Một số biện pháp phát triển kĩ năng giao tiếp cho học sinh lớp 3

pdf25 trang | Chia sẻ: Chan Chan | Ngày: 10/02/2026 | Lượt xem: 5 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Một số biện pháp phát triển kĩ năng giao tiếp cho học sinh lớp 3, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút TẢI VỀ ở trên
 PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO YÊN THẾ 
 TRƯỜNG TIỂU HỌC TÂN SỎI 
MỘT SỐ BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG GIAO TIẾP CHO HỌC 
 SINH LỚP 3 
 Họ và tên giáo viên: Nguyễn Thị Thu Hiền 
 Đơn vị công tác: Trường Tiểu học Tân Sỏi - Huyện Yên Thế 
 XÁC NHẬN CỦA NHÀ TRƯỜNG NGƯỜI VIẾT 
 HIỆU TRƯỞNG 
 (Đã ký) 
 Lê Thu Hường Nguyễn Thị Thu Hiền 
 Yên Thế, năm 2024 2 
 MỤC LỤC 
 Trang 
I. PHẦN MỞ ĐẦU 
1. Lý do chọn tên biện pháp 2 
2. Mục đích nghiên cứu 2 
3. Nhiệm vụ nghiên cứu 3 
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 3 
5. Phương pháp nghiên cứu 3 
II. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 
1. Cơ sở lí luận 3 
2. Cơ sở thực tiễn 
2.1. Thực trạng kỹ năng giao tiếp của học sinh lớp 3. 4 
2.2. Nguyên nhân của thực trạng 7 
3. Một số biện pháp phát triển kỹ năng giao tiếp cho học 
sinh lớp 3. 
3.1. Tuyên truyền nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của kỹ 7 
năng giao tiếp cho học sinh. 
3.2. Phát triển kỹ năng giao tiếp trong các tiết học, trong khi 9 
vui chơi. 
3.3. Thường xuyên áp dụng phương pháp dạy học cộng tác, rèn 12 
thói quen tổ chức học tập 3 bước trong các tiết học giúp học 
sinh rèn kỹ năng giao tiếp. 
3.4. Phát triển kỹ năng giao tiếp thông qua các hoạt động giáo 14 
dục tập thể, hoạt động ngoài giờ lên lớp. 
3.5. Phối kết hợp giữa nhà trường, gia đình trong việc rèn kỹ 18 
năng giao tiếp cho học sinh. 
III. KẾT QUẢ VÀ ỨNG DỤNG 
1. Kết quả 20 
2. Ứng dụng 22 
IV. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 
1. Kết luận 22 
2. Kiến nghị 23 
TÀI LIỆU THAM KHẢO 24 3 
 I. PHẦN MỞ ĐẦU 
 1. Lí do chọn biện pháp 
 Trong xu hướng toàn cầu hóa, quốc tế hóa, Đảng và Nhà nước ta đã có 
nhiều chủ trương chính sách về phát triển giáo dục - đào tạo, đặc biệt là giáo dục 
toàn diện. Mục tiêu của chương trình giáo dục phổ thông 2018 với cấp Tiểu học là 
hình thành và phát triền năng lực, phẩm chất học sinh, tạo nên những cơ sở ban 
đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và 
các kỹ năng cơ bản để học sinh tiếp tục học lên các lớp trên. Một trong những kỹ 
năng quan trọng trong mục tiêu đó chính là kỹ năng giao tiếp. 
 Trước đây khi áp dụng lối dạy học cũ thầy giảng - trò nghe thì kỹ năng giao 
tiếp của học sinh hạn chế rất nhiều. Nhiều học sinh khi làm một bài kiểm tra đạt 
kết quả tốt nhưng khi lên trình bày trước đám đông một vấn đề nào đó hoặc giao 
tiếp với mọi người xung quanh thì lại chưa thực sự tự tin. 
 Hiện nay, sau ba năm áp dụng chương trình phổ thông 2018, sau nhiều 
năm đổi mới phương pháp dạy học lấy học sinh làm trung tâm thì khả năng 
giao tiếp của học sinh tiểu học đã được cải thiện rất nhiều. Tuy nhiên, địa 
phương nơi tôi công tác là vùng nông thôn, do chịu ảnh hưởng về địa lý, kinh 
tế vùng miền, môi trường giao tiếp, nên kỹ năng giao tiếp của học sinh của 
trường tôi còn hạn chế. Học sinh của tôi là học sinh lớp 3, các em còn nhỏ, vốn 
từ, vốn hiểu biết xã hội có hạn nên ít nhiều ảnh hưởng tới kỹ năng giao tiếp. 
