Một số biện pháp phát triển năng lực giao tiếp và hợp tác cho học sinh lớp Một
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Một số biện pháp phát triển năng lực giao tiếp và hợp tác cho học sinh lớp Một, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút TẢI VỀ ở trên
PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO YÊN THẾ TRƯỜNG TIỂU HỌC ĐỒNG KỲ BIỆN PHÁP “Một số biện pháp phát triển năng lực giao tiếp và hợp tác cho học sinh lớp Một” Họ và tên: NGÔ THỊ HẰNG Đơn vị: Trường Tiểu học Đồng Kỳ, huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang. XÁC NHẬN CỦA NHÀ TRƯỜNG NGƯỜI VIẾT HIỆU TRƯỞNG (Ký ghi rõ họ tên) Ngô Thị Hằng Nguyễn Thị Thanh Yên Thế, tháng 10 năm 2023 Mục lục Trang I. MỞ ĐẦU 2 1. Lý do viết biện pháp 2 2. Mục đích nghiên cứu 3 3. Nhiệm vụ nghiên cứu 3 4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 3 4.1. Đối tượng nghiên cứu 3 4.2. Phạm vi nghiên cứu 3 5. Phương pháp nghiên cứu 4 II. NỘI DUNG 5 1. Cơ sở lí luận 5 2. Cơ sở thực tiễn 5-7 3. Các biện pháp thực hiện 7-17 III. KẾT QUẢ VÀ ỨNG DỤNG 18 1. Kết quả 18-19 2. Ứng dụng 19 IV. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 20 1. Kết luận 20-21 2. Kiến nghị 21 2 I. PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn biện pháp: “Một số biện pháp phát triển năng lực giao tiếp và hợp tác cho học sinh lớp 1.” Đất nước Việt Nam đang trên đà phát triển và hội nhập thế giới. Đòi hỏi cần phải có những người Việt Nam năng động, sáng tạo để giao lưu, hợp tác với bạn bè và cộng đồng thế giới. Trước hết điều đó mang lại lợi ích cho mỗi cá nhân, sau đó là cho gia đình, cho xã hội, cho cộng đồng, ... Bắt đầu từ năm học 2020-2021, cả nước đã áp dụng rộng rãi chương trình GDPT 2018 cho HS lớp 1- Mục tiêu chương trình cũng đã nêu rõ: Giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ và các kĩ năng cơ bản phát triển năng lực cá nhân; tính năng động và sáng tạo hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân, Bên cạnh đó việc thực hiện thông tư 27/2020/TT-BGDĐT ban hành đánh giá học sinh Tiểu học. Ngoài đánh giá về kiến thức từng môn học thì còn đánh giá về năng lực, phẩm chất nhất của học sinh khi xét học sinh hoàn thành chương trình lớp học (cấp học Tiểu học). Năng lực được hình thành từ những kĩ năng của cuộc sống thì kĩ năng giao tiếp và hợp tác của học sinh tôi thấy vô cùng quan trọng. Giao tiếp và hợp tác tốt giúp cho học sinh vượt qua mọi thử thách trong trường học và cuộc sống, có được điều này học sinh sẽ tin ở năng lực bản thân và luôn hi vọng đạt được mục tiêu của mình, luôn thích thú thử nghiệm những điều mới mẻ và chính những trải nghiệm mới lạ giúp các em học tốt hơn. Là một giáo viên Tiểu học, được trải nghiệm với nhiều đối tượng học sinh khác nhau và hầu hết tôi đều thấy các em đều có điểm chung đó là thiếu tính tự tin, mạnh dạn trong giao tiếp và hợp tác khi tham gia học tập và trong các hoạt động ngoài giờ lên lớp. Xuất phát từ lí do đó tôi thấy việc rèn năng 3 lực tự tin, mạnh dạn trong giao tiếp và hợp tác cho học sinh là một việc rất quan trong. Đó cũng là lí do giúp tôi chọn đề tài: “Một số biện pháp phát triển năng lực giao tiếp và hợp tác cho học sinh lớp 1.” 