Một số biện pháp nâng cao năng lực giao tiếp cho học sinh lớp 3

pdf22 trang | Chia sẻ: Chan Chan | Ngày: 10/02/2026 | Lượt xem: 21 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Một số biện pháp nâng cao năng lực giao tiếp cho học sinh lớp 3, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút TẢI VỀ ở trên
 ỦY BAN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THẾ 
 TRƯỜNG TIỂU HỌC ĐỒNG HƯU 
 BIỆN PHÁP 
MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC GIAO TIẾP 
 CHO HỌC SINH LỚP 3 
 Họ và tên giáo viên: Vi Thị Ngát 
 Đơn vị công tác: Trường Tiểu học Đồng Hưu - Huyện Yên Thế 
 XÁC NHẬN CỦA NHÀ TRƯỜNG 
 Yên Thế, năm 2024 4 
 MỤC LỤC 
 Tên đề mục Trang 
I. PHẦN MỞ ĐẦU 1-2 
1. Lý do chọn biện pháp 1 
2. Mục đích nghiên cứu 2 
3. Nhiệm vụ nghiên cứu 2 
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 2 
5. Phương pháp nghiên cứu 2 
II. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 3-16 
1. Cơ sở lý luận 3 
2. Cơ sở thực tiễn 3 
2.1. Thực trạng của vấn đề 3 
2.1.1. Thuận lợi 4 
2.1.2. Khó khăn 4 
3. Các biện pháp 5 
3.1. Biện pháp 1: Phân loại khả năng giao tiếp và giữ mối liên hệ 
 5 
chặt chẽ với cha mẹ học sinh 
3.2. Biện pháp 2: Xây dựng quy tắc ứng xử 7 
3.3. Biện pháp 3: Hướng dẫn kỹ năng giao tiếp giữa thầy và trò, 
 8 
giữa trò với trò, giữa học sinh và gia đình 
3.4. Biện pháp 4: Đổi mới phương pháp dạy học nhằm rèn kỹ năng 
 11 
giao tiếp cho học sinh 
3.5. Biện pháp 5: Xây dựng môi trường lớp học thân thiện qua các 
hoạt động trải nghiệm nhằm nâng cao kĩ năng giao tiếp cho học 14 
sinh 
3.6. Biện pháp 6: Rèn luyện kĩ năng giao tiếp qua nghệ thuật giao tiếp phi 
 16 
ngôn ngữ cho các em 
III. KẾT QUẢ VÀ ỨNG DỤNG 17-18 
1. Kết quả 17 
2. Ứng dụng 18 
IV. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 19-20 
1. Kết luận 19 
1.1. Ý nghĩa của biện pháp 19 
1.2. Bài học kinh nghiệm 19 
2. Kiến nghị 20 
V. TÀI LIỆU THAM KHẢO 20 
 1 
 I. PHẦN MỞ ĐẦU 
 1. Lý do chọn biện pháp 
 Chương trình giáo dục phổ thông 2018 đặt ra mục tiêu giáo dục Tiểu 
học là giúp học sinh hình thành và phát triển những yếu tố căn bản đặt nền 
móng cho sự phát triển hài hòa về thể chất và tinh thần, phẩm chất và năng 
lực; định hướng chính vào giáo dục về giá trị bản thân, gia đình, cộng đồng 
và những thói quen, nền nếp cần thiết trong học tập và sinh hoạt. 
 Tiểu học là bậc học nền tảng tạo cơ sở cho học sinh học tiếp ở các bậc 
học tiếp theo. Vì vậy, bên cạnh việc trang bị cho học sinh những vốn kiến 
thức cơ bản trong học tập còn cần phải chú ý đến việc hình thành và phát triển 
các năng lực, phẩm chất, trong đó có năng lực giao tiếp để học sinh phát triển 
toàn diện, thích ứng với môi trường mới, yêu cầu mới. 
 Cùng với sự phát triển như vũ bão của công nghệ thông tin trong thời 
đại 4.0, người Việt Nam nói riêng và con người trên toàn thế giới nói chung 
đều có xu hướng sử dụng các thiết bị thông minh như: máy tính, ipad, điện 
thoại thông minh, cũng như dành thời gian quá nhiều để truy cập vào các 
ứng dụng mạng xã hội như: Facebook, Zalo, Tiktok, trong cuộc sống hằng 
ngày. Do đó, kỹ năng giao tiếp giữa người với người phần nào bị hạn chế. 