Xuất phát từ lý do trên, tôi chọn nghiên cứu biện pháp “Một số biện pháp phát 
triển kĩ năng giao tiếp cho học sinh lớp 3”. 
 2. Mục đích nghiên cứu 
 - Từ việc nghiên cứu thực trạng đề xuất áp dụng các biện pháp nhằm phát 
triển kĩ năng giao tiếp cho học sinh lớp mình chủ nhiệm. Các em sẽ mạnh dạn khi 
giao tiếp, tạo tiền đề để phát triển các năng lực, phẩm chất cần thiết. Đồng thời nâng 
cao hiệu quả chất lượng giáo dục cho học sinh 4 
 - Chia sẻ với đồng nghiệp những kinh nghiệm đã làm và đã thành công 
của bản thân. 
 - Nhận được những nhận xét, góp ý từ các bạn đồng nghiệp để phát huy 
những điểm mạnh và khắc phục những tồn tại, hạn chế ngày càng hoàn thiện 
hơn phương pháp chủ nhiệm cho mình. 
 3. Nhiệm vụ nghiên cứu 
 - Nghiên cứu, tìm hiểu những thực trạng trong phát triển kỹ năng giao tiếp 
của học sinh lớp 3. 
 - Đề xuất áp dụng các giải pháp giúp học sinh lớp 3 có kỹ năng giao tiếp 
tốt. 
 4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 
 - Đối tượng nghiên cứu: Một số biện pháp phát triển kĩ năng giao tiếp 
cho học sinh lớp 3. 
 - Phạm vi nghiên cứu: 
 + Phạm vi về quy mô: Các giải pháp dạy học tích cực, tạo cơ hội cho học 
sinh được phát triển giao tiếp nhiều hơn. 
 + Phạm vi về thời gian: Từ tháng 9 năm 2022 đến tháng 5 năm 2024 
 + Học sinh lớp 3B tại đơn vị trường tôi công tác. 
 5. Phương pháp nghiên cứu 
 - Phương pháp quan sát. 
 - Phương pháp thống kê. 
 - Phương pháp nghiên cứu tài liệu. 
 II. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 
 1. Cơ sở lí luận 
 Đất nước Việt Nam chúng ta luôn coi trọng văn hóa giao tiếp. Giao tiếp 
được coi là tiêu chuẩn, thước đo đánh giá đạo đức, nhân cách của con người. 5 
Trong thời đại ngày nay, giao tiếp góp phần quan trọng cho thành công của 
một con người. Đối với học sinh tiểu học, giao tiếp là quá trình học sinh tiếp 
xúc với gia đình, nhà trường và xã hội. Xã hội đang trên đà phát triển, nhiều 
phụ huynh bị cuốn vào vòng xoáy của kinh tế nên một phần nào sao nhãng đến 
việc rèn các kỹ năng giao tiếp cho con em mình. Phần lớn kỹ năng giao tiếp 
của các em được rèn rũa trong các nhà trường. Học sinh tiểu học đang trong 
giai đoạn hình thành và phát triển nhân cách, nên kỹ năng giao tiếp đóng vai 
trò quan trọng. Vì nhờ có kỹ năng giao tiếp các em chủ động và tự tin bày tỏ ý 
kiến, tích cực tham gia vào hoạt động giáo dục của nhà trường, gia đình và xã 
hội. Có kỹ năng giao tiếp các em sẽ khẳng định được bản thân, tạo dựng được 
những mối quan hệ tốt đẹp, đấy chính là hành trang đầu đời giúp các em tự tin 
bước vào cuộc sống. 
 2. Cơ sở thực tiễn 
 2.1. Thực trạng kỹ năng giao tiếp của học sinh lớp 3. 
 Qua một số năm giảng dạy và làm công tác chủ nhiệm lớp 3, tôi nhận 
thấy kỹ năng giao tiếp của học sinh vẫn còn một số hạn chế như: Một số em 
giao tiếp còn nhút nhát, rụt rè, trình bày cộc lốc, không đủ ý, đủ câu. Với thầy 
cô, người lớn thì lời nói chưa lễ phép, chưa tự tin. Khi giao tiếp với bạn bè, một 
số em có cách xưng hô không phù hợp. Khi tham gia vào các hoạt động, các 
em chưa mạnh dạn trình bày ý kiến của mình trước đám đông, bạn bè. Trong 
hoạt động học tập, học sinh chỉ được chia sẻ, đánh giá về đúng - sai, việc chia 
sẻ về kĩ năng giao tiếp cho mỗi cá nhân chưa được nhiều. Có thể thấy rằng có 
kỹ năng giao tiếp thì học sinh mới dễ dàng thực hiện tốt các kỹ năng khác. Tuy 
nhiên, việc giáo dục kỹ năng giao tiếp cho học sinh tiểu học vùng nông thôn 
nói chung chưa được quan tâm chú ý. Trong các giờ học, việc rèn kỹ năng giao 
tiếp cho học sinh chưa được giành nhiều thời gian. Do vậy trong quá trình học 
tập trên lớp, nhiều học sinh không biết cách trả lời hoặc trả lời không đúng 
trọng tâm vấn đề. Các em ngại nói, ngại tiếp xúc với người lạ. Thiếu tự tin khi 6 
giao tiếp với người lớn, thầy cô giáo và bạn bè xung quanh. Khi gặp các tình 
huống trong cuộc sống nhiều học sinh không có kỹ năng ứng xử, thông thường 
học sinh thu mình lại hoặc cư xử không đúng mực. Trong quá trình học tập trên 
lớp hay các hoạt động trải nghiệm được tổ chức thì kỹ năng hoạt động nhóm, 
kỹ năng phối hợp của học sinh chưa cao, nhiều em chưa biết lắng nghe ý kiến 
của bạn bè. 