2. Mục đích nghiên cứu Mục đích nghiên cứu của đề tài là tìm ra biện pháp giúp học sinh lớp Một mạnh dạn, tự tin, năng động, sáng tạo trong giao tiếp và hợp tác khi tham gia hoạt động học tập và các hoạt động khác. 3. Nhiệm vụ nghiên cứu. Nghiên cứu cơ sở lí luận và thực tiễn về khả năng giao tiếp và hợp tác của học sinh. Đề xuất một số biện pháp biện pháp giúp học sinh tiểu học mạnh dạn, tự tin, năng động. Phát triển năng lực cá nhân, năng lực giao tiếp, năng lực tư duy cho học sinh. Thử nghiệm sư phạm nhằm kiểm tra tính khả thi của một số biện pháp phát triển năng lực giao tiếp và hợp tác cho học sinh lớp 1. 4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 4.1. Đối tượng nghiên cứu. - Một số biện pháp phát triển năng lực giao tiếp và hợp tác cho học sinh lớp 1 - Đối tượng khảo sát: Học sinh lớp 1B và học sinh khối 1 năm học 2022-2023 tại đơn vị tôi công tác. 4.2. Phạm vi nghiên cứu - Không gian nghiên cứu: + Lớp 1B và học sinh khối 1 tại đơn vị tôi công tác - Thời gian nghiên cứu: + Từ tháng 9 năm 2022 đến tháng 5 năm 2023. + Áp dụng cho những năm học tiếp theo. 4 5. Phương pháp nghiên cứu. - Phương pháp điều tra, phỏng vấn - Phương pháp đàm thoại, trao đổi - Phương pháp thực nghiệm khoa học - Phương pháp thu thập số liệu - Phương pháp phân tích tổng hợp 5 II. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 1. Cơ sở lý luận. Theo các nhà tâm lý học, nhân cách con người được bộc lộ và hình thành, phát triển qua hoạt động giao lưu với mọi người. Trẻ em nào tự tin giao tiếp tốt từ nhỏ sẽ tích cực tham gia các hoạt động, dễ thích ứng với cuộc sống và dễ thành công hơn. Giáo dục nhân cách, kĩ năng sống, năng lực chung cho học sinh Tiểu học rất quan trọng, đặt nền móng cho sự phát triển của các em sau này. Năng lực cốt lõi của học sinh là một vấn đề được toàn ngành Giáo dục nói chung và bậc Tiểu học nói riêng quan tâm đến. Năng lực được chia ra làm 2 loại năng lực đó là năng lực chung và năng lực đặc thù. Năng lực chung gồm: Tự chủ và tự học; Giao tiếp và hợp tác; Giải quyết vấn đề và sáng tạo. Năng lực đặc thù gồm: Ngôn ngữ, tính toán, khoa học, thẩm mĩ, thể chất. Theo tôi tất cả những năng lực này đều cần thiết để chúng ta phải biết để thích ứng với những thay đổi diễn ra hàng ngày. Năng lực được hình thành theo một quá trình, hình thành một cách tự nhiên qua những va chạm, những trải nghiệm trong cuộc sống và qua giáo dục mà có. Tuy nhiên để học sinh có thể học tập đạt hiệu quả cao nhất, đáp ứng yêu cầu đổi mới của xã hội đòi hỏi học sinh phải có kĩ năng tự tin, mạnh dạn trong giao tiếp và hợp tác. Giao tiếp tốt cũng có nghĩa là học sinh thấy thoải mái hơn với chính mình và có nhiều điều muốn chia sẻ. Sự tự tin trong giao tiếp và hợp tác giúp các em tương tác được với mọi người xung quanh, với bạn bè và dễ dàng những mối quan hệ với mọi người, thành công trong mọi hoàn cảnh. Đó là những kĩ năng sống rất cần thiết cho mỗi học sinh. 2. Cơ sở thực tiễn: Trong quá trình rèn kĩ năng giao tiếp cho học sinh lớp 1 nhằm thực hiện nội dung phong trào “Xây dựng trường học thân thiện - học sinh tích cực”, bản thân đã gặp những thuận lợi và hạn chế sau: 6 * Thuận lợi Nhiều năm liền được làm công tác chủ nhiệm lớp 1, tôi có điều