Một số biện pháp nâng cao năng lực giao tiếp cho học sinh lớp 3
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Một số biện pháp nâng cao năng lực giao tiếp cho học sinh lớp 3, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút TẢI VỀ ở trên
ỦY BAN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THẾ TRƯỜNG TIỂU HỌC ĐỒNG HƯU BIỆN PHÁP MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC GIAO TIẾP CHO HỌC SINH LỚP 3 Họ và tên giáo viên: Vi Thị Ngát Đơn vị công tác: Trường Tiểu học Đồng Hưu - Huyện Yên Thế XÁC NHẬN CỦA NHÀ TRƯỜNG Yên Thế, năm 2024 4 MỤC LỤC Tên đề mục Trang I. PHẦN MỞ ĐẦU 1-2 1. Lý do chọn biện pháp 1 2. Mục đích nghiên cứu 2 3. Nhiệm vụ nghiên cứu 2 4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 2 5. Phương pháp nghiên cứu 2 II. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 3-16 1. Cơ sở lý luận 3 2. Cơ sở thực tiễn 3 2.1. Thực trạng của vấn đề 3 2.1.1. Thuận lợi 4 2.1.2. Khó khăn 4 3. Các biện pháp 5 3.1. Biện pháp 1: Phân loại khả năng giao tiếp và giữ mối liên hệ 5 chặt chẽ với cha mẹ học sinh 3.2. Biện pháp 2: Xây dựng quy tắc ứng xử 7 3.3. Biện pháp 3: Hướng dẫn kỹ năng giao tiếp giữa thầy và trò, 8 giữa trò với trò, giữa học sinh và gia đình 3.4. Biện pháp 4: Đổi mới phương pháp dạy học nhằm rèn kỹ năng 11 giao tiếp cho học sinh 3.5. Biện pháp 5: Xây dựng môi trường lớp học thân thiện qua các hoạt động trải nghiệm nhằm nâng cao kĩ năng giao tiếp cho học 14 sinh 3.6. Biện pháp 6: Rèn luyện kĩ năng giao tiếp qua nghệ thuật giao tiếp phi 16 ngôn ngữ cho các em III. KẾT QUẢ VÀ ỨNG DỤNG 17-18 1. Kết quả 17 2. Ứng dụng 18 IV. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 19-20 1. Kết luận 19 1.1. Ý nghĩa của biện pháp 19 1.2. Bài học kinh nghiệm 19 2. Kiến nghị 20 V. TÀI LIỆU THAM KHẢO 20 1 I. PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn biện pháp Chương trình giáo dục phổ thông 2018 đặt ra mục tiêu giáo dục Tiểu học là giúp học sinh hình thành và phát triển những yếu tố căn bản đặt nền móng cho sự phát triển hài hòa về thể chất và tinh thần, phẩm chất và năng lực; định hướng chính vào giáo dục về giá trị bản thân, gia đình, cộng đồng và những thói quen, nền nếp cần thiết trong học tập và sinh hoạt. Tiểu học là bậc học nền tảng tạo cơ sở cho học sinh học tiếp ở các bậc học tiếp theo. Vì vậy, bên cạnh việc trang bị cho học sinh những vốn kiến thức cơ bản trong học tập còn cần phải chú ý đến việc hình thành và phát triển các năng lực, phẩm chất, trong đó có năng lực giao tiếp để học sinh phát triển toàn diện, thích ứng với môi trường mới, yêu cầu mới. Cùng với sự phát triển như vũ bão của công nghệ thông tin trong thời đại 4.0, người Việt Nam nói riêng và con người trên toàn thế giới nói chung đều có xu hướng sử dụng các thiết bị thông minh như: máy tính, ipad, điện thoại thông minh, cũng như dành thời gian quá nhiều để truy cập vào các ứng dụng mạng xã hội như: Facebook, Zalo, Tiktok, trong cuộc sống hằng ngày. Do đó, kỹ năng giao tiếp giữa người với người phần nào bị hạn chế. Kĩ năng giao tiếp không phải do bẩm sinh, di truyền mà nó hình thành, phát triển trong quá trình sống qua hoạt động trải nghiệm và rèn luyện. Nếu các em không có kĩ năng giao tiếp tốt thì các em sẽ không thực hiện tốt được mục tiêu giáo dục cũng như sẽ gặp rất nhiều khó khăn trong cuộc sống. Với ý nghĩa và tầm quan trọng của việc rèn kĩ năng giao tiếp cho học sinh như vậy, tôi đã chọn nghiên cứu giải pháp: “Một số biện pháp nâng cao năng lực giao tiếp cho học sinh lớp 3”. 2 2. Mục đích nghiên cứu - Nhằm tìm ra các biện pháp để nâng cao năng lực giao tiếp cho học sinh lớp 3. - Đúc rút ra một số kinh nghiệm giúp giáo viên nâng cao năng lực giao tiếp cho học sinh lớp 3 nói riêng và học sinh tiểu học nói chung. 3. Nhiệm vụ nghiên cứu - Nghiên cứu lí luận về tâm lý độ tuổi học sinh. - Tìm hiểu thực trạng của học sinh trong trường và lớp chủ nhiệm. - Tìm ra biện pháp hiệu quả nhằm nâng cao năng lực giao tiếp cho học sinh lớp 3 . 4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 4.1. Đối tượng nghiên cứu: Một số biện pháp nâng cao năng lực giao tiếp cho học sinh lớp 3. 4.2. Phạm vi nghiên cứu: Học sinh lớp 3B năm học 2022- 2023 tại trường tôi đang giảng dạy. 5. Phương pháp nghiên cứu Về việc nghiên cứu, tôi đã sử dụng một số phương pháp sau: - Phương pháp điều tra, khảo sát thực tế - Phương pháp phân tích, tổng hợp - Phương pháp giáo dục cá nhân - Phương pháp thực hành, luyện tập. 3 II. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 1. Cơ sở lý luận Kỹ năng giao tiếp là khả năng sử dụng phương tiện ngôn ngữ nói hoặc ngôn ngữ cơ thể để diễn đạt những suy nghĩ, ý kiến, cảm nhận của cá nhân một cách rõ ràng và thuyết phục; đồng thời thúc đẩy được giao tiếp hai chiều. Trong những năm gần đây, ngành giáo dục rất quan tâm đến vấn đề rèn kĩ năng sống cho học sinh. Các kĩ năng sống của học sinh bao gồm kĩ năng giao tiếp, kĩ năng giải quyết vấn đề, kĩ năng xử lý tình huống, Đây là những kĩ năng góp phần hình thành nên phẩm chất, nhân cách của con người để có thể đáp ứng được nhu cầu phát triển của xã hội. Thông tư số 27/2020/TT-BGDĐT ban hành ngày 04/09/2020 về việc quy định đánh giá học sinh Tiểu học cũng đã nêu rõ việc đánh giá học sinh không những ở các môn học và hoạt động giáo dục mà còn đánh giá về năng lực, phẩm chất. Trong đó, năng lực giao tiếp và hợp tác là một trong ba năng lực chung quan trọng nhất giúp học sinh phát triển các năng lực còn lại. Kỹ năng giao tiếp là một trong những kỹ năng quan trọng nhất của con người để sống, học tập, lao động và phát triển trong xã hội hiện đại. Giao tiếp tạo nên sự tích cực trong hoạt động xã hội, trong hình thành và phát triển nhân cách, tạo lập các mối quan hệ tốt trong cuộc sống. Nhờ có kỹ năng giao tiếp mà con người có thể chung sống và hòa nhập trong một xã hội không ngừng phát triển. Bên cạnh đó, kỹ năng giao tiếp còn giúp cho các em học sinh biết cách giải quyết những tình huống trong cuộc sống hàng ngày, giúp các em nói những điều các em muốn nói, làm những việc nên làm, đồng thời biết