 Kĩ năng giao tiếp không phải do bẩm sinh, di truyền mà nó hình thành, 
phát triển trong quá trình sống qua hoạt động trải nghiệm và rèn luyện. Nếu 
các em không có kĩ năng giao tiếp tốt thì các em sẽ không thực hiện tốt được 
mục tiêu giáo dục cũng như sẽ gặp rất nhiều khó khăn trong cuộc sống. 
 Với ý nghĩa và tầm quan trọng của việc rèn kĩ năng giao tiếp cho học 
sinh như vậy, tôi đã chọn nghiên cứu giải pháp: “Một số biện pháp nâng cao 
năng lực giao tiếp cho học sinh lớp 3”. 
 2 
 2. Mục đích nghiên cứu 
 - Nhằm tìm ra các biện pháp để nâng cao năng lực giao tiếp cho học sinh 
lớp 3. 
 - Đúc rút ra một số kinh nghiệm giúp giáo viên nâng cao năng lực giao 
tiếp cho học sinh lớp 3 nói riêng và học sinh tiểu học nói chung. 
 3. Nhiệm vụ nghiên cứu 
 - Nghiên cứu lí luận về tâm lý độ tuổi học sinh. 
 - Tìm hiểu thực trạng của học sinh trong trường và lớp chủ nhiệm. 
 - Tìm ra biện pháp hiệu quả nhằm nâng cao năng lực giao tiếp cho học 
sinh lớp 3 . 
 4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 
 4.1. Đối tượng nghiên cứu: Một số biện pháp nâng cao năng lực giao tiếp 
cho học sinh lớp 3. 
 4.2. Phạm vi nghiên cứu: Học sinh lớp 3B năm học 2022- 2023 tại trường 
tôi đang giảng dạy. 
 5. Phương pháp nghiên cứu 
 Về việc nghiên cứu, tôi đã sử dụng một số phương pháp sau: 
 - Phương pháp điều tra, khảo sát thực tế 
 - Phương pháp phân tích, tổng hợp 
 - Phương pháp giáo dục cá nhân 
 - Phương pháp thực hành, luyện tập. 
 3 
 II. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 
 1. Cơ sở lý luận 
 Kỹ năng giao tiếp là khả năng sử dụng phương tiện ngôn ngữ nói hoặc 
ngôn ngữ cơ thể để diễn đạt những suy nghĩ, ý kiến, cảm nhận của cá nhân 
một cách rõ ràng và thuyết phục; đồng thời thúc đẩy được giao tiếp hai chiều. 
 Trong những năm gần đây, ngành giáo dục rất quan tâm đến vấn đề rèn 
kĩ năng sống cho học sinh. Các kĩ năng sống của học sinh bao gồm kĩ năng 
giao tiếp, kĩ năng giải quyết vấn đề, kĩ năng xử lý tình huống, Đây là những 
kĩ năng góp phần hình thành nên phẩm chất, nhân cách của con người để có 
thể đáp ứng được nhu cầu phát triển của xã hội. 
 Thông tư số 27/2020/TT-BGDĐT ban hành ngày 04/09/2020 về việc 
quy định đánh giá học sinh Tiểu học cũng đã nêu rõ việc đánh giá học sinh 
không những ở các môn học và hoạt động giáo dục mà còn đánh giá về năng 
lực, phẩm chất. Trong đó, năng lực giao tiếp và hợp tác là một trong ba năng 
lực chung quan trọng nhất giúp học sinh phát triển các năng lực còn lại. 
 Kỹ năng giao tiếp là một trong những kỹ năng quan trọng nhất của con 
người để sống, học tập, lao động và phát triển trong xã hội hiện đại. Giao tiếp 
tạo nên sự tích cực trong hoạt động xã hội, trong hình thành và phát triển nhân 
cách, tạo lập các mối quan hệ tốt trong cuộc sống. Nhờ có kỹ năng giao tiếp 
mà con người có thể chung sống và hòa nhập trong một xã hội không ngừng 
phát triển. 
 Bên cạnh đó, kỹ năng giao tiếp còn giúp cho các em học sinh biết cách 
giải quyết những tình huống trong cuộc sống hàng ngày, giúp các em nói 
những điều các em muốn nói, làm những việc nên làm, đồng thời biết lắng 
nghe và thấu hiểu người khác, mang đến cho các em một cuộc sống tốt đẹp 
trong tương lai. 
