Một số biện pháp rèn kỹ năng mở rộng vốn từ và sử dụng vốn từ Tiếng Việt cho học sinh lớp 2
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Một số biện pháp rèn kỹ năng mở rộng vốn từ và sử dụng vốn từ Tiếng Việt cho học sinh lớp 2, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút TẢI VỀ ở trên
1 MỤC LỤC Nội dung Trang I. PHẦN MỞ ĐẦU 1 1. Lí do chọn đề tài 1 2. Mục đích nghiên cứu 2 3. Nhiệm vụ nghiên cứu 2 4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 3 5. Phương pháp nghiên cứu 3 II. NỘI DUNG 3 1. Cơ sở lí luận 3 2. Cơ sở thực tiễn 3 3. Các biện pháp 6 III. KẾT QUẢ VÀ ỨNG DỤNG 16 IV. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 1. Kết luận 19 2. Một số đề xuất 19 3. Tài liệu tham khảo 19 2 I. PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài/tên biện pháp Trong những năm gần đây, việc đổi mới phương pháp dạy học trong trường Tiểu học được quan tâm và đẩy mạnh không ngừng. Ngay từ cấp Tiểu học mỗi học sinh đều có thể đạt được trình độ học vấn toàn diện, đồng thời phát triển được khả năng của mình về một môn học, nhằm hình thành những con người chủ động, sáng tạo đáp ứng được mục tiêu chung của cấp học và phù hợp với yêu cầu phát triển của đất nước. Trong các môn học ở tiểu học thì môn Tiếng Việt là môn có vị trí hết sức quan trọng. Nó cung cấp vốn ngôn ngữ, xây dựng nền tảng kiến thức ban đầu còn là công cụ giúp cho học sinh học tốt các môn khác. Đặc biệt môn Tiếng Việt là môn học đóng vai trò quan trọng đối với việc phát triển ngôn ngữ của học sinh nói chung và của học sinh lớp Hai nói riêng. Qua thực tế giảng dạy, tôi thấy dạy học sinh biết cách giao tiếp tốt, viết được đoạn văn ngắn thì phải rèn cho học sinh kỹ năng mở rộng vốn từ và kỹ năng sử dụng vốn từ. Hơn nữa học sinh lớp 2 vốn còn từ ít, kỹ năng nói và viết diễn đạt còn hạn chế. Học sinh chưa hiểu sâu về nghĩa các từ ngữ và bản chất của câu nên khi nói và viết một đoạn văn các em thường bộc lộ các yếu điểm về diễn đạt như : từ lặp lại nhiều, câu không rõ nghĩa, các câu trong đoạn văn còn lộn xộn, viết đoạn văn mang tính chất trả lời câu hỏi. Học sinh thường dập khuôn theo sự hướng dẫn của giáo viên. Vậy làm thế nào để rèn cho học sinh kỹ năng mở rộng vốn từ và sử dụng vốn từ Tiếng Việt? Vì vậy, bản thân tôi khi tiếp tục nhận nhiệm vụ dạy lớp 2, tôi luôn trăn trở và đặt ra câu hỏi là phải làm gì? Làm thế nào? để học sinh có vốn từ phong phú và sử dụng từ một cách hiệu quả. Để giải quyết trăn trở nêu trên, tôi chọn chủ đề nghiên cứu sáng kiến: “Một số biện pháp rèn kỹ năng mở rộng vốn từ và sử dụng vốn từ Tiếng Việt cho học sinh lớp 2”. 3 2. Mục đích nghiên cứu Năm học 2022 - 2023, tôi được phân công chủ nhiệm lớp 2C. Trong quá trình trực tiếp giảng dạy các em tôi cảm vốn từ của học sinh khá nghèo nàn, nhiều em nói chưa thành câu. Ngôn ngữ của các em rất hạn chế, vốn sống còn ít, vốn hiều biết về Tiếng Việt chưa nhiều, việc nói và viết thành câu, thành một đoạn văn gặp nhiều khó khăn. Nhiệm vụ học tập, nhu cầu khám phá những cái mới, nhu cầu giao tiếp buộc học sinh phải tăng cường vốn từ. Một trẻ em có vốn từ phong phú sẽ dễ dàng tiếp thu bài giảng, tiếp thu kiến thức mới, luôn hoạt ngôn, tự tin trong giao tiếp. Nhưng ngược lại, chỉ với một vốn từ nghèo nàn, các em sẽ tự ti, khó khăn trong giao tiếp. Dần dần sinh ra mặc cảm, ảnh hưởng đến chất lượng học tập. Vì thế, rèn kỹ năng mở rộng vốn từ và sử dụng vốn từ là một trong những nội dung cần thiết nhất