 Ngay từ đầu năm học, sau khi nhận lớp 3B với tổng số học sinh là 36, tôi 
đã tiến hành điều tra, theo dõi hoạt động giao tiếp của các em thông qua các 
giờ dạy trên lớp của mình cũng như trao đổi, nắm bắt tình hình qua các thầy cô 
bộ môn và giáo viên phụ trách Đội. Sau quá trình theo dõi , thăm dò ý kiến học 
sinh, tiến hành khảo sát tôi thu được kết quả như sau: 
Thời TSHS Vận dụng tốt kỹ Biết vận dụng kỹ năng Chưa biết vận dụng 
gian năng giao tiếp giao tiếp, nhưng chưa kỹ năng giao tiếp 
 thường xuyên 
 SL TL SL TL SL TL 
Đầu 
năm 36 10 27,8 18 50 8 22,2 
học 
2023-
2024 
 Qua nghiên cứu thống kê, tôi thấy khả năng giao tiếp của học sinh theo 3 
nhóm: 
 + Nhóm 1: Học sinh giao tiếp khá tốt, có lời nói lưu loát, diễn đạt trôi 
chảy, biết thể hiện lời nói biểu cảm trong giao tiếp. (Vận dụng tốt kỹ năng giao 
tiếp) 
 Ở nhóm này, phần lớn các em học sinh tiếp thu bài học khá tốt, nắm 
vững các kiến thức, kỹ năng các môn học. Trong các phong trào của trường, 7 
lớp các em đều tự tin, chủ động và tích cực tham gia, cũng chính từ việc tham 
gia các hoạt động như vậy, đã giúp các em trở nên mạnh dạn, năng động hơn, 
tự tin thể hiện ý kiến của mình trước tập thể. 
 + Nhóm 2: Học sinh có lời nói tương đối lưu loát, trôi chảy nhưng thiếu 
tự tin trong giao tiếp. (Biết vận dụng kỹ năng giao tiếp, nhưng chưa thường xuyên) 
 Các em học sinh ở nhóm này có khả năng tiếp thu kiến thức khá tốt, khả 
năng diễn đạt của các em cũng khá rõ ràng, mạch lạc. Qua quan sát, tôi nhận 
thấy mặc dù các em thường rất thoải mái trò chuyện với bạn bè hay những 
người thân quen, nhưng các em lại rất ngại tiếp xúc với người lạ hoặc trước 
đám đông. Thông thường các em rất ít khi chủ động trong việc phát biểu ý kiến 
của bản thân. Đây là nhóm học sinh mà chúng ta cần khích lệ, quan tâm, động 
viên kịp thời để giúp các em giải tỏa tâm lý ngại ngùng, e dè, nhút nhát khi 
giao tiếp. 
 + Nhóm 3: Học sinh còn nhút nhát, ngại giao tiếp, diễn đạt lời nói chưa rõ ý. 
 Ở nhóm này, một biểu hiện rõ nét nhất là trong giờ học, các em rất ít 
tham gia phát biểu ý kiến. Và nếu phải phát biểu, các em thường nói rất nhỏ, 
nội dung lời nói thường lan man, không rõ ý và thường không nhìn thẳng vào 
mắt người đang nói chuyện với mình. Đây là nhóm học sinh cần nhiều sự quan 
tâm về việc tăng cường rèn kỹ năng giao tiếp cho các em. Bởi lẽ, các em vừa 
gặp khó khăn trong diễn đạt bằng ngôn ngữ vừa có tâm lý e ngại, sợ giao tiếp, 
nói chưa thành câu. 
