học. 
 2. Mục đích nghiên cứu 
 Mục đích của đề tài là nhằm đổi mới phương pháp dạy học môn Mĩ 
thuật theo hướng phát huy tính tích cực và sáng tạo của học sinh khối 4, phù 
hợp với định hướng giáo dục hiện đại. Cụ thể: 
 Khắc phục tình trạng học sinh học thụ động, sao chép theo mẫu, 
chưa biết cách thể hiện ý tưởng cá nhân trong sản phẩm mĩ thuật. 3 
 Tạo ra môi trường học tập linh hoạt, sinh động, giúp học sinh hứng 
thú hơn với môn học, từ đó phát huy năng lực cá nhân một cách tự nhiên. 
 Đa dạng hóa hình thức tổ chức dạy học như học theo nhóm, học qua 
trò chơi, sử dụng đồ dùng trực quan sáng tạo... nhằm khơi gợi sự tìm tòi và 
cảm hứng nghệ thuật ở học sinh. 
 Nâng cao năng lực chuyên môn cho giáo viên Mĩ thuật thông qua 
việc áp dụng các biện pháp dạy học tích cực, sáng tạo. 
 Góp phần thực hiện thành công chương trình giáo dục phổ thông 
mới, phát triển toàn diện cho học sinh, đặc biệt là năng lực thẩm mỹ và tư duy 
sáng tạo. 
 3. Nhiệm vụ nghiên cứu 
 3.1. Tìm hiểu thực trạng việc tổ chức hoạt động học tập môn Mĩ thuật 
của học sinh lớp 4 tại trường Tiểu học. 
 3.2. Phân tích những ưu điểm, hạn chế trong việc áp dụng các phương 
pháp giảng dạy hiện hành đối với môn Mĩ thuật. 
 3.3. Đề xuất một số biện pháp tổ chức dạy học tích cực nhằm phát huy 
tính sáng tạo và chủ động của học sinh. 
 3.4. Thử nghiệm, áp dụng các biện pháp đề xuất trong thực tế giảng dạy 
và đánh giá kết quả đạt được. 
 4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 
 4.1. Đối tượng nghiên cứu. 
 Hoạt động học tập môn Mĩ thuật của học sinh lớp 4. 
 4.2. Phạm vi nghiên cứu. 
 Thực hiện tại khối lớp 4 của trường Tiểu học. 
 5. Phương pháp nghiên cứu 
 5.1. Phương pháp điều tra, khảo sát 
 Xây dựng phiếu khảo sát dành cho học sinh và giáo viên (trong tổ 
chuyên môn) về: 
 + Mức độ yêu thích môn Mĩ thuật. 4 
 + Cách thức tổ chức lớp học hiện tại. 
 + Mức độ học sinh được tham gia vào hoạt động nhóm, trò chơi, sáng 
tạo cá nhân. 
 + Đánh giá của giáo viên về sự tiến bộ, biểu hiện sáng tạo của học sinh. 
 5.2. Phương pháp quan sát 
 Tham gia trực tiếp các tiết học, quan sát hoạt động nhóm, hoạt động cá 
nhân của học sinh; quan sát sản phẩm học tập của các em trong các bài thực 
hành mĩ thuật: 
 + Mức độ tham gia hoạt động học tập. 
 + Biểu hiện cảm xúc (hứng thú, chủ động, tích cực ). 
 + Sự sáng tạo trong cách thể hiện ý tưởng, sản phẩm. 
 + Khả năng giao tiếp, hợp tác với bạn trong nhóm. 
 5.3. Phương pháp thực nghiệm sư phạm 
 + Lựa chọn một lớp 4 làm đối tượng thực nghiệm (áp dụng các biện 
pháp mới). 
 + Lựa chọn lớp khác làm đối chứng (dạy theo phương pháp cũ). 
 + Giảng dạy theo kế hoạch bài học có sử dụng biện pháp đổi mới. 
 + So sánh kết quả học tập, mức độ hứng thú, khả năng sáng tạo giữa hai 
lớp qua các sản phẩm và đánh giá sau tiết học. 
 5.4. Phương pháp phân tích – tổng hợp tài liệu 
 + Nghiên cứu tài liệu chương trình giáo dục phổ thông mới. 