 2. Cơ sở thực tiễn 
 2.1. Thực trạng của vấn đề 
 4 
 2.1.1. Thuận lợi 
 - Về phía giáo viên: Đầu năm học tôi được nhà trường phân công chủ 
nhiệm lớp 3B. Nhận thức được trách nhiệm của mình, tôi luôn nêu cao tinh 
thần trách nhiệm để làm tốt công tác giảng dạy, giáo dục học sinh, đặc biệt là 
công tác rèn các năng lực, phẩm chất cho học sinh, trong đó có việc hình 
thành, phát triển năng lực giao tiếp và hợp tác cho học sinh ngày càng có 
chiều sâu và hiệu quả. 
 - Về phụ huynh học sinh: Phụ huynh học sinh nhiệt tình, tích cực phối 
hợp, chăm lo đến các hoạt động của trường, của lớp. 
 - Về học sinh: Nhiều học sinh được giáo dục tốt ở gia đình, có ý thức và 
kỹ năng giao tiếp tốt, làm gương tốt trong tập thể lớp. 
 2.1.2. Khó khăn 
 - Một số học sinh còn rụt rè, chưa dám hòa mình vào các hoạt động 
chung của lớp. 
 - Một số học sinh sử dụng ngôn từ, cách xưng hô, có những cử chỉ, hành 
vi chưa phù hợp. 
 - Một số em chưa tích cực tham gia thảo luận, chia sẻ những kiến thức, 
kĩ năng, những suy nghĩ, của cá nhân với bạn bè trong lớp, với thầy giáo, 
cô giáo. Đa số các em còn chưa tích cực tham gia các hoạt động, phong trào 
của nhà trường. 
 - Một số phụ huynh học sinh chưa quan tâm đến việc rèn kỹ năng giao 
tiếp cho con em mình, phó mặc cho nhà trường. Một số phụ huynh khác 
thường dành nhiều thời gian sử dụng điện thoại, ít trò chuyện và vui chơi với 
con. Một số bậc cha mẹ đi làm ăn xa, gửi con cho ông bà, chưa có phương 
pháp rèn kỹ năng giao tiếp cho con, cháu phù hợp. 
 2.2. Khảo sát 
 Năm học 2022 - 2023, tôi được phân công chủ nhiệm lớp 3B, lớp có 28 
học sinh. Đầu năm học, tôi đã tiến hành khảo sát học sinh theo bảng sau: 
 5 
 Tổng số Học sinh giao tiếp Học sinh giao tiếp Học sinh còn rụt rè, 
 học sinh tốt, nói rõ câu, diễn khá tốt, nói rõ câu, ngại giao tiếp, diễn 
 đạt lưu loát, biểu diễn đạt lưu loát đạt lời nói chưa rõ 
 cảm trong giao tiếp. nhưng thiếu biểu ý. 
 cảm trong giao tiếp. 
 Số lượng Tỉ lệ (%) Số lượng Tỉ lệ (%) Số lượng Tỉ lệ (%) 
 28 8 28,6 12 42,8 8 28,6 
 Bảng 1: Thống kê về năng lực giao tiếp của học sinh lớp 3B đầu năm học 
 Số liệu thống kê trên cho thấy số lượng học sinh có kỹ năng giao tiếp 
còn hạn chế chiếm 28,6% số học sinh của lớp. 
 3. Các biện pháp thực hiện 
 3.1. Biện pháp thứ nhất: Phân loại khả năng giao tiếp và giữ mối liên 
 hệ chặt chẽ với cha mẹ học sinh. 
 3.1.1. Phân loại học sinh. 
 Ngay từ đầu năm học, nhà trường chỉ đạo cho giáo viên các khối lớp 
bàn giao công tác chủ nhiệm, tôi đã liên hệ với giáo viên chủ nhiệm năm 
trước để tìm hiểu về hiểu hoàn cảnh, năng lực từng em, Nhờ thế tôi nắm 
được tình hình chất lượng và các mặt hoạt động khác của từng học sinh trong 
lớp. Do đó, tôi đã mạnh dạn phân loại học sinh theo các nhóm sau: 
 Nhóm 1: Học sinh giao tiếp tốt, nói rõ câu, diễn đạt lưu loát, biểu cảm 
trong giao tiếp. 
 Ở nhóm này, các em học sinh tiếp thu bài học tốt, nắm vững các kiến 
thức, kĩ năng các môn học. Trong các phong trào của trường, lớp như văn 
nghệ, hoạt động tập thể, thể dục, thể thao, ... các em đều tự tin, chủ 
động và tích cực tham gia, cũng chính từ việc tham gia nhiều hoạt động 
như vậy, các em trở nên mạnh dạn, năng động hơn, tự tin thể hiện ý kiến của 
mình trước đám đông. 