ở lứa tuổi tiểu học. Mặc khác, việc dạy từ ngữ cho học sinh chính là quá trình giáo viên khơi dậy sự hiểu biết và cảm nhận của các em về người, vật và cuộc sống xung quanh. Điều đó đòi hỏi giáo viên có phương pháp mở rộng vốn từ giúp các em tìm được nhiều từ ngữ và biết sử dụng từ ngữ một cách thích hợp, sử dụng từ chính xác và hay khi nói và viết. Qua đề tài này tôi mong muốn được góp một phần nhỏ vào việc rèn luyện cho học sinh kỹ năng chính: - Mở rộng vốn từ ngữ cho học sinh. - Biết sử dụng từ ngữ trong đời sống hàng ngày. 3. Nhiệm vụ nghiên cứu - Tìm hiểu thực trạng về kỹ năng mở rộng vốn từ và sử dụng vốn từ Tiếng Việt của học sinh ở lớp 2 . - Đề xuất một số biện pháp rèn kỹ năng mở rộng vốn từ và sử dụng vốn từ Tiếng Việt cho học sinh lớp 2. 4 4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu - Đối tượng: Mở rộng vốn từ, sử dụng vốn từ Tiếng Việt cho học sinh lớp 2. - Phạm vi : Học sinh lớp 2C. 5. Phương pháp nghiên cứu Để việc nghiên cứu đạt kết quả tốt, tôi sử dụng các phương pháp sau: - Phương pháp kế thừa tài liệu. - Phương pháp điều tra khảo sát thực tế. - Dạy thực nghiệm. - Phương pháp tổng kết kinh nghiệm. II. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 1. Cơ sở lý luận Để thực hiện mục tiêu hàng đầu “Hình thành và phát triển ở học sinh 4 kỹ năng sử dụng Tiếng Việt” (nghe, nói, đọc, viết) để học tập và giao tiếp trong các môi trường hoạt động của lứa tuổi. Chương trình Tiếng Việt lớp 2 đã lấy nguyên tắc dạy giao tiếp, dạy thông qua giao tiếp làm định hướng cơ bản. Việc rèn kỹ năng mở rộng vốn từ và sử dụng vốn từ cho học sinh là quan trọng bởi nhiều lý do. Trước hết nó cho phép học sinh có nhiều cơ hội hơn để diễn đạt và khám phá ý tưởng của mình, mở rộng suy nghĩ, hiểu biết và rèn kĩ năng nói, kĩ năng giao tiếp và quan trọng hơn là giúp cho học sinh mở rộng vốn từ của mỗi em ngày càng trở nên phong phú hơn, biết cách sử dụng vốn từ một cách hiệu quả. Như vậy việc “ rèn kỹ năng mở rộng vốn từ và sử dụng vốn từ cho học sinh” chính là rèn cho học sinh 4 kỹ năng sử dụng Tiếng Việt. 2. Cơ sở thực tiễn 2.1. Thực trạng của việc rèn kỹ năng mở rộng vốn từ và sử dụng Tiếng Việt cho học sinh lớp 2. - Giáo viên đã vận dụng đầy đủ phương pháp dạy học để rèn kỹ năng mở 5 rộng vốn từ cho học sinh, tuy nhiên việc áp dụng phương pháp dạy học tích cực chưa thường xuyên, chưa thực sự nhuần nhuyễn. - Thiếu sự kết nối của giáo viên – phụ huynh. Một số phụ huynh có thái độ thờ ơ, xem nhẹ việc học của con em, phó mặc hoàn toàn cho nhà trường và giáo viên. 2.2. Một số thuận lợi, khó khăn trong việc rèn kỹ năng mở rộng vốn từ và sử dụng vốn từ Tiếng Việt cho học sinh lớp 2. a) Thuận lợi: - Trường có đội ngũ giáo viên vững về chuyên môn, giỏi về nghiệp vụ sư phạm, nhiệt tình công tác, yêu nghề, yêu trẻ. - Giáo viên tích cực học hỏi để tìm ra các phương pháp dạy học mới, lấy học sinh làm trung tâm. - Hầu hết các em đã biết đọc, viết, có ý thức học tập và đã bắt đầu hình thành khả năng hoạt động độc lập. Đặc biệt là lòng ham học hỏi, ý thức tìm hiểu về sự vật, hiện tượng và môi trường xung quanh . - Đa phần phụ huynh có sự quan tâm và đầu tư đúng mức cho con em. b) Khó khăn: - Nhìn chung đối với học sinh lớp 2 vốn từ của các em còn rất nghèo nàn; kỹ năng sử dụng, vận dụng vốn từ chưa linh hoạt, hợp lý; kỹ năng diễn đạt kém, dẫn đến gặp nhiều khó khăn, lúng túng trong giao tiếp và tư duy - Kỹ năng phát âm của các em còn nhiều hạn chế như: nói