 + Tìm hiểu các tài liệu chuyên môn, tạp chí giáo dục, các sáng kiến 
kinh nghiệm đã có về đổi mới phương pháp dạy học môn Mĩ thuật. 
 + Tổng hợp các quan điểm giáo dục, lý thuyết dạy học tích cực, học 
qua trải nghiệm, học tập hợp tác 
 5.5. Phương pháp thống kê – xử lý số liệu 
 + Tổng hợp, xử lý các kết quả khảo sát đầu vào và đầu ra. 
 + So sánh tỉ lệ học sinh yêu thích môn học, thể hiện sáng tạo trước và 
sau thực nghiệm. 5 
 + Đánh giá hiệu quả dựa trên số lượng học sinh tiến bộ rõ rệt về kỹ 
năng, thái độ, sản phẩm mĩ thuật. 
 II. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 
 1. Cơ sở lý luận 
 Theo quan điểm giáo dục hiện đại, học sinh là trung tâm của quá trình 
dạy học. Vì vậy, việc tổ chức các hoạt động học tập cần hướng tới việc phát 
huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và phát triển toàn diện năng lực cá nhân 
của người học. 
 Môn Mĩ thuật là môn học có tính đặc thù, không chỉ giúp học sinh 
phát triển năng lực cảm thụ nghệ thuật mà còn rèn luyện tư duy hình tượng, 
khả năng quan sát, trí tưởng tượng và khả năng thể hiện cảm xúc thông qua 
hình ảnh. 
 Chương trình Giáo dục phổ thông 2018 yêu cầu giáo viên tổ chức dạy 
học theo định hướng phát triển phẩm chất và năng lực, trong đó năng lực 
thẩm mỹ là một trong những năng lực cốt lõi cần được hình thành và phát 
triển ở học sinh tiểu học. Việc tổ chức các hoạt động dạy học linh hoạt, phong 
phú, sáng tạo là yếu tố then chốt để thực hiện mục tiêu này. 
 Các lý thuyết giáo dục như: lý thuyết kiến tạo (constructivism), dạy học 
tích cực, học qua trải nghiệm, học qua hợp tác, đều nhấn mạnh vai trò của 
người học trong việc tự khám phá, trải nghiệm, chia sẻ và sáng tạo tri thức 
mới qua hoạt động nghệ thuật. 
 2. Cơ sở thực tiễn 
 2.1.Thực trạng việc học mĩ thuật của học sinh Tiểu học. 
 Qua thực tế giảng dạy tại trường Tiểu học, tôi nhận thấy đa số học sinh 
lớp 4 có hứng thú với môn Mĩ thuật nhưng chưa được khơi gợi và phát huy 
tối đa khả năng sáng tạo. 
 Nhiều em còn rụt rè, ngại thể hiện ý tưởng cá nhân, chưa mạnh dạn 
sáng tạo trong quá trình thực hành. 6 
 Giáo viên đôi khi còn lệ thuộc vào sách giáo khoa, ít tổ chức các hoạt 
động linh hoạt, hấp dẫn. Điều này làm hạn chế cơ hội để học sinh chủ động 
khám phá, trải nghiệm và phát triển tư duy nghệ thuật. 
 Cơ sở vật chất và đồ dùng dạy học còn hạn chế, ảnh hưởng đến việc tổ 
chức các hoạt động sáng tạo đa dạng. 
 Chính vì vậy, việc nghiên cứu và áp dụng một số biện pháp dạy học 
tích cực, sáng tạo là hết sức cần thiết nhằm nâng cao chất lượng học tập môn 
Mĩ thuật, đồng thời giúp học sinh phát triển năng lực một cách toàn diện. 