 Nhóm 2: Học sinh giao tiếp khá tốt, nói rõ câu, diễn đạt lưu loát nhưng 
thiếu biểu cảm trong giao tiếp. 
 6 
 Các em học sinh ở nhóm này có khả năng tiếp thu kiến thức khá tốt. 
Khả năng diễn đạt của các em rõ ràng, mạch lạc. Qua quan sát, tôi nhận thấy 
mặc dù các em thường rất thoải mái trò chuyện với bạn bè hay những 
người thân quen, nhưng các em lại rất ngại tiếp xúc với người lạ hoặc trước 
đám đông. Thông thường, các em diễn đạt ý một cách đều đều, chưa có biểu 
cảm, cảm xúc. 
 Nhóm 3: Học sinh còn rụt rè, ngại giao tiếp, diễn đạt lời nói chưa rõ ý. 
 Ở nhóm này, một biểu hiện rõ nét nhất là trong giờ học, các em rất ít 
tham gia phát biểu ý kiến. Và nếu phải phát biểu, các em thường nói rất nhỏ, 
lời nói thường lan man, không rõ ý và thường không nhìn thẳng vào mắt 
người đang nói chuyện với mình. 
 Sau khi phân tích đặc điểm cũng như khả năng giao tiếp của từng học 
sinh trong lớp, tôi tiến hành xếp chỗ ngồi cho học sinh sao cho phân bố đều 
khắp 3 đối tượng học sinh nêu trên trong các tổ, các nhóm. Từ đó, tôi lập kế 
hoạch chủ nhiệm, tiến hành bầu thành ban cán sự lớp, biên chế tổ học tập, 
nhóm học tập, đôi bạn học tập, theo tình hình chất lượng lớp, tạo điều kiện 
cho các em được học tập, trao đổi, giúp đỡ lẫn nhau. 
 3.1.2. Giữ mối quan hệ chặt chẽ với cha mẹ học sinh 
 Ngay từ đầu năm học, tôi đã xây dựng kế hoạch cho buổi họp phụ 
huynh thật cụ thể, chi tiết. Tại buổi họp phụ huynh đầu năm, tôi đã đề ra biện 
pháp để phụ huynh cùng giáo viên rèn nền nếp học sinh như sau: Hằng ngày, 
phụ huynh nhắc nhở con em học bài cũ và chuẩn bị bài mới trước khi đến lớp. 
Giáo dục con ý thức gọn gàng, ngăn nắp khi học tập, vui chơi. Sinh hoạt điều 
độ, đúng thời gian biểu, giờ nào việc nấy tránh tình trạng vừa học vừa chơi 
hoặc xem ti vi gây mất tập trung. Tôi tạo nhóm zalo của lớp để giáo viên và 
phụ huynh trao đổi về tình hình học tập, rèn luyện cũng như phát triển cho 
học sinh các năng lực, phẩm chất, trong đó có năng lực giao tiếp. 
 7 
 Hình ảnh CMHS tham gia buổi họp phụ huynh đầu năm học 
 Thực hiện giải pháp này tôi đã phân loại được đối tượng học sinh của 
lớp, từ đó đưa ra kế hoạch và biện pháp kèm cặp cụ thể. Đến thời điểm này, 
các em đã tích cực học tập. Thông qua giao tiếp hằng ngày, học sinh nhút nhát 
đã mạnh dạn, tự tin, hoà nhập cùng các bạn trong các hoạt động của lớp. 
 Cha mẹ học sinh đã kịp thời nắm bắt được tình hình học tập của con em 
mình ở trường, có sự chuẩn bị chu đáo cho con em mình khi đi học. So với 
đầu năm học, học sinh mạnh dạn, tự tin hơn khi đến lớp. Tạo được mối quan 
hệ tốt giữa nhà trường và gia đình học sinh, phụ huynh có niềm tin vào kế 
hoạch giáo dục của nhà trường. 
 3.2. Biện pháp thứ hai: Xây dựng quy tắc ứng xử 
 Văn hóa ứng xử có vai trò quan trọng trong sự hình thành và phát triển 
nhân cách đối với mỗi học sinh. Ứng xử văn minh sẽ giúp các em nâng cao 
được khả năng giao tiếp của mình. Từ đó tạo nên sự thành công trong cuộc 
sống của các em sau này. Nhận thức rõ vị trí và tầm quan trọng của giao tiếp, 
tôi đã xây dựng quy tắc ứng xử như sau: 
 Nói: Nói rõ ràng, thành câu. Biết nhìn vào người nghe khi nói. Đặt 
được câu hỏi đơn giản và trả lời đúng nội dung câu hỏi. 