 Qua kết quả thu được tôi nhận thấy trong lớp mình số lượng học sinh có 
khả năng vận dụng tốt kĩ năng giao tiếp rất ít, ngoài ra còn một số học sinh 
chưa biết vận dụng kỹ năng giao tiếp, có nghĩa là giao tiếp chưa đúng, chưa 
phù hợp với ngữ cảnh kể cả ngôn ngữ, ngữ điệu, sắc thái biểu cảm, cử chỉ, 
hành động, thái độ chưa lịch sự, có lúc thiếu văn hóa giao tiếp. Vì vậy, bản 
thân tôi rất trăn trở làm thế nào để giúp học sinh có thái độ đúng, giao tiếp tự 
tin trong các tình huống khác nhau. 8 
 2.2. Nguyên nhân của thực trạng 
 Tìm hiểu nguyên nhân tôi nhận thấy: 
 - Trong giờ học, khi đứng lên trả lời câu hỏi, có nhiều em còn nói trống 
không, không đúng câu hỏi của giáo viên. Khi trình bày ý kiến của mình thì 
không diễn tả được điều mình muốn nói. Một số em biết câu trả lời nhưng 
không dám nói vì không biết diễn đạt thế nào. Trong hoạt động nhóm chỉ ngồi 
nghe hoặc làm những gì mà các bạn giao. 
 - Khi giao tiếp chỗ đông người, ngoài xã hội thì chưa mạnh dạn tự tin, 
rụt rè hoặc nói cộc lốc, gây mất thiện cảm với người được giao tiếp. 
 - Học sinh chưa nhận thức đúng vai trò quan trọng của việc giao tiếp. 
Khi giao tiếp với bạn bè thì dùng từ không phù hợp như: mày - tao, giao tiếp 
với thầy cô và người lớn tuổi thường nói không thành câu, chưa thực sự chủ 
động khi giao tiếp. 
 - Một số phụ huynh bận làm kinh tế không hướng dẫn con trong giao 
tiếp hàng ngày. Đặc biệt trong thời đại công nghệ 4.0, hầu hết các gia đình có 
các thiết bị điện tử như tivi, điện thoại, máy tính , lúc rảnh rỗi các em thường 
chỉ chăm chú xem tivi, lướt điện thoại hoặc chơi máy tính dẫn đến các em ngại 
tiếp xúc, giao tiếp với mọi người xung quanh. 
 Xuất phát từ những điều này, tôi mạnh dạn áp dụng một số biện pháp 
nhằm phát triển cho học sinh các kĩ năng giao tiếp tốt. 
 3. Một số biện pháp phát triển kỹ năng giao tiếp cho học sinh lớp 3. 
 3.1. Tuyên truyền nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của kỹ 
năng giao tiếp cho học sinh. 
 Để việc phát triển kỹ năng giao tiếp cho các em đạt hiệu quả, công tác 
tuyên truyền là một yếu tố nhằm nâng cao sự hiểu biết về tầm quan trọng giao 
tiếp đối với cuộc sống con người. 9 
 Ngay tuần đầu tiên của năm học, khi tiếp xúc với học sinh, xây dựng nội 
quy lớp cho học sinh, tôi đã phân tích cho học sinh thấy khi có kỹ năng giao 
tiếp thì sẽ có thuận lợi là: Truyền tải đến người nghe một thông điệp đầy ý 
nghĩa và dễ hiểu nhất; Tạo nên không khí hấp dẫn, lối cuốn người nghe trong 
một câu chuyện hay tình huống, vấn đề nào đó; Giúp mở rộng mối quan hệ với 
bạn bè, thầy cô, người thân,.. dễ dàng; Tăng sự tự tin, dám thể hiện điểm mạnh 
của bản thân trước mặt người khác. Nếu kỹ năng giao tiếp hạn chế thì sẽ gặp 
các khó khăn: Dễ làm mọi người hiểu sai ý nghĩa, nội dung mà ta muốn truyền 
tải; Thiếu tự tin, không dám bày tỏ ý kiến trước mọi người. 
 Ngoài ra, tôi còn thường xuyên tuyên truyền đến các em học sinh về văn 
hóa ứng xử nơi công cộng bao gồm hành vi, thái độ, lời nói chuẩn mực với 
đạo đức của mỗi cá nhân khi giao tiếp chốn đông người như: biết cảm ơn khi 
nhận được một điều tốt đẹp từ người khác, biết xin lỗi khi gây ra sự phiền phức 
hay lỗi lầm, biết giữ gìn trật tự, vệ sinh chung, có thái độ hòa nhã, tôn trọng, 
lịch sự, cung kính những người xung quanh, khiêm nhường trước người 
khác qua việc cho học sinh xem những phim hoạt hình về Bingo và các bạn 
nói về các tình huống giao tiếp, rồi cho học sinh thảo luận để hiểu thêm được 
tầm quan trọng của kỹ năng giao tiếp. Qua đó, mỗi cá nhân các em đều thấy 
cần tự trang bị cho mình kỹ năng giao tiếp. 