lắng nghe và thấu hiểu người khác, mang đến cho các em một cuộc sống tốt đẹp trong tương lai. 2. Cơ sở thực tiễn 2.1. Thực trạng của vấn đề 4 2.1.1. Thuận lợi - Về phía giáo viên: Đầu năm học tôi được nhà trường phân công chủ nhiệm lớp 3B. Nhận thức được trách nhiệm của mình, tôi luôn nêu cao tinh thần trách nhiệm để làm tốt công tác giảng dạy, giáo dục học sinh, đặc biệt là công tác rèn các năng lực, phẩm chất cho học sinh, trong đó có việc hình thành, phát triển năng lực giao tiếp và hợp tác cho học sinh ngày càng có chiều sâu và hiệu quả. - Về phụ huynh học sinh: Phụ huynh học sinh nhiệt tình, tích cực phối hợp, chăm lo đến các hoạt động của trường, của lớp. - Về học sinh: Nhiều học sinh được giáo dục tốt ở gia đình, có ý thức và kỹ năng giao tiếp tốt, làm gương tốt trong tập thể lớp. 2.1.2. Khó khăn - Một số học sinh còn rụt rè, chưa dám hòa mình vào các hoạt động chung của lớp. - Một số học sinh sử dụng ngôn từ, cách xưng hô, có những cử chỉ, hành vi chưa phù hợp. - Một số em chưa tích cực tham gia thảo luận, chia sẻ những kiến thức, kĩ năng, những suy nghĩ, của cá nhân với bạn bè trong lớp, với thầy giáo, cô giáo. Đa số các em còn chưa tích cực tham gia các hoạt động, phong trào của nhà trường. - Một số phụ huynh học sinh chưa quan tâm đến việc rèn kỹ năng giao tiếp cho con em mình, phó mặc cho nhà trường. Một số phụ huynh khác thường dành nhiều thời gian sử dụng điện thoại, ít trò chuyện và vui chơi với con. Một số bậc cha mẹ đi làm ăn xa, gửi con cho ông bà, chưa có phương pháp rèn kỹ năng giao tiếp cho con, cháu phù hợp. 2.2. Khảo sát Năm học 2022 - 2023, tôi được phân công chủ nhiệm lớp 3B, lớp có 28 học sinh. Đầu năm học, tôi đã tiến hành khảo sát học sinh theo bảng sau: 5 Tổng số Học sinh giao tiếp Học sinh giao tiếp Học sinh còn rụt rè, học sinh tốt, nói rõ câu, diễn khá tốt, nói rõ câu, ngại giao tiếp, diễn đạt lưu loát, biểu diễn đạt lưu loát đạt lời nói chưa rõ cảm trong giao tiếp. nhưng thiếu biểu ý. cảm trong giao tiếp. Số lượng Tỉ lệ (%) Số lượng Tỉ lệ (%) Số lượng Tỉ lệ (%) 28 8 28,6 12 42,8 8 28,6 Bảng 1: Thống kê về năng lực giao tiếp của học sinh lớp 3B đầu năm học Số liệu thống kê trên cho thấy số lượng học sinh có kỹ năng giao tiếp còn hạn chế chiếm 28,6% số học sinh của lớp. 3. Các biện pháp thực hiện 3.1. Biện pháp thứ nhất: Phân loại khả năng giao tiếp và giữ mối liên hệ chặt chẽ với cha mẹ học sinh. 3.1.1. Phân loại học sinh. Ngay từ đầu năm học, nhà trường chỉ đạo cho giáo viên các khối lớp bàn giao công tác chủ nhiệm, tôi đã liên hệ với giáo viên chủ nhiệm năm trước để tìm hiểu về hiểu hoàn cảnh, năng lực từng em, Nhờ thế tôi nắm được tình hình chất lượng và các mặt hoạt động khác của từng học sinh trong lớp. Do đó, tôi đã mạnh dạn phân loại học sinh theo các nhóm sau: Nhóm 1: Học sinh giao tiếp tốt, nói rõ câu, diễn đạt lưu loát, biểu cảm trong giao tiếp. Ở nhóm này, các em học sinh tiếp thu bài học tốt, nắm vững các kiến thức, kĩ năng các môn học. Trong các phong trào của trường, lớp như văn nghệ, hoạt động