ngọng, nói lắp và nói tiếng địa phương dẫn đến e thẹn, ngại ngùng khi giao tiếp, phát biểu ý kiến... - Ở lớp 1 em đang chú trọng về việc phát âm mà chưa đi sâu vào mở rộng vốn từ. Lên lớp 2 với một nền tảng vốn từ ít ỏi như vậy, các em thực sự khó khăn để làm quen với với nhiều phân môn mới như Luyện từ và câu, Tập làm văn - Một số phụ huynh còn thờ ơ, xem nhẹ việc học hành của con em, họ 6 phó mặc hoàn toàn việc học tập của con cái vào ý thức tự giác của các em và sự dạy dỗ nhà trường. Do vậy việc “dạy - học” đôi khi thiếu đi một yếu tố quan trọng đó là sự quan tâm, kiểm tra, giám sát và đôn đốc của phụ huynh đối với các em. Qua thực hiện khảo sát đánh giá phân loại học sinh đầu năm học 2022 – 2023 nội dung Luyện từ và câu của môn Tiếng Việt của học sinh lớp 2C, kết quả như sau: Kết quả khảo sát tháng 9 năm 2022 của lớp 2C như sau: Tổng Thời Vốn từ phong phú, Vốn từ cơ bản, Vốn từ quá ít, số học điểm có kỹ năng tốt trong kỹ năng sử dụng kỹ năng sử dụng sinh khảo việc sử dụng vốn từ vốn từ còn hạn vốn từ còn lúng (em) sát chế túng, diễn đạt chưa thoát ý Tổng số Tỷ lệ Tổng số Tỷ lệ Tổng Tỷ lệ ( em ) ( %) ( em ) ( % ) số ( % ) ( em ) 34 Tháng 6 17,6 17 50,0 11 32,4 9/2022 Qua bảng số liệu cho thấy số lượng học sinh đạt Hoàn thành tốt không nhiều, đồng thời vẫn còn nhiều học sinh điểm Chưa hoàn thành Xuất phát từ thực trạng trên, tôi đã nghiên cứu và áp dụng: “Một số biện pháp rèn kỹ năng mở rộng vốn từ và sử dụng vốn từ Tiếng Việt cho học sinh lớp 2”. 7 3. Các biện pháp Để “ rèn kỹ năng mở rộng vốn từ và sử dụng vốn từ Tiếng Việt cho học sinh lớp 2” đạt hiệu quả cao, tôi đã áp dụng những biện pháp sau: 3.1.Phân loại đối tượng học sinh, có biện pháp giúp đỡ từng đối tượng học sinh phát triển năng lực học luyện từ và câu Để xác định được tình hình về khả năng nhận thức, kỹ năng mở rộng vốn từ và sử dụng vốn từ Tiếng Viết của học sinh thì ngay từ đầu năm tôi đã tìm hiểu phà phân loại về khả năng nhận thức, khả năng mở rộng vốn từ, khả năng giao tiếp của học sinh lớp 2C. Tôi nhận thấy khả năng tiếp thu, nhận thức chung của học sinh trong lớp không đồng đều, còn chênh lệch... Vì vậy, mà việc dạy - học cũng gặp rất nhiều khó khăn. Bởi vậy, tôi đã lập kế hoạch bám sát khả năng của từng em, từng nhóm để xác định nguyên nhân dẫn đến thực trạng năng lực của mỗi nhóm học sinh khác nhau từ đó có biện pháp giúp đỡ từng đối tượng học sinh phát triển năng lực học luyện từ và câu, cụ thể: + Đối với nhóm học sinh mức đạt được là mức “Hoàn thành tốt”: Nhìn chung những em nhóm này có tầm nhận thức, tiếp thu bài tốt. Ngoài ra các em là những học sinh mạnh dạn, sôi nổi tự tin, tích cực phát biểu xây dựng bài, hay đọc sách, đọc báo, hay tham gia các hoạt động tập thể... Ngoài kiến thức cơ bản tôi ra thêm nhiều bài tập nâng cao, đòi hỏi kỹ năng sử dụng vốn từ phức tạp hơn; khuyến khích học sinh đọc báo, đọc chuyện, kể chuyện, viết thơ... (theo khả năng, lứa tuổi của mình) nhằm phát huy kỹ năng giao tiếp và ngày càng mở rộng thêm vốn từ. + Đối với học sinh mức đạt được là mức “Hoàn thành”: Nhìn chung những học sinh nhóm này có khả năng nhận thức, tiếp thu bài vào loại khá, ý thức tự học tốt, song các em chưa thật mạnh dạn, ít hoặc còn ngại tham gia 8 vào các hoạt động tập thể, ít trao đổi với bạn bè, người lớn...Tôi đã tăng cường kiểm tra bài cũ, kiểm tra làm bài tập theo SGK, tăng cường gọi các em đọc bài, gọi phát biểu ý kiến v.v. Bên cạnh đó khuyến khích, động viên các em