 2.2. Kết quả điều tra ban đầu: 
 Thiếu tích cực Tích cực nhưng Tích cực và có tư 
 Khối Sĩ 
TT trong giờ học ít sáng tạo duy sáng tạo 
 lớp số 
 SL % SL % SL % 
 Khối 
1 87 16 18,4 52 59,8 17 19,5 
 4 
 3. Các biện pháp 
 3.1. Biện pháp 1: Tổ chức hoạt động nhóm để học sinh cùng hợp 
tác và phát huy ý tưởng sáng tạo 
 Biện pháp này tạo cơ hội cho học sinh lớp 4 được cùng nhau làm việc, 
trao đổi, chia sẻ ý tưởng và sản phẩm nghệ thuật trong một môi trường học 
tập tích cực, dân chủ và sáng tạo. Từ đó, khuyến khích tinh thần hợp tác, tự 
tin thể hiện bản thân và trân trọng sự khác biệt. Biện pháp này giúp học sinh 
rèn luyện kỹ năng hợp tác, lắng nghe và tôn trọng ý kiến của nhau. Tăng 
cường khả năng tư duy sáng tạo, xây dựng ý tưởng và triển khai sản phẩm 
nghệ thuật theo nhóm. Phát triển năng lực giao tiếp, thuyết trình, phản biện 
trong môi trường học tập nghệ thuật. Tạo không khí học tập tích cực, cởi mở 
và giảm áp lực cho học sinh khi học Mĩ thuật. 
 Giáo viên chia nhóm học sinh theo sở thích, trình độ hoặc ngẫu nhiên. 
Mỗi nhóm khoảng 4 – 6 em, tùy vào quy mô lớp học. Việc chia nhóm cần 
đảm bảo sự đa dạng để học sinh có cơ hội học hỏi lẫn nhau. Giao nhiệm vụ cụ 
thể, rõ ràng, giáo viên đưa ra một đề bài mở, trong đó nhóm học sinh phải 7 
cùng thảo luận nội dung, phân công công việc và phối hợp thực hiện. Khuyến 
khích sử dụng các vật liệu đa dạng, có thể sử dụng bút màu, giấy dán, đất nặn, 
lá cây, vải vụn, để học sinh thoải mái sáng tạo. Những vật liệu tái chế giúp 
học sinh học thêm về bảo vệ môi trường. Giáo viên không can thiệp sâu vào ý 
tưởng mà giữ vai trò hướng dẫn, định hướng và hỗ trợ kỹ thuật khi học sinh 
gặp khó khăn. Sau khi hoàn thành, mỗi nhóm lên trình bày sản phẩm của 
mình trước lớp. Các nhóm khác có thể đặt câu hỏi, đưa nhận xét tích cực, góp 
ý xây dựng. Đây là cơ hội để học sinh rèn luyện kỹ năng thuyết trình và tư 
duy phản biện. 
 Ví dụ: Trong tiết học với chủ đề “Sự kết hợp thú vị của các vật liệu 
khác nhau”, giáo viên chia lớp thành 4 nhóm nhỏ tạo sản phẩm có nội dung 
khác nhau. Các nhóm sử dụng những vật liệu đã chuẩn bị được để tạo sản 
phẩm. Trong quá trình làm việc, các em tự chia công việc: bạn vẽ phác họa 
các hình ảnh, bạn tạo sản phẩm từ các vật liệu khác nhau, bạn cắt, bạn dán 
 Kết quả, mỗi nhóm tạo ra một sản phẩm hoàn chỉnh, thể hiện ý tưởng riêng, 
sinh động và đầy màu sắc. Học sinh hứng khởi, tự hào khi được trưng bày sản 
phẩm trên bảng lớp và trình bày quá trình làm việc của nhóm mình. 
 Hình ảnh học sinh tạo sản phẩm từ các chất liệu. 8 
 3.2. Biện pháp 2: Tích hợp trò chơi với thực hành Mĩ thuật 
 Biện pháp giúp tăng sự hứng thú, gắn kết học sinh vào quá trình học tập 
thông qua các trò chơi sáng tạo có liên quan đến nội dung bài học Mĩ thuật. 
Từ đó giúp học sinh vừa học, vừa chơi, vừa thực hành, khơi dậy trí tưởng 
tượng và sự chủ động khám phá nghệ thuật. Tạo môi trường học tập vui nhộn, 
giảm áp lực học thuật, khơi gợi hứng thú học tập. Giúp học sinh ghi nhớ kiến 
thức một cách sinh động, lâu dài thông qua trải nghiệm. Kích thích trí tưởng 
tượng, tư duy sáng tạo, khả năng giải quyết vấn đề linh hoạt. Tăng cường 
tương tác giữa học sinh với nhau và với giáo viên trong tiết học. 