tập thể, thể dục, thể thao, ... các em đều tự tin, chủ động và tích cực tham gia, cũng chính từ việc tham gia nhiều hoạt động như vậy, các em trở nên mạnh dạn, năng động hơn, tự tin thể hiện ý kiến của mình trước đám đông. Nhóm 2: Học sinh giao tiếp khá tốt, nói rõ câu, diễn đạt lưu loát nhưng thiếu biểu cảm trong giao tiếp. 6 Các em học sinh ở nhóm này có khả năng tiếp thu kiến thức khá tốt. Khả năng diễn đạt của các em rõ ràng, mạch lạc. Qua quan sát, tôi nhận thấy mặc dù các em thường rất thoải mái trò chuyện với bạn bè hay những người thân quen, nhưng các em lại rất ngại tiếp xúc với người lạ hoặc trước đám đông. Thông thường, các em diễn đạt ý một cách đều đều, chưa có biểu cảm, cảm xúc. Nhóm 3: Học sinh còn rụt rè, ngại giao tiếp, diễn đạt lời nói chưa rõ ý. Ở nhóm này, một biểu hiện rõ nét nhất là trong giờ học, các em rất ít tham gia phát biểu ý kiến. Và nếu phải phát biểu, các em thường nói rất nhỏ, lời nói thường lan man, không rõ ý và thường không nhìn thẳng vào mắt người đang nói chuyện với mình. Sau khi phân tích đặc điểm cũng như khả năng giao tiếp của từng học sinh trong lớp, tôi tiến hành xếp chỗ ngồi cho học sinh sao cho phân bố đều khắp 3 đối tượng học sinh nêu trên trong các tổ, các nhóm. Từ đó, tôi lập kế hoạch chủ nhiệm, tiến hành bầu thành ban cán sự lớp, biên chế tổ học tập, nhóm học tập, đôi bạn học tập, theo tình hình chất lượng lớp, tạo điều kiện cho các em được học tập, trao đổi, giúp đỡ lẫn nhau. 3.1.2. Giữ mối quan hệ chặt chẽ với cha mẹ học sinh Ngay từ đầu năm học, tôi đã xây dựng kế hoạch cho buổi họp phụ huynh thật cụ thể, chi tiết. Tại buổi họp phụ huynh đầu năm, tôi đã đề ra biện pháp để phụ huynh cùng giáo viên rèn nền nếp học sinh như sau: Hằng ngày, phụ huynh nhắc nhở con em học bài cũ và chuẩn bị bài mới trước khi đến lớp. Giáo dục con ý thức gọn gàng, ngăn nắp khi học tập, vui chơi. Sinh hoạt điều độ, đúng thời gian biểu, giờ nào việc nấy tránh tình trạng vừa học vừa chơi hoặc xem ti vi gây mất tập trung. Tôi tạo nhóm zalo của lớp để giáo viên và phụ huynh trao đổi về tình hình học tập, rèn luyện cũng như phát triển cho học sinh các năng lực, phẩm chất, trong đó có năng lực giao tiếp. 7 Hình ảnh CMHS tham gia buổi họp phụ huynh đầu năm học Thực hiện giải pháp này tôi đã phân loại được đối tượng học sinh của lớp, từ đó đưa ra kế hoạch và biện pháp kèm cặp cụ thể. Đến thời điểm này, các em đã tích cực học tập. Thông qua giao tiếp hằng ngày, học sinh nhút nhát đã mạnh dạn, tự tin, hoà nhập cùng các bạn trong các hoạt động của lớp. Cha mẹ học sinh đã kịp thời nắm bắt được tình hình học tập của con em mình ở trường, có sự chuẩn bị chu đáo cho con em mình khi đi học. So với đầu năm học, học sinh mạnh dạn, tự tin hơn khi đến lớp. Tạo được mối quan hệ tốt giữa nhà trường và gia đình học sinh, phụ huynh có niềm tin vào kế hoạch giáo dục của nhà trường. 