tích cực luyện nghe, nói, đọc, viết thông qua hình thức thuật lại chuyện kể đã nghe, viết lại chuyện đã đọc, phát biểu ý nghĩa, cảm tưởng về bài văn, thơ..v.v. + Đối với nhóm học sinh mức đạt được là mức “Chưa hoàn thành”: Các em không những hạn chế về vốn từ mà nhiều em còn biểu hiện không muốn học. Với nhóm này, tôi đã kiên trì, cung cấp dần những từ ngữ đầu tiên, sơ giản, để những học sinh có vốn từ ít có thể tiếp cận được với hoạt động học, vỡ dần những tri thức được cung cấp. Bởi vì, trong phạm vi dạy từ ngữ cho những học sinh còn ít vốn từ thì không chỉ đơn thuần là dạy nghĩa từ mà phải bao gồm dạy nghe, dạy nói, dạy viết, dạy nghĩa từ, dạy sử dụng từ ngữ, và tìm ra điểm yếu chung về sử dụng từ của nhóm học sinh này là gì (về đọc, viết, nói hay diễn đạt...?). Sau đó tiếp tục truy tìm ra nguyên nhân yếu điểm đó là do cái gì: do khả năng, do thói quen hay do điều kiện tiếp xúc, học hỏi ... Sau đó áp dụng phương pháp dạy học bồi dưỡng vốn từ cho học sinh như: có thể cùng một lúc dạy bốn kỹ năng nghe, nói, đọc, viết hay dạy từng mức, từng kỹ năng một hoặc kết hợp rèn hai kỹ năng cùng lúc với nhau. Ngoài ra đối với học sinh mức đạt được “Chưa hoàn thành”, hàng ngày tôi thường kèm học sinh luyện đọc riêng trong những giờ truy bài 15 phút, trong các giờ ra chơi hoặc có thể cho học sinh có kĩ năng đọc mức đạt được “Hoàn thành tốt” kèm những học sinh có kĩ năng đọc mức đạt được “Chưa hoàn thành”. Làm được thế chắc chắn kết quả đọc của những em có kĩ năng đọc mức đạt được “Chưa hoàn thành” sẽ được nâng lên rõ rệt. Điều đó sẽ làm cho các em thuận lợi hơn trong giao tiếp, trong thực hành đọc, viết và làm bài; kỹ năng mở rộng vốn từ, sử dụng vốn từ ngày càng hoàn thiện. 3.2. Mở rộng vốn từ và kĩ năng sử dụng vốn từ cho học sinh qua các tiết học của môn Tiếng Việt. 9 Thực hiện đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông. Từ năm học 2021 -2022 nhà trường đã lựa chon bộ sách Kết nối tri thức với cuộc sống để giảng dạy. Nhất quán với phương châm Kết nối tri thức với cuộc sống, nội dung các bài học tạo cơ hội phát huy vốn hiểu biết và trải nghiệm của học sinh trong việc tiếp nhận bài học mới. Các nội dung học tập có sự gắn kết chặt chẽ với nhau trong từng bài học và giữa các bài học trong từng chủ điểm. Thay vì áp dụng quan điểm và phương pháp dạy học trước là chỉ tập trung, chú trọng mở rộng vốn từ cho học sinh chủ yếu trong phân môn Luyện từ và câu...thì giờ đây giáo viên phải biết chú trọng đồng đều, phát huy tối đa mục tiêu của các phân môn trong môn Tiếng Việt. Đối với việc vận dụng trong thực tế dạy học môn Tiếng Việt lớp 2, chúng ta cần biết rằng ở mỗi phân môn đều có một vai trò, nhiệm vụ cực kỳ quan trọng trong việc mở rộng vốn từ, rèn luyện kỹ năng dùng từ đặt câu, rèn luyện kỹ năng sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp, tư duy. Khi dạy Tập đọc: Trong bất kì một văn bản đọc nào, học sinh cũng được cung cấp một số lượng từ trong đó có một số từ được sách giáo khoa chú giải. Ngoài ra khi hướng dẫn học sinh tìm hiểu bài, tôi hướng dẫn học sinh lựa chọn những từ, những câu liên quan đến chủ điểm để áp dụng khi dùng từ, đặt câu liên quan đến chủ điểm. Đồng thời qua các bài đọc, các em sẽ thấy được vẻ đẹp của ngôn từ, học tập được cách dùng từ trong các văn bản khác nhau. Ví dụ: Khi dạy bài Tập đọc Sự Tích hoa tỉ muội thuộc chủ điểm Mái ấm gia đình, để mở rộng vốn từ cho học sinh, tôi thực hiện các bước sau: - Khởi động trước