 Việc kết hợp trò chơi trong tiết học Mĩ thuật cần đảm bảo các trò chơi 
phải có mối liên hệ chặt chẽ với kiến thức, kỹ năng cần đạt, phù hợp với tâm 
lý lứa tuổi học sinh lớp 4, giúp phát triển tư duy thẩm mỹ, khả năng hợp tác 
và sáng tạo. 
 Một số dạng trò chơi tích hợp hiệu quả có thể áp dụng như sau: 
 + Trò chơi “Chiếc nón kì diệu”: Giáo viên chuẩn bị các ô chữ, mỗi ô 
chứa câu hỏi liên quan đến các kiến thức đã học (ví dụ: màu nóng – lạnh, hoạ 
tiết dân gian, chất liệu trong Mĩ thuật ). Học sinh thi đua giữa các nhóm, 
quay nón và trả lời câu hỏi trong thời gian giới hạn. Giúp học sinh ôn luyện, 
ghi nhớ kiến thức cũ một cách vui vẻ, tự nhiên. 
 + Trò chơi “Vẽ tiếp nối”: Giáo viên chia lớp thành các nhóm. Mỗi 
nhóm được phát một tờ giấy khổ lớn. Một học sinh vẽ một chi tiết đầu tiên (ví 
dụ: một phần con vật, một hình khối...), sau đó chuyền cho bạn tiếp theo vẽ 
tiếp cho đến hết lượt. Trò chơi giúp học sinh phát triển khả năng tưởng tượng, 
tư duy nối kết hình ảnh, tạo nên một sản phẩm tập thể độc đáo, hài hước hoặc 
bất ngờ. 
 + Trò chơi “Tìm màu theo cảm xúc”: Giáo viên đọc tên một cảm xúc 
(ví dụ: vui, buồn, giận dữ, sợ hãi ), các em sẽ chọn và giơ thẻ màu phù hợp 
hoặc vẽ nhanh nét màu, hình ảnh thể hiện cảm xúc đó. Trò chơi giúp học sinh 9 
kết nối màu sắc với cảm xúc, hiểu và sử dụng màu có chủ đích khi thể hiện 
tranh vẽ cá nhân. 
 + Trò chơi “Họa sĩ đoán tranh”: Một nhóm vẽ một bức tranh thể hiện 
một câu thành ngữ, tục ngữ, hoặc chủ đề cụ thể. Nhóm khác đoán ý nghĩa 
tranh. Trò chơi giúp học sinh rèn kỹ năng quan sát, thể hiện ý tưởng bằng 
hình ảnh; tăng tính tương tác và hiểu biết văn hóa. 
 Hình ảnh học sinh tham gia trò chơi “Vẽ tiếp nối”. 
 3.3. Biện pháp 3: Sử dụng đồ dùng dạy học tự làm có tính sáng tạo 
 Tăng tính trực quan, sinh động và hấp dẫn cho giờ học Mĩ thuật bằng 
cách sử dụng các đồ dùng dạy học do giáo viên tự làm, phù hợp với đặc trưng 
bài học và đối tượng học sinh. Qua đó, giúp học sinh tiếp cận kiến thức dễ 
dàng hơn, khơi gợi trí tưởng tượng và tạo điều kiện để học sinh trải nghiệm 
thực tế. Tạo ra môi trường học tập phong phú, kích thích học sinh học bằng 
mắt, tay và cả cảm xúc. Tăng khả năng quan sát, nhận biết, phân tích hình 
ảnh, màu sắc, chất liệu. Phát huy khả năng tương tác hai chiều giữa giáo viên 10 
và học sinh thông qua hoạt động thực hành với đồ dùng. Giúp giáo viên chủ 
động hơn trong xây dựng tiết dạy sáng tạo, không phụ thuộc hoàn toàn vào tài 
liệu có sẵn. 