3.2. Biện pháp thứ hai: Xây dựng quy tắc ứng xử Văn hóa ứng xử có vai trò quan trọng trong sự hình thành và phát triển nhân cách đối với mỗi học sinh. Ứng xử văn minh sẽ giúp các em nâng cao được khả năng giao tiếp của mình. Từ đó tạo nên sự thành công trong cuộc sống của các em sau này. Nhận thức rõ vị trí và tầm quan trọng của giao tiếp, tôi đã xây dựng quy tắc ứng xử như sau: Nói: Nói rõ ràng, thành câu. Biết nhìn vào người nghe khi nói. Đặt được câu hỏi đơn giản và trả lời đúng nội dung câu hỏi. 8 Nghe: Luôn có thái độ chú ý lắng nghe khi người khác nói (nhìn vào người nói, có tư thế nghe phù hợp). Nói, nghe và tương tác: Đảm bảo tôn trọng, lịch sự, ngắn gọn, rõ ràng. Học sinh có thói quen lắng nghe, nêu thắc mắc và đặt câu hỏi để hỏi lại những điều mình chưa rõ. 3.3. Biện pháp thứ ba: Hướng dẫn kỹ năng giao tiếp giữa thầy và trò, giữa trò với trò, giữa học sinh và gia đình. 3.3.1. Tạo mối quan hệ gần gũi giữa cô và trò Để tạo sự gần gũi, thân thiết giữa cô và trò, tôi đã khích lệ học sinh tự giới thiệu về bản thân trong buổi học đầu tiên, qua đó hiểu thêm về tính cách, sở thích của từng em. Tôi cũng thường xuyên trò chuyện với các em lúc đầu giờ, giờ ra chơi hay sau khi tan học, hỏi han những người bạn cùng chơi, cùng học với các em để tìm hiểu thêm về tâm lý của các em, kịp thời phát hiện và chỉnh sửa lời nói, cách nói cho học sinh. Trong giao tiếp hằng ngày với học sinh, tôi luôn nói rõ câu, diễn đạt ý rõ ràng, lưu loát, luôn lắng nghe học sinh, dành cho các em những lời khuyên hữu ích, luôn hướng mắt về phía học sinh khi các em nói, làm tấm gương sáng mẫu mực trong giao tiếp để các em noi theo. Hình ảnh cô và trò trò chuyện qua giờ giải lao 9 3.3.2. Tạo mối quan hệ giữa học sinh với học sinh Nhằm xây dựng tốt mối quan hệ bạn bè, hàng tháng tôi sẽ luân phiên sắp xếp chỗ ngồi cho các em để các em có cơ hội tiếp xúc với nhiều bạn. Thiết lập nhiều đôi bạn thân thiết trong lớp để giúp đỡ nhau học tập thông qua hình thức đôi bạn cùng tiến. Hình ảnh đôi bạn cùng tiến đang chia sẻ về bài học Dân gian ta có câu: Lời nói chẳng mất tiền mua Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau Trong giao tiếp, tôi khuyên các em nên nói năng lịch sự, từ tốn, không làm tổn thương bạn. Xưng hô với bạn là bạn - mình, cậu - tớ hoặc xưng tên. Tôi khuyến khích học sinh giúp đỡ nhau trong học tập cũng như trong cuộc sống hằng ngày, dành lời khen với những học sinh có thái độ lịch sự, hoà nhã với bạn bè. Đối với học sinh có cách cư xử chưa phù hợp, tôi gặp riêng, nhắc nhở và khích lệ các em cố gắng sửa chữa. 10 3.4.3. Tạo mối quan hệ giữa học sinh với gia đình Theo phản hồi từ phía phụ huynh học sinh, nhiều học sinh ở trường rất chủ động, tích cực trong giao tiếp nhưng về nhà thì ngược lại, bởi ở trường có thầy cô và bạn bè động viên, đánh giá còn ở nhà bố mẹ chỉ nhắc nhở chứ không đánh giá, xếp loại. Vì vậy, để các em giao tiếp tốt mọi lúc mọi nơi, tôi đã hướng dẫn học sinh cách xưng hô, ứng xử đúng mực với mọi người trong gia đình. Nhờ phụ huynh và các bạn gần nhà quan sát, theo dõi, uốn nắn ngay cho các em khi các em có lời nói, cách cư xử chưa đúng. Đồng thời, tôi cũng nhắc nhở học sinh cần tránh những