khi đọc: Nói về những việc anh chị thường làm cho em. Học sinh được chia sẻ hiểu biết, trải nghiệm của các em qua đó phát huy được vốn từ sẵn có của các em. - Đọc văn bản: Trong qua trình đọc tôi hướng dẫn cho học sinh cách tìm, phát hiện từ khó, tiếng khó, câu khó. Từ đó hướng dẫn học sinh hiểu những từ - 10 tiếng - câu khó đó trong văn bản, trong ngữ cảnh...Sau khi đã hiểu thì tiến tới việc rèn kỹ năng đọc, nói, tìm hiểu nội dung bài đọc sẽ dễ dàng hơn, hiệu quả hơn... - Hoạt động sau khi đọc: Sau khi đọc VB, ngoài hoạt động chính là trả lời câu hỏi, HS còn có thể luyện từ, luyện câu và thực hành một số nghi thức lời nói được quy định trong chương trình. Qua đó giúp học sinh mở rộng vốn từ và rèn kỹ năng dùng từ đặt câu. Khi dạy Tập viết: Ngoài việc hướng dẫn học sinh kỹ thuật viết chữ tôi thường hướng dẫn học sinh mở rộng vốn từ. Nội dung mở rộng vốn từ trong phân môn Tập viết được hiểu là các ngữ liệu (từ, cụm từ), vừa phục vụ tập viết vừa có tác dụng cung cấp từ ngữ cho học sinh, giúp học sinh mở rộng, phát triển vốn từ. Vì thế, khi dạy học sinh tập viết từ, cụm từ ứng dụng giáo viên cần hướng dẫn học sinh là: giải nghĩa từ, cụm từ ứng dụng đó. Khi dạy Kể chuyện: Với mục đích dạy từ, tôi đã chú trọng tạo điều kiện để học sinh được luyện tập, sử dụng từ nhằm phát triển kỹ năng nghe, nói. Cho học sinh luyện tập nhiều về từ ngữ - các từ trong tranh trạng thái hoạt động, vận động để giúp học sinh có thể nối bằng một từ, một câu về nội dung tranh đó. Từ đó học sinh có thể kể thành một nội dung trọn vẹn. Khi dạy Chính tả: Sách giáo khoa Tiếng Việt 2 chủ yếu giới hạn ở việc giúp các em nắm nghĩa của từ và mở rộng vốn từ ở cả các ngữ liệu và bài tập chính tả. Học sinh làm được bài tập chính tả tức là các em đã củng cố, khắc sâu nghĩa của từ, cách sử dụng từ. Từ đó các em biết vận dụng vào giao tiếp hằng ngày. Khi dạy Luyện từ và câu: Rèn kỹ năng mở rộng vốn từ và sử dụng vốn từ là một trong những mục tiêu quan trọng của phân môn Luyện từ và câu. Ngoài những từ học sinh đã được làm quen từ các bài tập đọc, chính tả, một số từ có trong các bài tập viết, đặc trưng của phân môn Luyện từ và câu là cung cấp cho các em vốn từ ngữ phong phú để vận dụng vào đặt câu và tạo 11 lập văn bản, cung cấp cho các em những kiến thức sơ giản ban đầu về thế giới vật chất xung quanh và một số kiến thức trong thực tiễn cuộc sống hàng ngày theo từng chủ điểm. Ở phân môn Luyện từ và câu lớp 2 kiến thức được truyền thụ cho học sinh đều thông qua hệ thống bài tập. - Dạng bài tập về từ - Dạng bài tập về câu và sử dụng dấu câu Ví dụ: LUYỆN TẬP: Từ ngữ chỉ sự vật, hoạt động; Câu giới thiệu * Hoạt động 1: Tìm từ ngữ chỉ sự vật, hoạt động. - Hs quan sát tranh - HS nêu các từ chỉ sự vật, hoạt động: + Tên đồ vật: quần áo, khăn mặt, cặp sách, mũ. + Các hoạt động: đi học, viết bảng, chải tóc. Ở hoạt động này giáo viên mở rộng cho học sinh tìm thêm những từ chỉ sự vật và hoạt động ở sung quanh. * Hoạt động 2: Viết câu giới thiệu. - Giáo viên hướng dẫn làm bài - HS ghép các từ ngữ tạo thành câu giới thiệu. - HS đặt câu theo mẫu ở bài 2. Chú ý rèn học sinh cách viết câu. Qua bài học giúp học sinh phát triển vốn từ chỉ hoạt động, chỉ sự vật. Rèn kĩ năng đặt câu giới thiệu. Thông qua tiết Luyện từ và câu kết hợp cả mở rộng vốn từ, cách sử dụng từ qua đó học sinh đồng thời phát triển được 2 kỹ năng mở rộng vốn từ và sử dụng từ. Khi dạy Tập làm văn: Tiếng Việt 2 theo chương trình mới đưa