 Đồ dùng dạy học không chỉ là công cụ hỗ trợ bài học mà còn là chất 
xúc tác kích thích sự hứng thú, tò mò và niềm vui học tập của học sinh. Đặc 
biệt trong môn Mĩ thuật, đồ dùng sáng tạo còn giúp học sinh dễ hình dung 
hơn về các yếu tố thị giác như hình, nét, màu, bố cục, chất liệu. Đồ dùng cần 
đơn giản, dễ sử dụng, phù hợp với nội dung bài học. Tận dụng nguyên vật liệu 
sẵn có, thân thiện với môi trường (bìa cứng, giấy màu, vải vụn, nút chai ) 
đồng thời còn phải mang yếu tố thẩm mỹ và sáng tạo để truyền cảm hứng cho 
học sinh. 
 Một số hình thức đồ dùng dạy học tự làm hiệu quả: 
 + Mô hình tranh 3D: Dùng bìa cứng, xốp, keo để tạo các mô hình có 
chiều sâu, minh họa các yếu tố bố cục (gần – xa), hình khối không gian. giúp 
học sinh hiểu cách tạo không gian trong tranh. 
 + Bảng cảm ứng chất liệu: Là bảng dán mẫu các chất liệu thực như vải, 
giấy nhám, hạt cườm, giấy báo, dây len...Dùng trong bài dạy về “Chất liệu tạo 
hình”, giúp học sinh cảm nhận trực tiếp bằng tay, từ đó lựa chọn chất liệu phù 
hợp cho bài tập. 
 Hình ảnh Sản phẩm mô hình 3D sử dụng trong bài 6: Trang phục lễ hội. 11 
 3.4. Biện pháp 4: Sử dụng sơ đồ tư duy 
 Giúp học sinh hệ thống kiến thức một cách khoa học, dễ hiểu và dễ nhớ 
thông qua hình ảnh trực quan. Đồng thời, kích thích tư duy logic, sáng tạo và 
khả năng tự kết nối kiến thức của học sinh trong quá trình học môn Mĩ thuật. 
 Sơ đồ tư duy (Mind Map) là công cụ trực quan giúp tổ chức thông tin 
bằng cách phân nhánh, liên kết các ý chính với các chi tiết nhỏ hơn bằng hình 
ảnh, màu sắc và từ khóa. Trong môn Mĩ thuật, việc sử dụng sơ đồ tư duy 
không chỉ giúp học sinh ghi nhớ kiến thức dễ hơn mà còn khơi gợi trí tưởng 
tượng, khả năng liên tưởng nghệ thuật. Sơ đồ tư duy phát huy đồng thời cả tư 
duy logic và tư duy hình ảnh, phù hợp đặc thù môn Mĩ thuật. Giúp học sinh tổ 
chức, hệ thống kiến thức khoa học, dễ nhớ và dễ ôn tập. Thúc đẩy sự sáng tạo, 
chủ động và khả năng trình bày suy nghĩ một cách trực quan. Tăng cường kỹ 
năng hợp tác và làm việc nhóm trong các hoạt động học tập tích cực. 
 Giáo viên có thể hướng dẫn học sinh sử dụng sơ đồ tư duy trong các 
hoạt động sau: 
 + Tóm tắt kiến thức lý thuyết: Các bài học về màu sắc, bố cục, hình 
khối, cách phối màu, v.v. đều có thể được hệ thống hóa bằng sơ đồ tư duy. Ví 
dụ: Trong bài 1: “Đậm nhạt khác nhau của màu”, giáo viên cùng học sinh tạo 
sơ đồ gồm 3 nhánh chính là “Màu cơ bản”, “Cách pha màu”, “Màu thứ cấp” – 
mỗi nhánh được thể hiện bằng hình vẽ và màu sắc sinh động. 
 + Lập kế hoạch cho bài vẽ sáng tạo: Trước khi học sinh bắt tay vào bài 
thực hành, giáo viên hướng dẫn các em lập sơ đồ ý tưởng để định hình chủ đề, 
hình ảnh chính – phụ, màu sắc chủ đạo, cảm xúc muốn thể hiện,...Ví dụ: 
Trong “Bài 11: Bánh ngon truyền thống”, học sinh chia sơ đồ thành các nhánh 
như: “Các món nổi bật”, “Nguyên liệu”, “Cách chế biến”, “Ý nghĩa văn hóa”, 
sau đó dùng hình vẽ minh họa cho từng ý. 