 8 
 Nghe: Luôn có thái độ chú ý lắng nghe khi người khác nói (nhìn vào 
người nói, có tư thế nghe phù hợp). 
 Nói, nghe và tương tác: Đảm bảo tôn trọng, lịch sự, ngắn gọn, rõ ràng. 
Học sinh có thói quen lắng nghe, nêu thắc mắc và đặt câu hỏi để hỏi lại những 
điều mình chưa rõ. 
 3.3. Biện pháp thứ ba: Hướng dẫn kỹ năng giao tiếp giữa thầy và trò, 
giữa trò với trò, giữa học sinh và gia đình. 
 3.3.1. Tạo mối quan hệ gần gũi giữa cô và trò 
 Để tạo sự gần gũi, thân thiết giữa cô và trò, tôi đã khích lệ học sinh tự 
giới thiệu về bản thân trong buổi học đầu tiên, qua đó hiểu thêm về tính cách, 
sở thích của từng em. 
 Tôi cũng thường xuyên trò chuyện với các em lúc đầu giờ, giờ ra chơi 
hay sau khi tan học, hỏi han những người bạn cùng chơi, cùng học với các em 
để tìm hiểu thêm về tâm lý của các em, kịp thời phát hiện và chỉnh sửa lời nói, 
cách nói cho học sinh. 
 Trong giao tiếp hằng ngày với học sinh, tôi luôn nói rõ câu, diễn đạt ý 
rõ ràng, lưu loát, luôn lắng nghe học sinh, dành cho các em những lời khuyên 
hữu ích, luôn hướng mắt về phía học sinh khi các em nói, làm tấm gương 
sáng mẫu mực trong giao tiếp để các em noi theo. 
 Hình ảnh cô và trò trò chuyện qua giờ giải lao 
 9 
 3.3.2. Tạo mối quan hệ giữa học sinh với học sinh 
 Nhằm xây dựng tốt mối quan hệ bạn bè, hàng tháng tôi sẽ luân phiên sắp 
xếp chỗ ngồi cho các em để các em có cơ hội tiếp xúc với nhiều bạn. Thiết lập 
nhiều đôi bạn thân thiết trong lớp để giúp đỡ nhau học tập thông qua hình 
thức đôi bạn cùng tiến. 
 Hình ảnh đôi bạn cùng tiến đang chia sẻ về bài học 
 Dân gian ta có câu: 
 Lời nói chẳng mất tiền mua 
 Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau 
 Trong giao tiếp, tôi khuyên các em nên nói năng lịch sự, từ tốn, không 
làm tổn thương bạn. Xưng hô với bạn là bạn - mình, cậu - tớ hoặc xưng tên. 
Tôi khuyến khích học sinh giúp đỡ nhau trong học tập cũng như trong cuộc 
sống hằng ngày, dành lời khen với những học sinh có thái độ lịch sự, hoà nhã 
với bạn bè. Đối với học sinh có cách cư xử chưa phù hợp, tôi gặp riêng, nhắc 
nhở và khích lệ các em cố gắng sửa chữa. 
 10 
 3.4.3. Tạo mối quan hệ giữa học sinh với gia đình 
 Theo phản hồi từ phía phụ huynh học sinh, nhiều học sinh ở trường rất 
chủ động, tích cực trong giao tiếp nhưng về nhà thì ngược lại, bởi ở trường có 
thầy cô và bạn bè động viên, đánh giá còn ở nhà bố mẹ chỉ nhắc nhở chứ 
không đánh giá, xếp loại. Vì vậy, để các em giao tiếp tốt mọi lúc mọi nơi, tôi 
đã hướng dẫn học sinh cách xưng hô, ứng xử đúng mực với mọi người trong 
gia đình. Nhờ phụ huynh và các bạn gần nhà quan sát, theo dõi, uốn nắn ngay 
cho các em khi các em có lời nói, cách cư xử chưa đúng. 
 Đồng thời, tôi cũng nhắc nhở học sinh cần tránh những cách xưng hô 
thiếu tôn trọng, gây cho người khác cảm giác khó chịu. 