phần viết đoạn vào mục Luyện tập cùng với luyện từ và câu, nhằm giúp HS vận dụng ngay kiến thức, kĩ năng về từ và câu mà các em vừa có được vào thực 12 hành viết đoạn. Với mục đích dạy từ thì dạy Tập làm văn chính là dạy sử dụng từ nhằm củng cố các kỹ năng nói - viết - nghe - đọc phục vụ cho việc học tập, giao tiếp của học sinh. Nội dung luyện tập, sử dụng từ ở phân môn Tập làm văn nhằm đạt được các mục đích: học sinh hiểu từ để lĩnh hội văn bản và biết cách dùng từ chính xác; mở rộng được vốn từ. Trong việc dạy - học, giáo viên phải nắm rõ và thực hiện được mục tiêu kiến thức trong từng phân môn Tiếng Việt, từ đó giáo viên phải biết lựa chọn, kết hợp các hình thức tổ chức dạy học phù hợp. Có liên quan, xâu chuỗi các phương pháp học tập, lĩnh hội tri thức, mở rộng vốn từ một cách có hiệu quả nhất. 3.3. Lựa chọn các phương pháp dạy học tích cực phù hợp với mỗi tiết học. Việc lựa chọn các hình thức hoạt động của học sinh trong một tiết học có tác dụng rất lớn để phát huy tính tích cực chủ động của học sinh, tạo không khí sôi nổi trong giờ học giúp các em hứng thú với tiết học và các em nắm kiến thức một cách hiệu quả. Thông thường khi rèn kỹ năng mở rộng vốn từ và sử dụng vốn từ Tiếng Việt cho học sinh tôi thường vận dung các phương pháp sau: * Phương pháp thảo luận nhóm Phương pháp thảo luận nhóm nhằm hình thành năng lực giao tiếp, kỹ năng hợp tác, khả năng suy nghĩ độc lập. Với phương pháp này, học sinh được học từ bạn và tất cả các em đều được tham gia hoạt động giao tiếp. Tôi đã vận dụng những ưu điểm của phương pháp dạy học này như một biện pháp làm giàu vốn từ nhằm mục đích nâng cao hiệu quả mở rộng vốn từ và tạo môi trường giao tiếp cho học sinh luyện tập sử dụng từ. Ví dụ 1: Ở bài tập 1, Mở rộng vốn từ về thiên nhiên; Câu nêu đặc điểm, Tuần 22, TV2 – Tập 2 – Trang 36, ta có thể hướng dẫn học sinh thảo luận nhóm theo phiếu học tập sau: PHIẾU HỌC TẬP 13 Thảo luận nhóm 2, trong thời gian 5 phút 1. Xếp các từ dưới đây vào nhóm thích hợp: bầu trời xanh nương lúa trong xanh lũy tre ngôi sao vàng óng lấp lánh dòng sông Nhóm 1: Từ chỉ sự vật: . Nhóm 2: Từ chỉ đặc điểm: - Học sinh thảo luận nhóm Trong bước này, học sinh thực hiện các yêu cầu của phiếu bài tập, giáo viên quan sát hướng dẫn và giúp đỡ các nhóm khi cần thiết, đảm bảo mọi nhóm đều thảo luận sôi nổi, hiệu quả. - Các nhóm báo cáo kết quả. Trong thời gian các nhóm báo cáo kết quả, giáo viên tạo điều kiện cho các nhóm khác nhận xét, bổ xung để đi đến kết quả thảo luận cuối cùng của lớp. - Giáo viên tổng kết, chốt lại kiến thức cần nhớ sau khi thảo luận nhóm và tuyên dương những nhóm, cá nhân tiêu biểu, nhắc nhở những nhóm, những cá nhân chưa tích cực để lần sau các em cố gắng hoạt động hiệu quả hơn. 14 Học sinh tích cực thảo luận nhóm * Phương pháp trò chơi học tập Nếu giáo viên chỉ sử dụng một phương pháp cho cả tiết học thì hiệu quả giờ học không cao, học sinh thụ động, lười suy nghĩ. Sử dụng trò chơi học tập là phương pháp dạy học tích cực. Từ đó làm thay đổi không khí trong lớp học, tạo ra sự thi đua sôi nổi, hào hứng của các đội chơi và sự cổ vũ nhiệt tình của các bạn trong lớp. Nhờ có trò chơi học tập, học sinh hứng thú hơn với việc học từ ngữ trong các bài tập mở rộng vốn từ, làm giảm bớt đi sự khô khan của bài học, học sinh tiếp thu từ và nghĩa của từ nhanh, phân loại, quản lý vốn từ đúng, sử dụng từ chính xác, linh hoạt. Sau đây là một số trò chơi có thể áp dụng để tổ chức cho học giải các bài tập trong tiết Luyện từ và câu mang lại hiệu quả đồng thời gây hứng thú trong giờ học là: Trò chơi “Tìm nhanh từ chỉ sự vật”; “ Đố bạn” “Ai tài đối đáp”, “ điền từ” ,... 