 Qua các buổi tuyên truyền này, tôi thấy các em có ý thức hơn khi giao tiếp. 
 Ảnh: Sinh hoạt chủ đề: Nâng cao kỹ năng giao tiếp 10 
 3.2. Phát triển kỹ năng giao tiếp trong các tiết học, trong khi vui chơi 
 Việc rèn kỹ năng giao tiếp cho học sinh phải diễn ra thường xuyên ở tất 
cả các tiết học, trong khi vui chơi. 
 Trong các giờ học trên lớp, khi gọi học sinh trả lời, học sinh hay có thói 
quen trả lời ngay vào ý hỏi mà không trả lời thành câu. Ví dụ: Tôi hỏi: Em cần 
học tập bạn điều gì? Học sinh trả lời: Chăm học ạ. Đầu năm học, thói quen này 
có rất nhiều ở học sinh lớp tôi. Tôi uốn nắn chỉnh sửa từng câu trả lời cho các 
em, hướng dẫn các em nhắc lại một phần câu hỏi để trả lời thành câu: Em cần 
học tập bạn phẩm chất chăm học ạ. Những buổi học đầu tiên, tôi thường nhắc 
các em: Em hãy trả lời đầy đủ. Nhưng một vài tuần sau, khi còn học sinh nào 
quên lập tức có bạn nhắc nhở. Chỉ trong thời gian ngắn thói quen này đã được 
sửa. 
 Một biểu hiện nữa của những học sinh chưa có kỹ năng giao tiếp là các 
em thường ít giơ tay phát biểu hoặc chia sẻ bài cho bạn, nếu được gọi thì nói lí 
nhí. Đối với những em này, tôi thường hay gọi các em trả lời hoặc hay cho bạn 
mời những học sinh này chia sẻ bài. Trong quá trình học sinh chia sẻ, tôi thường 
động viên như: Hôm nay em phát biểu to hơn rồi đấy! Bạn đã tự tin hơn rất nhiều! 
Em nói to rồi nhưng cô thấy em nói to hơn thì bạn nào cũng nghe thấy. Khi học 
sinh có sự cố gắng, tôi thường cùng cả lớp biểu dương hoặc thưởng phiếu khen. 
Dần dần học sinh lớp tôi đã tích cực phát biểu hơn, cả lớp cũng quen với cách động 
viên của cô, thấy bạn trả lời rõ ràng, tự tin, các em biết khen bạn. 
 Hình ảnh học sinh những học sinh được nhận phiếu khen trong tiết Tiếng Việt. 11 
 Ngoài ra, tôi cũng tích hợp giáo dục phát triển kỹ năng giao tiếp của học 
sinh trong nội dung bài học. Chẳng hạn, trong bài Đạo đức: Em quan tâm hàng 
xóm láng giềng ở hoạt động Vận dụng, khi học sinh nêu những việc quan tâm 
đến hàng xóm láng giềng, tôi cho học sinh chia sẻ trước lớp lời nói thể hiện 
việc quan tâm đến hàng xóm láng giềng, cho học sinh hiểu khi có lời nói thể 
hiện kỹ năng giao tiếp tốt thì việc quan tâm của mình sẽ có hiệu quả. Hay trong 
bài Em hoàn thiện bản thân, khi liên hệ đến điểm yếu của bản thân, tôi cho 
những học sinh còn hạn chế kỹ năng giao tiếp biết tự nêu được điểm yếu của 
mình và nêu cách khắc phục . 
 Trong môn học Đạo đức thường xuyên có hoạt động đóng vai, xử lý tình 
huống, tôi hay nêu tình huống ngắn gọn, học sinh tự thảo luận để sắm vai.Cách 
làm này lúc mới thực hiện thấy rất khó khăn vì vốn ngôn ngữ, khả năng hiểu 
biết của các em còn hạn chế nên tôi chỉ yêu cầu học sinh đưa ra các tình huống 
ngắn có vài câu thoại. Khi học sinh đã quen, tôi gợi ý để các em đưa tình 
huống có nhiều cách giải quyết với nhiều câu thoại hơn. Mỗi tình huống yêu 
cầu tất cả các em đều tham gia. Lâu dần học sinh rất thích hoạt động xây dựng 
tình huống để đóng vai, tích cực chia sẻ với các bạn, nhận xét bạn. 