 Hình ảnh giao tiếp ở nhà giữa phụ huynh và học sinh 
 Sau khi áp dụng giải pháp trên, các em mạnh dạn, tự tin, tích cực hơn khi 
tham gia vào các hoạt động sinh hoạt ngoại khóa, sinh hoạt lớp, sinh hoạt đầu 
giờ. Các em không còn e ngại, rụt rè trước đám đông khi trình bày ý kiến của 
mình. Các em đã biết nói đầy đủ câu, ứng xử phù hợp với từng tình huống cụ 
thể. Đặc biệt là không có hiện tượng nói trống không; xưng hô đúng mực, tự 
tin trình bày các ý kiến của mình. Năng lực giao tiếp của các em được cải 
thiện và nâng cao đáng kể. 
 11 
 3.4. Biện pháp thứ tư: Đổi mới phương pháp dạy học nhằm nâng cao 
năng lực giao tiếp cho học sinh. 
 Đổi mới phương pháp dạy học là dạy và học theo hướng tích cực, chủ 
động, sáng tạo trong đó học sinh tự phát hiện, tự giải quyết vấn đề, tự chiếm 
lĩnh kiến thức mới theo sự tổ chức, hướng dẫn và hỗ trợ của giáo viên. 
 Trong các tiết học, tôi đã vận dụng các phương pháp, hình thức dạy 
học phù hợp tạo điều kiện cho học sinh rèn luyện kĩ năng giao tiếp của mình. 
 - Phương pháp cộng tác nhóm 
 Cộng tác nhóm giúp các em thói quen hợp tác với người khác để chia 
sẻ, cùng nhau giải quyết khi gặp một vấn đề khó khăn. Phương pháp này tạo 
cơ hội cho mọi học sinh được suy nghĩ cá nhân, trình bày và trao đổi trong 
nhóm, sau đó mới trình bày trước lớp. Học sinh được trình bày, phát hiện lỗi 
sai và sửa sai cho nhau trong nhóm. Từ đó, khi trình bày trước lớp, học sinh 
sẽ mạnh dạn, tự tin hơn rất nhiều. Các em tự nâng cao năng lực giao tiếp của 
bản thân, biết thể hiện thái độ cử chỉ khi trình bày, mạnh dạn, tự tin hơn khi 
nói trước đông người. 
 Hình ảnh học sinh hoạt động cộng tác 
 12 
 Trong khi học sinh thảo luận nhóm, tôi đến từng nhóm quan sát, theo dõi, 
hỗ trợ, động viên và khuyến khích các thành viên trong nhóm đưa ra các câu hỏi 
có liên quan đến nội dung đang thảo luận để bạn trả lời. 
 Tôi sử dụng phương pháp này thường xuyên trong giảng dạy nhằm làm 
cho tất cả học sinh được hoạt động, tạo không khí lớp học sôi nổi, tích cực, 
các em tiếp thu bài dễ dàng hơn, đặc biệt qua hoạt động nhóm, học sinh được 
học tập kĩ năng trình bày, diễn giải lẫn nhau. Từ đó, năng lực giao tiếp dần 
được hoàn thiện và phát triển. 
 - Trò chơi học tập 
 Trò chơi học tập là hình thức học tập có hiệu quả đối với học sinh, đặc 
biệt là những em ngại giao tiếp. Trò chơi học tập sẽ làm cho các em hứng thú 
hơn trong học tập. Thông qua trò chơi, học sinh được luyện tập, làm việc cá 
nhân, làm việc trong đơn vị nhóm, đơn vị lớp theo sự phân công và tinh thần 
hợp tác. Trò chơi tạo cơ hội cho học sinh tự hoạt động, tự củng cố kiến thức, 
tự hoàn thiện kỹ năng giao tiếp của chính mình. 
 Các trò chơi học tập có thể tổ chức cho học sinh trong giờ tự học, giờ ra 
chơi hoặc giờ sinh hoạt lớp hay trong hoạt động củng cố của mỗi giờ học. 
 Hình ảnh học sinh tham gia trò chơi học tập 
 13 
 Qua các trò chơi này, học sinh được tăng cường rèn luyện các kiến 
thức vừa được học, từ đó sẽ nhớ bài và vận dụng vào việc giao tiếp trong đời 
sống hằng ngày. 