 + Tổ chức hoạt động nhóm – thảo luận: Mỗi nhóm học sinh được giao 
một chủ đề (ví dụ: “Tranh dân gian”, “Mĩ thuật hiện đại”, “Họa sĩ nổi tiếng”) 
và cùng nhau tạo sơ đồ tư duy. Các nhóm trình bày kết quả trên giấy A1 hoặc 12 
bảng phụ, qua đó học sinh vừa ghi nhớ kiến thức, vừa rèn luyện khả năng giao 
tiếp, hợp tác và trình bày. 
 Hình ảnh Sản phẩm Sơ đồ tư duy 
 3.5. Biện pháp 5: Khuyến khích học sinh chia sẻ và phản biện trong 
các hoạt động nhóm 
 Giúp học sinh phát triển kỹ năng giao tiếp, hợp tác, trình bày ý tưởng 
và tư duy phản biện – những năng lực quan trọng trong học tập sáng tạo, đặc 
biệt trong môn Mĩ thuật. Qua hoạt động nhóm, học sinh có cơ hội trình bày 
sản phẩm, nhận xét – phản hồi, từ đó hoàn thiện kỹ năng và sản phẩm cá nhân 
một cách tích cực, hiệu quả. Rèn luyện cho học sinh khả năng trình bày, phản 
biện, lắng nghe và tôn trọng ý kiến người khác. Tạo môi trường học tập tích 
cực, dân chủ, giúp học sinh học hỏi lẫn nhau. Phát huy năng lực thẩm mỹ, tư 
duy sáng tạo thông qua việc tự đánh giá và đánh giá chéo. Giúp giáo viên dễ 
dàng nắm bắt được tư duy của từng học sinh qua quá trình trao đổi. 
 Hoạt động nhóm là hình thức tổ chức học tập giúp học sinh cùng làm 
việc, học hỏi lẫn nhau. Việc tích cực khuyến khích chia sẻ và phản biện trong 13 
nhóm sẽ giúp phát huy tinh thần học tập dân chủ, phát triển tư duy sáng tạo và 
nâng cao sự tự tin của học sinh. 
 + Phân nhóm linh hoạt, giao nhiệm vụ cụ thể phù hợp với năng lực và 
sở trường các thành viên.: Nhóm 4–6 em, mỗi nhóm thực hiện một đề tài hoặc 
một phần nhiệm vụ trong bài học Mĩ thuật (ví dụ: phác bố cục, lựa chọn màu 
sắc, hoàn thiện chi tiết...). 
 + Hướng dẫn học sinh chia sẻ ý tưởng: Mỗi học sinh trong nhóm cần 
trình bày ý tưởng cá nhân về cách thực hiện nhiệm vụ được giao. Giáo viên có 
thể gợi mở câu hỏi như: “Em muốn vẽ gì?”, “Tại sao em chọn màu này?”, “Ý 
nghĩa tranh của em là gì?” để các em bày tỏ rõ hơn suy nghĩ của mình. 
 + Phản biện tích cực: Sau khi chia sẻ, các thành viên trong nhóm được 
khuyến khích nêu nhận xét, phản hồi về ý tưởng, sản phẩm của bạn. Giáo viên 
hướng dẫn học sinh phản biện mang tính xây dựng: góp ý nhẹ nhàng, cụ thể, 
đưa ra giải pháp thay thế. 
 + Trình bày trước lớp: Đại diện nhóm trình bày sản phẩm, quá trình thực 
hiện và ý tưởng sáng tạo. Các nhóm khác đặt câu hỏi, góp ý thêm. Giáo viên 
đóng vai trò định hướng, khuyến khích sự trao đổi cởi mở, công bằng. 
 Hình ảnh học sinh thảo luận ý tưởng 14 
 III. KẾT QUẢ VÀ ỨNG DỤNG 
 - Kết quả sau khi áp dụng. 