cách xưng hô thiếu tôn trọng, gây cho người khác cảm giác khó chịu. Hình ảnh giao tiếp ở nhà giữa phụ huynh và học sinh Sau khi áp dụng giải pháp trên, các em mạnh dạn, tự tin, tích cực hơn khi tham gia vào các hoạt động sinh hoạt ngoại khóa, sinh hoạt lớp, sinh hoạt đầu giờ. Các em không còn e ngại, rụt rè trước đám đông khi trình bày ý kiến của mình. Các em đã biết nói đầy đủ câu, ứng xử phù hợp với từng tình huống cụ thể. Đặc biệt là không có hiện tượng nói trống không; xưng hô đúng mực, tự tin trình bày các ý kiến của mình. Năng lực giao tiếp của các em được cải thiện và nâng cao đáng kể. 11 3.4. Biện pháp thứ tư: Đổi mới phương pháp dạy học nhằm nâng cao năng lực giao tiếp cho học sinh. Đổi mới phương pháp dạy học là dạy và học theo hướng tích cực, chủ động, sáng tạo trong đó học sinh tự phát hiện, tự giải quyết vấn đề, tự chiếm lĩnh kiến thức mới theo sự tổ chức, hướng dẫn và hỗ trợ của giáo viên. Trong các tiết học, tôi đã vận dụng các phương pháp, hình thức dạy học phù hợp tạo điều kiện cho học sinh rèn luyện kĩ năng giao tiếp của mình. - Phương pháp cộng tác nhóm Cộng tác nhóm giúp các em thói quen hợp tác với người khác để chia sẻ, cùng nhau giải quyết khi gặp một vấn đề khó khăn. Phương pháp này tạo cơ hội cho mọi học sinh được suy nghĩ cá nhân, trình bày và trao đổi trong nhóm, sau đó mới trình bày trước lớp. Học sinh được trình bày, phát hiện lỗi sai và sửa sai cho nhau trong nhóm. Từ đó, khi trình bày trước lớp, học sinh sẽ mạnh dạn, tự tin hơn rất nhiều. Các em tự nâng cao năng lực giao tiếp của bản thân, biết thể hiện thái độ cử chỉ khi trình bày, mạnh dạn, tự tin hơn khi nói trước đông người. Hình ảnh học sinh hoạt động cộng tác 12 Trong khi học sinh thảo luận nhóm, tôi đến từng nhóm quan sát, theo dõi, hỗ trợ, động viên và khuyến khích các thành viên trong nhóm đưa ra các câu hỏi có liên quan đến nội dung đang thảo luận để bạn trả lời. Tôi sử dụng phương pháp này thường xuyên trong giảng dạy nhằm làm cho tất cả học sinh được hoạt động, tạo không khí lớp học sôi nổi, tích cực, các em tiếp thu bài dễ dàng hơn, đặc biệt qua hoạt động nhóm, học sinh được học tập kĩ năng trình bày, diễn giải lẫn nhau. Từ đó, năng lực giao tiếp dần được hoàn thiện và phát triển. - Trò chơi học tập Trò chơi học tập là hình thức học tập có hiệu quả đối với học sinh, đặc biệt là những em ngại giao tiếp. Trò chơi học tập sẽ làm cho các em hứng thú hơn trong học tập. Thông qua trò chơi, học sinh được luyện tập, làm việc cá nhân, làm việc trong đơn vị nhóm, đơn vị lớp theo sự phân công và tinh thần hợp tác. Trò chơi tạo cơ hội cho học sinh tự hoạt động, tự củng cố kiến thức, tự hoàn thiện kỹ năng giao tiếp của chính mình. Các trò chơi học tập có thể tổ chức cho học sinh trong giờ tự học, giờ ra chơi hoặc giờ sinh hoạt lớp hay trong hoạt động củng cố của mỗi giờ học. Hình ảnh học sinh tham gia trò chơi học tập 13 Qua các trò chơi này, học sinh được tăng cường rèn luyện các kiến thức vừa được học, từ đó sẽ nhớ bài và vận dụng vào việc giao tiếp trong