 - Phương pháp thuyết trình - kể chuyện - đóng vai 
 Đây là hình thức học tập được áp dụng nhiều ở phân môn Kể chuyện qua 
bài tập “Phân vai dựng lại câu chuyện”. Để học sinh có kỹ năng giao tiếp tốt, 
giáo viên cần chú ý cho học sinh có giọng kể phù hợp kết hợp cùng cử chỉ, điệu 
bộ trong khi đóng vai. Đặc biệt nắm vững nội dung câu chuyện định kể. 
 Ví dụ: Tiết kể chuyện, Tuần 4: Con đã lớn thật rồi! 
 Giáo viên cho học sinh quan sát tranh, thảo luận, phân vai và ghi nhớ 
lời thoại. 
 - HS thảo luận cách thể hiện nhân vật (qua lời nói, ánh mắt, cử chỉ, 
động tác, lời nói...), có sự hỗ trợ của GV. 
 - Học sinh kể lại câu chuyện theo vai của mình trong nhóm. 
 - Mời các nhóm kể lại câu chuyện trước lớp. 
 - Cả lớp nhận xét, bình chọn nhóm diễn xuất hay để tuyên dương khen 
thưởng. 
 Học sinh tham gia phân vai kể chuyện theo nhóm 
 Khi thực hiện giải pháp này, tôi thấy học sinh mạnh dạn trao đổi ý kiến 
với các bạn trong thảo luận nhóm. Các em tự tin hơn trước lớp, trước đám 
 14 
đông. Tiết học trở nên thú vị và cuốn hút. Các em học tập tốt hơn rất nhiều. 
Thông qua giao tiếp trong tiết học, năng lực tự chủ và tự học của học sinh 
cũng được hình thành và phát triển. 
 3.5. Biện pháp thứ năm: Xây dựng môi trường lớp học thân thiện 
qua các hoạt động trải nghiệm nhằm nâng cao khả năng giao tiếp cho học 
sinh. 
 Muốn nâng cao khả năng giao tiếp cho học sinh lớp 3 một cách có hiệu 
quả, giáo viên phải xây dựng được môi trường lớp học thân thiện tạo sự gần 
gũi, gắn kết giữa giáo viên với học sinh, giữa học sinh với học sinh. Bởi vậy, 
ngay từ đầu năm học khi nhận lớp, tôi thường dành thời gian ổn định lớp, cho 
các em học sinh tự giới thiệu về bản thân, được trao đổi, chia sẻ sở thích, ước 
mơ, hoài bão với các bạn. 
 Ngoài ra, tôi còn tổ chức cho các em trang trí lớp học với mục đích các 
em yêu trường, quý lớp, coi trường học như ngôi trường thứ hai của mình. 
Một lớp học thân thiện sẽ tạo môi trường dạy tốt, học tốt cho cô và trò. 
 15 
 Hình ảnh học sinh trang trí lớp học thân thiện 
 Bên cạnh đó, tôi còn tổ chức các hoạt động trải nghiệm thực tế như: 
Vui tết Trung thu, làm thiệp tặng bà, tặng mẹ nhân ngày 20-10, Lời hay ý đẹp 
nhân ngày Nhà giáo Việt Nam 20-11, Thông qua các hoạt động trải 
nghiệm, tôi thấy rằng các em nâng cao tinh thần đoàn kết, tự tin mạnh dạn và 
phát huy được khả năng giao tiếp của bản thân. 
 Học sinh làm thiệp tặng bà, tặng mẹ nhân ngày 20-10 
 Tôi giúp các em biết thi đua và nhận biết được nếu các em có sự hợp 
tác với nhau thì làm việc mới thành công. Qua các hoạt động của lớp: truy bài 
đầu giờ cùng nhau, hoạt động nhóm trong giờ học, cùng nhau hoàn thành các 
sản phẩm thủ công, cùng thi đua tiếp sức trong các trò chơi, .... các em sẽ cởi 
mở, gần gũi nhau hơn khi tham gia các phong trào văn nghệ, các trò chơi dân 
gian, các cuộc thi do Đội và nhà trường tổ chức. 
 Tóm lại, học tập và hoạt động trong một lớp học thân thiện mỗi ngày, 
học sinh sẽ cảm thấy thoải mái, vui vẻ và hạnh phúc. Từ đó, năng lực giao 
tiếp cũng được hình thành, phát triển và nâng cao không ngừng. 
 16 
 3.6. Biện pháp thứ sáu: Rèn luyện kĩ năng giao tiếp qua nghệ thuật 
giao tiếp phi ngôn ngữ. 