15 Học sinh tích cực tham gia trò chơi 3.4. Vận dụng hợp lý và linh hoạt các hình thức thi đua, khen thưởng nhằm khuyến khích học sinh mạnh dạn, chủ động, sáng tạo trong học tập. Thi đua gắn với khen thưởng là một động lực không thể thiếu được trong quá trình học của học sinh. Mặt khác, hình thức thi đua, khen thưởng rất phù hợp với đặc điểm tâm lý của học sinh tiểu học. Các em cố gắng phấn đấu vì động cơ rất đơn giản: Cố gắng để được tích sao, được cô giáo khen, được bạn bè mến phục, cố gắng để làm vui lòng ông bà, bố mẹ Trong giờ học nếu được khen đúng lúc, học sinh sẽ cảm thấy tự tin và phấn đấu hơn. Trong quá trình dạy mở rộng vốn từ và sử dụng vốn từ tôi đã vận dụng phương pháp thi đua, khen thưởng như sau: + Trước khi vào bài học hay trước khi tổ chức một trò chơi học tập, tôi nêu tiêu chí thi đua rõ ràng, cụ thể để tạo tâm thế thi đua cho học sinh. Ví dụ: 16 Thi đua xem bạn nào tìm được nhiều từ mới sẽ được tích thêm sao vào sổ thi đua. Thi đua xem nhóm nào thảo luận sôi nổi, hoàn thành bài tập đúng và nhanh sẽ được cộng thêm sao cho cả nhóm. Thi đua giữa các tổ về mọi mặt: nề nếp, ý thức, hiệu quả thảo luận - Hình thức khen thưởng đưa ra phải mang tính cụ thể, chủ yếu về mặt tinh thần để khuyến khích học sinh: tích sao, 1 tràng vỗ tay, - Trong mỗi tiết dạy, giáo viên cần kịp thời khen những cá nhân tiêu biểu xuất sắc và những cá nhân có tiến bộ vượt bậc theo từng nhóm đối tượng học sinh trong tiết học. Từ đó học sịnh cả lớp có thể noi gương để phấn đấu, phấn đấu để được cô giáo khen và phấn đấu để không kém bạn bè. Sự kiểm tra hướng dẫn thường xuyên, đánh giá một cách kịp thời, công bằng khách quan của giáo viên để học sinh thấy được vai trò, kết quả và sự cố gắng của mình trong việc học tập. Từ đó các em sẽ cố gắng hơn, tích cực hơn, sáng tạo hơn nữa trong học tập. Tuy nhiên, trong quá trình sử dụng, giáo viên không lạm dụng quá nhiều gây nhàm chán đối với học sinh. Học sinh được khen thưởng trong tháng 3 17 3.5. Xây dựng môi trường giao tiếp Tiếng Việt ở trường và gia đình, cộng đồng. Trong các hoạt động tập thể ở trường giáo viên có thể tham gia cùng học sinh, tổ chức, hướng dẫn các em chơi các trò chơi sân trường và yêu cầu các em nói với nhau bằng tiếng Việt. Trong môi trường giao tiếp tự nhiên, không bị áp lực bởi nội dung bài học, các em sử dụng tiếng Việt sẽ dễ dàng hơn. Ngoài ra, khuyến khích các em tham gia các sân chơi sử dụng tiếng Việt trong giao tiếp như Câu lạc bộ “Tiếng Việt của chúng em”, “Đố vui tiếng Việt” “Thế giới quanh em”; "Trạng nguyên tiếng Việt",... nhằm giúp học sinh tự tin hơn trong giao tiếp. - Kết hợp các bậc cha mẹ để có biện pháp giáo dục phù hợp, tạo nên mối quan hệ thân thiết, cởi mở, thân thiện giữa phụ huynh và giáo viên để mở rộng vốn từ cho học sinh. Ví dụ như chủ đề: Gia đình. Trẻ biết được các thành viên trong gia đình, mối quan hệ, tình cảm và trách nhiệm của các thành viên trong gia đình với nhau. Trẻ tôn trọng lễ phép với ông bà, bố mẹ, yêu quý em nhỏ biết công việc hàng ngày của bố mẹ. - Ngoài ra phối kết hợp với các phụ huynh của lớp, kết hợp với nhà trường trong việc tổ chức ngày lễ, ngày hội và các sự kiện đặc biệt ở trường tiểu học: tết trung thu, tết thiếu nhi 1/6, ngày hội đọc sách để các em có cơ hội giao tiếp tốt hơn. Nếu nhà trường, gia đình và xã hội có liên kết tốt, có ý thức trách nhiệm cao đối với học sinh, đối với con em mình thì kết quả học môn Tiếng Việt nói riêng, kết quả học tập nói chung sẽ được nâng cao. Nhờ vậy các em sẽ có điều kiện học tập tốt hơn, vấn đề mở rộng vốn từ được phát triển, giao tiếp và tư duy sẽ tốt hơn. III. KẾT QUẢ VÀ ỨNG DỤNG 1. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm 18 Qua quá trình nghiên cứu và áp dụng một số biện pháp rèn kỹ năng mở rộng vốn từ và sử dụng vốn từ Tiếng Việt cho học sinh lớp 2 vào thực tế giảng dạy. Tôi đã thu được kết quả khả quan: a. Về phía học sinh - Vốn từ của học sinh phong phú, các em đã nắm tốt nghĩa của từ và sử dụng một cách chính xác. - Học sinh tích cực, chủ động hơn trong giờ học, mạnh dạn bộc lộ khả năng của mình trước lớp qua các bài tập, trò chơi, câu đố. - Trong giao tiếp, học sinh nhạy bén, tự tin, dùng từ chuẩn xác, diễn đạt lưu loát, biết sử dụng từ đặt câu phù hợp. Đặc biệt khi học môn Tập làm văn, các em đã viết được một số đoạn văn có hình ảnh và biết thể hiện được cảm xúc của bản thân. Hình ảnh học sinh tự tin khi giao tiếp 19 Đoạn văn thể hiện tình cảm của em với người thân b. Về ch t lượng - Chất lượng giờ học được nâng lên với tỉ lệ học sinh hiểu bài, phát biểu bài nhiều hơn, chính xác hơn. Phong trào học tập của lớp được đẩy mạnh. - Chất lượng nội dung Luyện từ và câu của môn Tiếng Việt của học sinh lớp 2C trong năm học 2022- 2023 mà tôi đã khảo sát theo từng giai đoạn đã có tiến triển rõ rệt. Kết quả khảo sát cuối tháng 3 năn 2023 của lớp 2C như sau: Tổng Thời Vốn từ phong phú, Vốn từ cơ bản, Vốn từ quá ít,kỹ số học điểm có kỹ năng tốt trong kỹ năng sử dụng năng sử dụng sinh khảo việc sử dụng vốn từ vốn từ còn hạn vốn từ còn lúng (em) sát chế túng, diễn đạt chưa thoát ý Tổng số Tỷ lệ Tổng số Tỷ lệ Tổng Tỷ lệ ( em ) ( %) ( em ) ( % ) số ( % ) ( em ) 20 34 Tháng 6 17,6 17 50,0 11 32,4 9/2022 34 Tháng 14 41,2 20 58,8 0 0 3/2023 Như vậy, sau khi áp dụng các biện pháp nói trên để rèn kỹ năng mở rộng vốn từ học và sử dụng vốn từ Tiếng việt cho học sinh lớp 2, kết quả học tập nói chung, kết quả học môn Tiếng Việt nói riêng của học sinh lớp tôi đã tăng cao rõ rệt so với kết quả khảo sát đầu năm. Theo tôi, nếu áp dụng các biện pháp nói trên một cách nhuần nhuyễn vào việc dạy học Tiếng Việt thì sau khi học xong lớp 2 học sinh sẽ có vốn từ khá phong phú, việc sử dụng từ cũng chuẩn xác và hiệu quả hơn. Kỹ năng giao tiếp sẽ tốt hơn tạo tiền đề để các em học tốt các phân môn trong Tiếng Việt cũng như tạo tiền đề để các em học tốt các môn học khác bây giờ và cả ở các lớp trên. 2. Phạm vi áp dụng biện pháp Sáng kiến “ Một số biện pháp rèn kỹ năng mở rộng vốn từ và sử dụng vốn từ Tiếng Việt cho học sinh lớp 2” tôi đã áp dụng hiệu quả cho học sinh lớp 2C. Tôi mong muốn những kinh nghiệm trên có thể phổ biến rộng rãi tới các đồng nghiệp để áp dụng cho học sinh lớp 2 . IV. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 1. Kết luận Từ thực tế giảng dạy và một số năm dạy chương trình lớp hai sau khi vận dụng những kinh nghiệm năm trước và một số kinh nghiệm được bổ sung ở năm nay, tôi nhận thấy: Để học sinh có vốn từ đa dạng, phong phú; có kỹ năng giao tiếp, sử dụng tốt Tiếng Việt thì giáo viên là người có vai trò quan trọng nhất. Giáo viên phải là người thực sự yêu nghề, thực sự có tâm huyết,
File đính kèm:
mot_so_bien_phap_ren_ky_nang_mo_rong_von_tu_va_su_dung_von_t.pdf