đời sống hằng ngày. - Phương pháp thuyết trình - kể chuyện - đóng vai Đây là hình thức học tập được áp dụng nhiều ở phân môn Kể chuyện qua bài tập “Phân vai dựng lại câu chuyện”. Để học sinh có kỹ năng giao tiếp tốt, giáo viên cần chú ý cho học sinh có giọng kể phù hợp kết hợp cùng cử chỉ, điệu bộ trong khi đóng vai. Đặc biệt nắm vững nội dung câu chuyện định kể. Ví dụ: Tiết kể chuyện, Tuần 4: Con đã lớn thật rồi! Giáo viên cho học sinh quan sát tranh, thảo luận, phân vai và ghi nhớ lời thoại. - HS thảo luận cách thể hiện nhân vật (qua lời nói, ánh mắt, cử chỉ, động tác, lời nói...), có sự hỗ trợ của GV. - Học sinh kể lại câu chuyện theo vai của mình trong nhóm. - Mời các nhóm kể lại câu chuyện trước lớp. - Cả lớp nhận xét, bình chọn nhóm diễn xuất hay để tuyên dương khen thưởng. Học sinh tham gia phân vai kể chuyện theo nhóm Khi thực hiện giải pháp này, tôi thấy học sinh mạnh dạn trao đổi ý kiến với các bạn trong thảo luận nhóm. Các em tự tin hơn trước lớp, trước đám 14 đông. Tiết học trở nên thú vị và cuốn hút. Các em học tập tốt hơn rất nhiều. Thông qua giao tiếp trong tiết học, năng lực tự chủ và tự học của học sinh cũng được hình thành và phát triển. 3.5. Biện pháp thứ năm: Xây dựng môi trường lớp học thân thiện qua các hoạt động trải nghiệm nhằm nâng cao khả năng giao tiếp cho học sinh. Muốn nâng cao khả năng giao tiếp cho học sinh lớp 3 một cách có hiệu quả, giáo viên phải xây dựng được môi trường lớp học thân thiện tạo sự gần gũi, gắn kết giữa giáo viên với học sinh, giữa học sinh với học sinh. Bởi vậy, ngay từ đầu năm học khi nhận lớp, tôi thường dành thời gian ổn định lớp, cho các em học sinh tự giới thiệu về bản thân, được trao đổi, chia sẻ sở thích, ước mơ, hoài bão với các bạn. Ngoài ra, tôi còn tổ chức cho các em trang trí lớp học với mục đích các em yêu trường, quý lớp, coi trường học như ngôi trường thứ hai của mình. Một lớp học thân thiện sẽ tạo môi trường dạy tốt, học tốt cho cô và trò. 15 Hình ảnh học sinh trang trí lớp học thân thiện Bên cạnh đó, tôi còn tổ chức các hoạt động trải nghiệm thực tế như: Vui tết Trung thu, làm thiệp tặng bà, tặng mẹ nhân ngày 20-10, Lời hay ý đẹp nhân ngày Nhà giáo Việt Nam 20-11, Thông qua các hoạt động trải nghiệm, tôi thấy rằng các em nâng cao tinh thần đoàn kết, tự tin mạnh dạn và phát huy được khả năng giao tiếp của bản thân. Học sinh làm thiệp tặng bà, tặng mẹ nhân ngày 20-10 Tôi giúp các em biết thi đua và nhận biết được nếu các em có sự hợp tác với nhau thì làm việc mới thành công. Qua các hoạt động của lớp: truy bài đầu giờ cùng nhau, hoạt động nhóm trong giờ học, cùng nhau hoàn thành các sản phẩm thủ công, cùng thi đua tiếp sức trong các trò chơi, .... các em sẽ cởi mở, gần gũi nhau hơn khi tham gia các phong trào văn nghệ, các trò chơi dân gian, các cuộc thi do Đội và nhà trường tổ chức. Tóm lại, học tập và hoạt động trong một lớp học thân thiện mỗi ngày, học sinh sẽ cảm thấy thoải mái, vui vẻ và hạnh phúc. Từ đó, năng lực giao tiếp cũng được hình thành, phát triển và nâng cao không ngừng. 