kiện tiếp xúc gần gũi với các em học sinh thường xuyên. Đa số các em ở cùng độ tuổi dễ dàng cho việc tìm hiểu tâm lí của các em để có biện pháp giúp các em tiến bộ. Giữa giáo viên và phụ huynh học sinh thường xuyên trao đổi việc học tập rèn luyện trên lớp cũng như ở nhà của các em qua điện thoại hoặc gặp mặt trực tiếp khi phụ huynh đón con. * Hạn chế - Học sinh còn rụt rè, e ngại không dám thể hiện mình. Không dám phát biểu xây dựng bài. - Học sinh ít chia sẻ với thầy cô, bạn bè. Ngại tiếp xúc với người lạ. - Trong học tập không dám nói ra điều mình muốn, sợ sai và sợ các bạn chê cười. Bảng thăm dò điều tra về sự tự tin, mạnh dạn trong giao tiếp và hợp tác của học sinh lớp 1B năm học 2022 - 2023: Thời Tốt Đạt Cần cố gắng điểm Sĩ số SL % SL % SL % Đầu 32 8 25 18 56,2 6 18,8 năm * Nguyên nhân Từ những hạn chế mà học sinh gặp phải, qua thực tế giảng dạy, tôi phát hiện ra những nguyên nhân như sau: + Học sinh lớp 1 mới từ mầm non lên khả năng ngôn ngữ còn hạn chế đa số các em còn rụt rè, thiếu tự tin trong giao tiếp. + Một số phụ huynh học sinh chưa quan tới việc học của con, giao phó cho giáo viên hoàn toàn. 7 + Do thay đổi môi trường nên các em sẽ có những thay chút ít về tâm lí, có những em sẽ hào hứng, phấn khích, nhưng phần lớn sẽ là lo lắng, nhút nhát, sợ sệt, một số em chưa thật sự sẵn sàng bởi vì tất cả đối với các em đều là sự mới mẻ. + Do gia đình khiến các em tự ti về bản thân, tự các em thấy mặc cảm không muốn giao lưu, tiếp xúc với mọi người. + Học sinh ít được tham gia các hoạt động ngoài giờ lên lớp do chỉ chú trọng học kiến thức văn hóa nên các em ít được giao lưu trong tập thể, phát triển năng khiếu cá nhân. Trong khi đó tâm lí học sinh tiểu học là hiếu động, thích được vui chơi cùng bạn bè. 3. Các biện pháp Biện pháp 1. Giáo viên luôn gần gũi, tôn trọng, yêu thương học sinh Đầu tiên, sau khi nhận lớp, để tạo sự gần gũi và gắn kết giữa học sinh và giáo viên chủ nhiệm, bản thân sắp xếp nhiều thời gian cho học sinh được giới thiệu về mình, động viên khuyến khích các em chia sẻ với nhau về những sở thích, ước mơ tương lai cũng như mong muốn của mình với các em. Đây là hoạt động giúp cô trò hiểu nhau, đồng thời tạo một môi trường học tập thân thiện “Trường học thật sự trở thành ngôi nhà thứ hai của các em, các thầy cô giáo là những người thân trong gia đình". Đây cũng là một điều kiện rất quan trọng để phát triển khả năng giao tiếp của học sinh. Bởi học sinh không thể mạnh dạn, tự tin trong một môi trường mà giáo viên luôn gò bó và áp đặt. Khi tiếp xúc với học sinh, bao giờ giáo viên cũng nhìn học sinh bằng ánh mắt yêu thương, trìu mến, hỏi thăm chia sẻ động viên các em có hoàn cảnh khó khăn, tặng các em những món quà nhỏ như sách vở, bút,... cùng học, cùng chơi với học sinh để tìm hiểu những sở thích của các em. Giáo viên luôn đặt mình vào hoàn cảnh của học sinh để suy nghĩ đưa ra biện pháp 8 giáo dục phù hợp. Dần dần, học sinh sẽ coi giáo viên như người bạn, người chị... gần gũi thân mật của các em. Các em mạnh dạn nói lên những mơ ước nguyện vọng của mình, và kể cho thầy cô nghe về những chuyện “bí mật” của mình. Với học sinh trong lớp, giáo viên giáo dục các em có tấm lòng bao dung, yêu