 Hình ảnh HS đang đóng vai, xử lý tình huống trong tiết học Đạo đức 12 
 Clip thể hiện HS giao tiếp tốt trong nhóm 
 Trong phân môn Tiếng Việt có tiết Kể chuyện, thường vào tiết học này 
chỉ có những học sinh có kỹ năng giao tiếp tốt mới tích cực trong hoạt động kể 
chuyện trước lớp.Để tất cả học sinh đều có thể kể chuyện trước lớp tôi cho học 
sinh tự chuẩn bị kể chuyện trong nhóm, kể nối tiếp cả câu chuyện, các nhóm 
đều lần lượt được kể.Vậy nên em nào cũng có khả năng kể.Em học tốt có thể 
kể cả câu chuyện, các em nhận thức hạn chế thì chỉ cần kể một đoạn. Đối với 
các bài Góc sáng tạo, tôi thường khuyến khích học sinh lên trình bày miệng 
đoạn văn của mình để các em tự tin hơn. Ví dụ: Ở bài Chuyện của em thì tôi tổ 
chức cho các em chọn hình thức trình bày những việc em đã làm để chăm sóc, 
bảo vệ đôi bàn tay, đôi mắt hoặc những chiếc răng của em bằng việc các em sẽ 
vẽ hình ảnh đôi bàn tay, đôi mắt hoặc những chiếc răng của mình, rồi viết bài 
chăm sóc bên cạnh. Sau đó các em sẽ lên trình bày bài viết của mình trên 
bảng.Các bạn sẽ cùng bình chọn bạn trình bày đầy đủ, tự tin nhất và các bạn đó 
sẽ nhận được phiếu khen. 
 Vào các giờ ra chơi đầu năm học, tôi thường ở lại lớp, quan sát học sinh 
vui chơi, thấy những học sinh khi chơi hay nói tục, xưng hô mày - tao với bạn, 
hay gây gổ với bạn, tôi thường gặp riêng nhắc nhở và phân tích cho các em 
hiểu. Khi xây dựng nội quy lớp, tôi đưa nội dung này vào.Tôi cũng nhắc cả lớp 13 
khi thấy bạn có thói quen như vậy cần nhắc nhở, khuyên nhủ bạn.Sang đến đầu 
học kì II thì hiện tượng trên không còn nữa. 
 3.3. Thường xuyên áp dụng phương pháp dạy học cộng tác, rèn thói 
quen tổ chức học tập 3 bước trong các tiết học giúp học sinh rèn kỹ năng 
giao tiếp. 
 Trong hầu hết tất cả các tiết học, tôi thường tổ chức cho học sinh học tập 
theo 3 bước: cá nhân - nhóm - lớp. Học sinh lớp 3 còn nhỏ nên đầu năm học 
khi tổ chức học tập 3 bước, các em hoạt động cá nhân rất chăm chỉ, nhưng khi 
chia sẻ bài trong nhóm thì các em chỉ biết kiểm tra bài cho bạn xem đúng 
không. Nếu sai thì đọc cho bạn làm hoặc bảo bạn nhìn bài mình để sửa. Khi 
chia sẻ bài trước lớp thì chỉ biết nhận xét bài đúng hay sai, viết xấu hay đẹp. 
Những tuần đầu năm, tôi giành thời gian rất nhiều hướng dẫn các em cách trao 
đổi bài trong nhóm: hỏi bạn cách làm nếu bạn làm đúng, chỉ ra cách làm nếu 
bạn làm sai. Khi học sinh chia sẻ trước lớp, tôi hướng dẫn các em nhận xét bài 
đúng, sai trước, bài đúng thì hỏi bạn cách làm, bài sai thì chỉ ra lỗi sai giúp 
bạn.Bạn có bài được chia sẻ phải biết phản biện trước nhận xét của bạn về bài 
làm của mình. Lúc đầu các em chia sẻ còn khuôn mẫu, sau các em có sự sáng 
tạo hơn. Thấy học sinh có sự chia sẻ sáng tạo tôi thường động viên kịp thời. 
 Đối với các bài học có hoạt động nhóm như thảo luận tình huống, đóng 
vai, kể chuyện, tôi thường phân nhóm có học sinh có các năng lực khác 
nhau. Hướng dẫn học sinh có kỹ năng giao tiếp tốt làm trưởng nhóm, hướng 
dẫn các em cách giao việc cho các bạn. Khi đại diện các nhóm chia sẻ, tôi quy 
định lần lượt từng bạn trình bày chứ không chỉ giành cơ hội cho bạn 
trưởng nhóm. 