16 3.6. Biện pháp thứ sáu: Rèn luyện kĩ năng giao tiếp qua nghệ thuật giao tiếp phi ngôn ngữ. Trong giao tiếp, cách nói chuyện rất quan trọng. Khi nói cần diễn đạt cho mọi người hiểu nội dung mình muốn trao đổi. Ngoài ra, khi nói ta cần biểu lộ cử chỉ, ánh mắt và đặc biệt là nụ cười sẽ làm cho đối tượng giao tiếp của mình càng thêm chú ý. Ánh mắt và nụ cười là tài sản vô cùng quý giá trên khuôn mặt mỗi con người. Trong giảng dạy hoặc giao tiếp với học sinh và mọi người xung quanh giáo viên cần sử dụng các sắc thái biểu cảm như nụ cười, ánh mắt, cử chỉ, một cách hợp lí. Một nụ cười thân thiện, một ánh mắt trìu mến sẽ tăng thêm hiệu quả về cuộc đối thoại giữa mọi người trong quá trình giao tiếp. Tóm lại, trong giao tiếp, giáo viên biết phối kết hợp với nụ cười và ánh mắt của mình trong lời nói giao tiếp cụ thể, phải gương mẫu và thường xuyên uốn nắn và điều chỉnh các em kịp thời sẽ giúp kĩ năng giao tiếp cho các em ngày càng hoàn thiện hơn. 17 III. KẾT QUẢ VÀ ỨNG DỤNG 1. Kết quả Qua thời gian áp dụng các giải pháp rèn luyện cho các em như đã nêu ở trên, lớp tôi đã đạt được những kết quả đáng kể như sau: Các em có sự tiến bộ trong giao tiếp, từ chỗ ít hứng thú trong học tập thì bây giờ các em say sưa, hứng thú học bài, các em tích cực giơ tay phát biểu xây dựng bài hơn. Từ đó, học sinh phát triển năng lực giải quyết vấn đề sáng tạo. Các em hăng hái tham gia các hoạt động tập thể, biết phân biệt hành động đúng và chưa đúng để hỗ trợ, nhắc nhở bạn. Các em ngoan, lễ phép, ứng xử thân thiện, lịch sự, hòa nhã và biết nhường nhịn, chia sẻ, giúp đỡ lẫn nhau trong học tập và cuộc sống. Qua các hoạt động tập thể, học sinh phát triển phẩm chất nhân ái, biết yêu thương, chia sẻ với bạn. Nhiều em mạnh dạn, tự tin hơn khi trả lời trước lớp. Các em đều biết bày tỏ ý kiến của mình về câu trả lời của bạn trong các giờ học. Hầu hết các em đều nói to, rõ ràng khi đưa ra ý kiến, biết hỏi thăm, quan tâm ông bà, bố mẹ, thầy cô hay bạn bè khi đau ốm. Đa số các em có khả năng giao tiếp với mọi người xung quanh rất tốt, các em nhận thức được cần lễ phép với mọi người xung quanh, cần xưng hô đúng cách, biết nói lời cảm ơn, xin lỗi phù hợp. Khả năng giao tiếp của các em đạt kết quả cụ thể như sau: 18 Bảng 2: Thống kê về kỹ năng giao tiếp của học sinh lớp 3B Học sinh giao Học sinh giao Học sinh còn tiếp tốt, nói rõ tiếp khá tốt, nói rụt rè, ngại Tổng câu, diễn đạt lưu rõ câu, diễn đạt giao tiếp, diễn số học Thời điểm loát, biểu cảm lưu loát nhưng đạt lời nói sinh trong giao tiếp. thiếu biểu cảm chưa rõ ý. trong giao tiếp. Số Tỉ lệ Số Tỉ lệ Số Tỉ lệ lượng (%) lượng (%) lượng (%) Trước khi 8 28,6 12 42,8 8 28,6 áp dụng biện pháp 28 Sau khi áp 19 67,9 8 28,6 1 3,5 dụng biện pháp Kết quả trên cho thấy kỹ năng giao tiếp của các em đã tiến bộ rõ rệt sau khi áp dụng các biện pháp nêu trên. 2. Ứng dụng + Học sinh lớp 3B của trường sở tại. + Học sinh khối 3 trong toàn trường sở tại.
File đính kèm:
mot_so_bien_phap_nang_cao_nang_luc_giao_tiep_cho_hoc_sinh_lo.pdf