 Trong giao tiếp, cách nói chuyện rất quan trọng. Khi nói cần diễn đạt 
cho mọi người hiểu nội dung mình muốn trao đổi. Ngoài ra, khi nói ta cần 
biểu lộ cử chỉ, ánh mắt và đặc biệt là nụ cười sẽ làm cho đối tượng giao tiếp 
của mình càng thêm chú ý. Ánh mắt và nụ cười là tài sản vô cùng quý giá trên 
khuôn mặt mỗi con người. Trong giảng dạy hoặc giao tiếp với học sinh và 
mọi người xung quanh giáo viên cần sử dụng các sắc thái biểu cảm như nụ 
cười, ánh mắt, cử chỉ, một cách hợp lí. Một nụ cười thân thiện, một ánh 
mắt trìu mến sẽ tăng thêm hiệu quả về cuộc đối thoại giữa mọi người trong 
quá trình giao tiếp. 
 Tóm lại, trong giao tiếp, giáo viên biết phối kết hợp với nụ cười và ánh 
mắt của mình trong lời nói giao tiếp cụ thể, phải gương mẫu và thường xuyên 
uốn nắn và điều chỉnh các em kịp thời sẽ giúp kĩ năng giao tiếp cho các em 
ngày càng hoàn thiện hơn. 
 17 
 III. KẾT QUẢ VÀ ỨNG DỤNG 
 1. Kết quả 
 Qua thời gian áp dụng các giải pháp rèn luyện cho các em như đã nêu ở 
trên, lớp tôi đã đạt được những kết quả đáng kể như sau: 
 Các em có sự tiến bộ trong giao tiếp, từ chỗ ít hứng thú trong học tập 
thì bây giờ các em say sưa, hứng thú học bài, các em tích cực giơ tay phát 
biểu xây dựng bài hơn. Từ đó, học sinh phát triển năng lực giải quyết vấn đề 
sáng tạo. 
 Các em hăng hái tham gia các hoạt động tập thể, biết phân biệt hành 
động đúng và chưa đúng để hỗ trợ, nhắc nhở bạn. Các em ngoan, lễ phép, ứng 
xử thân thiện, lịch sự, hòa nhã và biết nhường nhịn, chia sẻ, giúp đỡ lẫn nhau 
trong học tập và cuộc sống. Qua các hoạt động tập thể, học sinh phát triển 
phẩm chất nhân ái, biết yêu thương, chia sẻ với bạn. 
 Nhiều em mạnh dạn, tự tin hơn khi trả lời trước lớp. Các em đều biết 
bày tỏ ý kiến của mình về câu trả lời của bạn trong các giờ học. Hầu hết các 
em đều nói to, rõ ràng khi đưa ra ý kiến, biết hỏi thăm, quan tâm ông bà, bố 
mẹ, thầy cô hay bạn bè khi đau ốm. 
 Đa số các em có khả năng giao tiếp với mọi người xung quanh rất tốt, 
các em nhận thức được cần lễ phép với mọi người xung quanh, cần xưng hô 
đúng cách, biết nói lời cảm ơn, xin lỗi phù hợp. Khả năng giao tiếp của các 
em đạt kết quả cụ thể như sau: 
 18 
 Bảng 2: Thống kê về kỹ năng giao tiếp của học sinh lớp 3B 
 Học sinh giao Học sinh giao Học sinh còn 
 tiếp tốt, nói rõ tiếp khá tốt, nói rụt rè, ngại 
 Tổng câu, diễn đạt lưu rõ câu, diễn đạt giao tiếp, diễn 
 số học Thời điểm loát, biểu cảm lưu loát nhưng đạt lời nói 
 sinh trong giao tiếp. thiếu biểu cảm chưa rõ ý. 
 trong giao tiếp. 
 Số Tỉ lệ Số Tỉ lệ Số Tỉ lệ 
 lượng (%) lượng (%) lượng (%) 
 Trước khi 8 28,6 12 42,8 8 28,6 
 áp dụng 
 biện pháp 
 28 Sau khi áp 19 67,9 8 28,6 1 3,5 
 dụng biện 
 pháp 
 Kết quả trên cho thấy kỹ năng giao tiếp của các em đã tiến bộ rõ rệt sau 
khi áp dụng các biện pháp nêu trên. 
 2. Ứng dụng 
 + Học sinh lớp 3B của trường sở tại. 
 + Học sinh khối 3 trong toàn trường sở tại. 

File đính kèm:

  • pdfmot_so_bien_phap_nang_cao_nang_luc_giao_tiep_cho_hoc_sinh_lo.pdf
Bài giảng liên quan