 Nhờ chú trọng hình thức tổ chức dạy học theo nhóm, tổ chức cho học 
sinh học tập 3 bước nên kỹ năng giao tiếp của các em có sự tiến bộ rõ rệt. Bởi 
hai hình thức này là hình thức giảng dạy đặt học sinh vào môi trường học tập 
tích cực và việc rèn cho các em các kỹ năng hợp tác nhóm là hết sức cần thiết, 14 
tạo điều kiện để các em có nhiều cơ hội giao lưu, học hỏi, giúp đỡ lẫn nhau, 
qua đó rèn kỹ năng giao tiếp cho học sinh một cách có hiệu quả. Từ việc tổ 
chức cho học sinh hoạt động học tập như vậy mà học sinh lớp đã mạnh dạn, tự 
tin thể hiện bản thân mình trước đông người, biết cách tôn trọng ý kiến bạn bè, 
giúp đỡ, hỗ trợ nhau trong học tập. Ngoài ra, học sinh còn biết yêu thương, 
đoàn kết, cùng nhau tiến bộ. 
 15 
 Hình ảnh học sinh học tập 3 bước chủ động, tự tin khi giao tiếp. 
 3.4. Phát triển kỹ năng giao tiếp thông qua các hoạt động giáo dục 
tập thể, hoạt động ngoài giờ lên lớp. 
 Hoạt động tập thể góp phần hết sức quan trọng đối với kỹ năng giao tiếp của 
học sinh, thông qua hoạt động giao tiếp bộc lộ khả năng của từng học sinh. Vì vậy 
tôi tổ chức cho học sinh thường xuyên chơi các trò chơi dân gian, tham gia các hoạt 
động đền ơn đáp nghĩa nhân ngày Thành lập quân đội nhân dân Việt Nam, ghi nhớ 
công ơn của các thầy cô giáo, thăm gia đình có hoàn cảnh khó khăn trong 
lớp nhằm tạo cơ hội cho các em được giao tiếp nhiều, tiếp xúc nhiều, có lý tưởng 
sống tốt. 
 16 
Hình ảnh học sinh thăm gia đình có công và gia đình bạn có hoàn cảnh khó khăn 
 Hay trong giờ truy bài 15 phút đầu giờ, tôi luôn tạo cơ hội cho chia sẻ 
với nhau trong tổ, nhóm về mức độ hoàn thành nhiệm vụ học tập trước khi đến 
lớp. 
 Hình ảnh học sinh các tổ, nhóm chia sẻ, giúp đỡ bạn trong 15 phút đầu giờ 
 Đối với các tiết sinh hoạt lớp cuối mỗi tuần, tôi cho học sinh đánh giá lại quá 
trình học tập của lớp trong 1 tuần, nhận xét những mặt đã làm được, chưa làm 
được. Đặc biệt các hoạt động này ở trong lớp phải được quay vòng để tất cả các em 
được tham gia điều hành các hoạt động trong lớp. Với hoạt động này, học sinh 
được rèn kỹ năng thuyết phục, xử lý tình huống, lắng nghe. 17 
 Hình ảnh lớp trưởng lớp 3B đang điều hành các bạn sinh hoạt lớp 
 Trong hoạt động này học sinh là người thực hiện. Để rèn được kỹ 
năng giao tiếp, giáo viên phải cùng sinh hoạt với các em, giáo viên lắng 
nghe đồng thời hướng học sinh giao tiếp một cách lịch sự, không chỉ 
chích nhau trong tiết sinh hoạt mà chỉ khuyên các bạn cố gắng khắc phục 
những khuyết điểm, phát huy những ưu điểm đã thực hiện một cách tốt 
hơn trong tuần tiếp theo. Đồng thời biết lắng nghe ý kiến của nhau, giao 
tiếp cởi mở, thân thiện. Các em có thể tự tổ chức một buổi sinh hoạt lớp 
hoàn toàn do các em điều khiển, nhằm giúp luyện nói để các em mạnh 
dạn, nói năng gọn gàng trước tập thể.Trong các hoạt động này tôi kiên trì 
uốn nắn sửa sai cho các em (nếu có)để các em trình bày hay, ví dụ Thay 
mặt tổ 1, mình xin đánh giá các hoạt động trong tháng qua của tổ mình 
như sau . Hoặc là Trong tháng qua, tổ 1 đã làm tốt các việc sau đây: 
một là đã chăm sóc, cắt tỉa toàn bộ bồn hoa cây cảnh của lớp ..Nếu các 
em trình bày trước tập thể chưa thành công thì tôi giúp các em luyện nói, 
tập nói ngay tại chỗ khi nào hoàn thành mới dừng lại.Tôi không phê bình 
các em nếu trình bày còn lủng củng, vì làm như thế các em mất tự tin, trở 18 
nên tự ti.Cứ như thế tạo cho các em có cơ hội tự tin để luyện nói và được 
trình bày ý kiến của mình trước tập thể. 