 Thiếu tích cực Tích cực nhưng ít Tích cực và có tư 
 Khối Sĩ 
TT trong giờ học sáng tạo duy sáng tạo 
 lớp số 
 SL % SL % SL % 
 Khối 
1 87 8 9,2 20 23 59 67,8 
 4 
 Việc áp dụng các biện pháp dạy học tích cực, sáng tạo đã mang lại 
những kết quả rõ rệt trong việc phát triển năng lực sáng tạo và tư duy nghệ 
thuật của học sinh lớp 4. Học sinh tham gia vào các hoạt động nhóm, trò chơi 
sáng tạo và các bài tập thực hành đều thể hiện sự hứng thú và tích cực tham 
gia vào môn học. Những sản phẩm nghệ thuật của học sinh cũng ngày càng đa 
dạng, phong phú và thể hiện rõ dấu ấn cá nhân. 
 - Ứng dụng. 
 Phạm vi ứng dụng: Học sinh Tiểu học khối 4. 
 Với những biện pháp đưa ra có thể ứng dụng vào phạm vi học sinh tiểu 
học. Những biện pháp dễ dàng áp dụng, phù hợp với yêu cầu cần đạt mà mục 
tiêu giáo dục môn mĩ thuật hiện nay hướng đến, phù hợp với khả năng nhận 
thức, phát huy được tính tích cực, khả năng sáng tạo của học sinh. 
 IV. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 
 1. Kết luận. 
 Qua quá trình tìm hiểu thực trạng giảng dạy môn Mĩ thuật lớp 4, triển 
khai và áp dụng các biện pháp đổi mới phương pháp dạy học, tôi nhận thấy rõ 
ràng rằng những cách tiếp cận sáng tạo, tích cực đã mang lại hiệu quả thiết 
thực trong việc khơi gợi và phát huy năng lực thẩm mỹ, tư duy hình ảnh và 
khả năng thể hiện cá nhân của học sinh. 
 Ý nghĩa của các biện pháp: 
 Giúp học sinh chuyển từ thế bị động sang chủ động trong quá trình tiếp 
thu kiến thức và thể hiện sáng tạo của mình. Tạo ra môi trường học tập gần 
gũi, sinh động, từ đó nâng cao hứng thú học tập của học sinh. 15 
 Góp phần hình thành và phát triển năng lực thẩm mỹ, tư duy sáng tạo, 
năng lực giao tiếp và hợp tác – những phẩm chất và năng lực cốt lõi của học 
sinh tiểu học trong chương trình giáo dục phổ thông mới. 
 Tăng cường mối quan hệ tích cực giữa giáo viên và học sinh, giữa học 
sinh với nhau, tạo điều kiện cho các em được phát triển toàn diện về cảm xúc 
và năng lực cá nhân. 
 Khẳng định vai trò quan trọng của việc sử dụng trò chơi, đồ dùng dạy 
học sáng tạo, sơ đồ tư duy và phương pháp học tập theo nhóm trong giảng 
dạy Mĩ thuật nói riêng và các môn học phát triển tư duy nói chung. 
 Bài học kinh nghiệm: 
 Việc đổi mới phương pháp dạy học cần xuất phát từ thực tiễn lớp học 
và năng lực của học sinh, phù hợp với từng đối tượng, điều kiện dạy học cụ thể. 
 Giáo viên cần không ngừng tự học, sáng tạo và linh hoạt trong thiết kế 
hoạt động, mạnh dạn thay đổi cách tổ chức lớp học, khuyến khích học sinh 
thể hiện cá tính và ý tưởng riêng. 
 Cần tạo không gian học tập mở, nơi học sinh được quan sát, thảo luận, 
hợp tác, phản biện và khám phá nghệ thuật bằng chính trải nghiệm cá nhân. 
 Sự kiên trì, quan sát tỉ mỉ và tinh thần lắng nghe học sinh là yếu tố then 
chốt giúp giáo viên hiểu và hỗ trợ các em phát triển tốt nhất. 
 Đổi mới không chỉ là thay đổi hình thức, mà còn là thay đổi cách nghĩ, 
cách tiếp cận vấn đề – lấy người học làm trung tâm. 
 2. Kiến nghị. 
 Để các biện pháp đổi mới phương pháp dạy học môn Mĩ thuật lớp 4 
phát huy hiệu quả thiết thực, tôi xin đưa ra một số kiến nghị cụ thể như sau: 
 Đối với Ban giám hiệu nhà trường: 
 Tạo điều kiện về thời gian, không gian, và cơ sở vật chất phục vụ cho 
các hoạt động dạy học Mĩ thuật sáng tạo như: phòng học chuyên biệt, bảng 
trưng bày sản phẩm, góc nghệ thuật, kho học cụ,... 16 
 Khuyến khích giáo viên tích cực đổi mới phương pháp dạy học, đưa 
các sáng kiến hiệu quả vào thực tiễn thông qua các buổi sinh hoạt chuyên 
môn, thao giảng và hội thảo chuyên đề. 