thương, đùm bọc lẫn nhau, qua nhiều hình thức: giúp bạn học yếu làm bài, giúp đỡ bạn có hoàn cảnh khó khăn... cuối tuần tổ chức cho các em bầu chọn, biểu dương những bạn tiêu biểu biết giúp đỡ bạn bè. Lúc đầu, có thể có một số em còn ích kỉ, không muốn chia sẻ với bạn bè. Khi có nhiều bạn được biểu dương khen ngợi trước lớp về ý thức giúp đỡ, yêu thương bạn bè thì các em ấy sẽ thay đổi, sống chan hòa cởi mở với bạn bè hơn. Giáo viên luôn tôn trọng học sinh và giáo dục học sinh tôn trọng lẫn nhau. Công việc của lớp giáo viên chủ nhiệm cần bàn bạc với học sinh để cùng nhau ra quyết định, lắng nghe ý kiến của các em làm cho học sinh thấy mình quan trọng đối với thầy cô và các bạn. Rèn cho các em thói quen biết chia sẻ, lắng nghe ý kiến của nhau để đạt mục tiêu giao tiếp. (Hình ảnh GV trò chuyện gần gũi cùng HS vào những giờ ra chơi) 9 Biện pháp 2. Vận dụng phối hợp các phương pháp dạy học, các hình thức tổ chức giờ dạy trên lớp phát huy tính tích cực của học sinh. Giáo viên cần tích cực thay đổi hình thức tổ chức dạy học trong giờ học bằng các phương pháp khác nhau như: Phương pháp hợp tác nhóm nhỏ, phương pháp trò chơi... tạo cơ hội cho học sinh chia sẻ, tìm kiếm sự trợ giúp từ bạn bè cũng như thầy cô. (Hình ảnh HS chơi trò chơi trong các tiết học) Thay đổi hình thức tổ chức trong các tiết học bằng hình thức học tập theo nhóm cộng tác. Qua từng tiết dạy, giáo viên hướng dẫn học sinh kĩ năng làm việc theo nhóm: biết cách phân công công việc, lắng nghe ý kiến người khác, tranh luận, biết chấp nhận đúng sai, thống nhất ý kiến, thực hiện đúng ý kiến đã thống nhất Đây là kĩ năng hết sức cần thiết khi các em trưởng thành, làm việc trong tập thể. 10 (Hình ảnh HS học tập nhóm cộng tác) Ngoài ra việc sử dụng ngữ liệu thiết thực là ngữ liệu vui, có hình thức sinh động hấp dẫn. Đối với học sinh lớp 1 việc giáo viên đọc các ngữ liệu vui mà các tiếng đều bắt đầu bằng một âm mới học có tác dụng tạo hứng thú rất hiệu quả cho học sinh, giúp các em nắm chắc các âm, vần đã học, ngữ liệu có thể sử dụng để củng cố. Khi đã nắm chắc kiến thức các em sẽ tự tin mạnh dạn, tự tin thực hiện được các yêu cầu của giáo viên. Ví dụ: Khi dạy Tiếng Việt lớp 1 tôi thường lựa chọn một câu đố vui nho nhỏ trước khi bắt đầu dạy bài vần “ông” cũng là một cách tạo tình huống thể hiện lợi ích học tập: “ Cầu gì không bắc ngang sông / không trèo qua suối lại chồng lên mây /Hiện lên giữa bụi mưa bay / giữa cầu nắng tỏa, đoán ngay cầu gì?” Sau khi học sinh đã giải được câu đố, giáo viên giải câu đó và giới thiệu vần mới . Biện pháp 3. Phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh trong mọi hoạt động nhằm tăng cường tính tự chủ cho học sinh trong quá trình giao tiếp- hợp tác. Ngay từ những ngày đầu tiên khi các em nhập học, tôi đã phát động các phong trào: "Nói lời hay làm việc tốt" qua cách ứng xử lễ phép như biết 11 đi thưa về trình, chào hỏi những người lớn tuổi, biết xin lỗi khi có khuyết điểm, mắc lỗi, cảm ơn khi được tặng quà, vui vẻ hòa nhã, vui chơi đoàn kết với bạn bè. Giáo viên luôn phải học cách lắng nghe và tìm hiểu nguyên nhân và dùng lời lẽ mềm mỏng bằng những tình cảm, cử chỉ yêu thương của mình khi yêu cầu điều gì đó với học sinh. Để