 Bên cạnh đó học sinh thường xuyên được tham gia các hoạt động ngoài 
giờ lên lớp, hoạt động trải nghiệm sáng tạo phong phú, đa dạng gắn liền với 
cuộc sống, tạo sự liên kết giữa các tri thức khoa học trong những tình huống 
thực tiễn. Từ đó, học sinh có cơ hội được rèn luyện, trải nghiệm trong cuộc 
sống thực tiễn. Đó cũng là quá trình học sinh chuyển những qui tắc, chuẩn mực 
giao tiếp - xã hội từ bên ngoài vào bên trong thành vốn hiểu biết của bản thân 
và hình thành những kỹ năng tương ứng - kỹ năng giao tiếp qua đó giúp các em 
làm chủ bản thân, ứng xử tích cực với mọi người và giải quyết có hiệu quả các 
tình huống, các vấn đề trong cuộc sống hàng ngày. Một số hoạt động trải 
nghiệm cấp trường mang lại rất nhiều hứng thú với học sinh như: ngày hội 
Tiếng Anh, vui Tết Trung thu, sinh hoạt sao theo chủ điểm Thông qua các 
hoạt động này các em học sinh được phát triển các kỹ năng giao tiếp, hợp tác, 
tự tin. 
 19 
Hình ảnh học sinh lớp tôi rất hào hứng khi được giao lưu với cô giáo trường bạn. 
 3.5. Phối kết hợp giữa nhà trường, gia đình trong việc rèn kỹ năng 
giao tiếp cho học sinh. 
 Việc giáo dục, bồi dưỡng, rèn luyện các phẩm chất và năng lực nhằm 
giúp học sinh phát triển nhân cách một cách toàn diện là một quá trình lâu dài 
liên tục, diễn ra ở nhiều môi trường khác nhau, liên quan rất nhiều đến các mối 
quan hệ xã hội phức tạp. Vì thế, việc giáo dục học sinh nói chung và giáo dục 
kỹ năng giao tiếp cho học sinh nói riêng luôn luôn đòi hỏi sự phối hợp, kết hợp 
chặt chẽ của nhiều lực lượng xã hội và nhất là đòi hỏi sự quan tâm đúng cách 
của nhà trường, gia đình và mọi người trong xã hội. 
 Trong buổi họp phụ huynh đầu năm, tôi đã nêu tác dụng của việc có kỹ 
năng giao tiếp tốt, nêu các biểu hiện giao tiếp chưa tốt của học sinh, nêu 
nguyên nhân và phân tích kỹ nguyên nhân từ phía gia đình.Từ đó giúp phụ 
huynh hiểu người lớn trong gia đình phải mẫu mực trong cách cử xử, lời nói 
phải văn minh. Cha mẹ cũng chính là người thầy thứ hai của con khi ở nhà. 
Nếu con trẻ có những lời nói cử chỉ chưa đúng thì bố mẹ phải uốn nắn và sửa 
sai luôn cho con. 20 
 Tôi luôn thiết lập và duy trì mối liên hệ chặt chẽ, thường xuyên giữa 
giáo viên chủ nhiệm, nhà trường và cha mẹ học sinh thông qua gặp gỡ trực 
tiếp, gọi điện thoại, nhóm zalo của lớp, sổ liên lạc điện tử, các buổi họp phụ 
huynh dễ dàng thông báo kịp thời cho gia đình về tình hình học tập, rèn luyện 
và những vấn đề liên quan đến học sinh cần sự phối hợp của gia đình. 
 Vận động, tuyên truyền phụ huynh tham gia tích cực vào các hoạt động 
của lớp. Các buổi hoạt động tập thể của lớp tôi mời cha mẹ học sinh đến tham 
dự. Tôi quay chụp lại hình ảnh học sinh tham gia các hoạt động ở trường, lớp 
và trình chiếu ở buổi họp phụ huynh cuối học kì, cuối năm để phụ huynh thấy 
được các em tham gia vào các hoạt động một cách tích cực, tự tin, hợp tác, 
Từ đó phụ huynh tích cực tạo điều kiện cho các em được tham gia và quan 
trọng nhất là thay đổi được cách suy nghĩ của phụ huynh đối với việc rèn kỹ 
năng giao tiếp cho học sinh. Dành nhiều hơn nữa thời gian cho con mình, trò 
chuyện cùng con, chia sẻ với con để giúp con mình có kĩ năng giao tiếp tốt hơn. 
 Hình ảnh phụ huynh tham gia các hoạt động của lớp. 

File đính kèm:

  • pdfmot_so_bien_phap_phat_trien_ki_nang_giao_tiep_cho_hoc_sinh_l.pdf
Bài giảng liên quan