 Tăng cường tổ chức các hoạt động ngoại khóa liên quan đến nghệ thuật 
như: triển lãm tranh học sinh, cuộc thi vẽ tranh theo chủ đề, ngày hội sáng 
tạo, để tạo môi trường thực hành, trải nghiệm cho học sinh. 
 Đối với giáo viên giảng dạy Mĩ thuật: 
 Không ngừng trau dồi chuyên môn, cập nhật phương pháp mới trong 
dạy học Mĩ thuật, đặc biệt là những kỹ thuật dạy học tích cực, tích hợp trò 
chơi, tư duy sáng tạo và làm việc nhóm. 
 Chủ động thiết kế các đồ dùng dạy học sáng tạo từ vật liệu tái chế hoặc 
sẵn có tại địa phương để phục vụ cho các tiết học trực quan, hấp dẫn. 
 Thường xuyên trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm với đồng nghiệp, góp phần 
xây dựng cộng đồng giáo viên Mĩ thuật cùng phát triển chuyên môn. 
 Lắng nghe, quan sát và đánh giá học sinh theo quá trình, khuyến 
khích sự khác biệt và ý tưởng cá nhân, tránh áp đặt hay đồng hóa các sản 
phẩm sáng tạo. 
 Đối với cấp quản lý giáo dục: 
 Có chính sách bồi dưỡng, tập huấn định kỳ cho giáo viên Mĩ thuật, đặc 
biệt về phương pháp giảng dạy phát triển năng lực học sinh. 
 Tích hợp nội dung giáo dục Mĩ thuật với các chương trình phát triển 
năng lực thẩm mỹ, giáo dục giá trị sống, để Mĩ thuật không chỉ là môn học 
nghệ thuật mà còn là công cụ nuôi dưỡng tâm hồn học sinh. 
 Hỗ trợ xây dựng thư viện học liệu điện tử hoặc nền tảng chia sẻ sáng 
kiến dành cho giáo viên Mĩ thuật để khai thác tài nguyên giảng dạy hiệu 
quả hơn. 
 Tôi xin trân trọng cảm ơn! 
 17 
 Tài liệu tham khảo 
1. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2018), Chương trình giáo dục phổ thông tổng 
 thể, NXB Giáo dục Việt Nam. 
2. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2018), Chương trình môn Mĩ thuật trong 
 chương trình giáo dục phổ thông 2018, NXB Giáo dục Việt Nam. 
3. Nguyễn Quốc Chí, Nguyễn Thị Mỹ Lộc (2008), Giáo dục học đại 
 cương, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội. 
4. Trần Bá Hoành (2005), Đổi mới phương pháp dạy học trong nhà 
 trường, NXB Giáo dục. 
5. Nguyễn Hữu Châu (2003), Phương pháp dạy học tích cực, NXB Đại 
 học Sư phạm. 
6. Lê Anh Tuấn (2016), Dạy học tích cực – Một số vấn đề lý luận và thực 
 tiễn, NXB Đại học Sư phạm Hà Nội. 
7. Vũ Dương Thúy Ngà (Chủ biên) (2020), Sách giáo khoa Mĩ thuật lớp 
 4, Bộ sách Cánh Diều, NXB Đại học Sư phạm. 
8. Tài liệu tập huấn giáo viên cốt cán môn Mĩ thuật – Chương trình giáo 
 dục phổ thông 2018, Bộ Giáo dục và Đào tạo. 
9. Một số trang web, diễn đàn giáo dục uy tín như: moet.gov.vn, violet.vn, 
 giaoduc.net.vn (truy cập từ tháng 1 đến tháng 4 năm 2025). 

File đính kèm:

  • pdfmot_so_bien_phap_giup_hoc_sinh_tich_cuc_sang_tao_trong_hoc_t.pdf
Bài giảng liên quan