rèn kĩ năng giao tiếp, hợp tác có hiệu quả bản thân còn vận dụng thông qua các hoạt động ngoài giờ học. Đó là qua các buổi ngoại khóa của trường, lớp. Ví dụ: Nhân ngày lễ Chào mừng ngày nhà giáo Việt Nam 20-11. Đội đã phát động phong trào thi văn nghệ giữa các chi đội trong toàn trường. Bản thân đã hướng dẫn các em cùng sưu tầm bài hát, múa. Qua hoạt động này rèn cho các em nhiều kĩ năng như: trình bày, trình diễn các em rất nhiệt tình, đoàn kết và hợp tác nhau rất tốt. (Hình ảnh HS tự tin múa trong ngày 20/11) 12 Ngoài ra, những buổi chào cờ, bản thân luôn khuyến khích các em tham gia vào các chủ điểm và xung phong trả lời những câu hỏi mà thầy (cô) Tổng phụ trách đưa ra. Luôn lắng nghe các nội dung, hoạt động cần làm trong tuần. Nhờ vậy các em mạnh dạn dần và thực hiện tốt các phong trào. (Hinh ảnh HS tự tin trình diễn và mạnh dạn trả lời câu hỏi qua tiết HS dưới cờ) Hoạt động tự quản trong giờ truy bài đầu giờ: Bản thân yêu cầu học sinh tự kiểm tra lẫn nhau trong tổ nhóm về mức độ hoàn thành nhiệm vụ học tập trước khi tới lớp, chia sẻ thông tin mình học được cùng với bạn bè (Hình ảnh HS kiếm tra hỗ trợ bạn trong giờ truy bài) 13 Tiết học sinh hoạt lớp: Trong tiết học sinh hoạt lớp, bản thân hướng dẫn, rèn luyện học sinh từng bước tự chủ và chủ động trong giờ sinh hoạt lớp. Giáo viên là người hướng dẫn học sinh xây dựng kịch bản, kế hoạch tổ chức các hoạt động, học sinh là người thực hiện, qua đó rèn cho các em năng lực tổ chức, tính tự chủ, kỹ năng thuyết trình, chia sẻ, giải quyết vấn đề vv Trong giờ sinh hoạt, bản thân tuyệt đối không làm thay học sinh, học sinh là người tự tổng kết phong trào hoạt động của lớp trong tuần, nhận xét kết quả đã đạt được và chưa đạt được, tuyên dương tổ nhóm, cá nhân làm tốt, nhắc nhở tổ nhóm, cá nhân chưa tốt, triển khai kế hoạch tuần tiếp theo. Bản thân chỉ quan sát, giúp đỡ các em và chỉ can thiệp khi cần thiết và cuối cùng là người nhận xét, đánh giá bổ sung hoạt động của học sinh. (Hình ảnh HS tự tin duy trì tiết SH lớp) 14 Biện pháp 4. Xây dựng lòng tin cho học sinh nơi chính mình Với học sinh mặc cảm về bản thân: Giáo viên động viên các em ấy bằng những việc làm, hành động tốt. Ví dụ: Em Tiên có nước da đen, thân hình bé nhỏ, hay bị các bạn trêu là dân châu Phi nên em rất buồn không dám tham gia vào hoạt động của lớp. Tôi giúp em thoát khỏi sự mặc cảm bằng cách cùng với học sinh trong lớp phát hiện ra vẻ đẹp trong phẩm chất của em: hiền lành, chăm chỉ, tốt bụng...khiến em rất vui và có quyền hãnh diện về bản thân trước bạn bè, em không còn mặc cảm về bản thân như trước nữa. Với em có hoàn cảnh khó khăn: Giáo viên nên kể những tấm gương vượt khó, giàu nghị lực cho các em noi theo và tổ chức cho học sinh trong lớp quan tâm giúp đỡ em đó. Với em nhút nhát: Tạo cơ hội cho các em trải nghiệm quá trình chiến thắng bản thân. Phân công cho các em tham gia vào Ban cán sự của lớp để hướng dẫn, phân công các bạn khác trong lớp. Các em được nói trước đám đông, từ đó loại bỏ được tâm lí sợ sệt, nhút nhát cho các em giúp các em giao tiếp và hợp tác tốt hơn. Biện pháp 5. Luôn luôn khích lệ, động viên học sinh Việc khích lệ, động viên học sinh là động lực thôi thúc học sinh tích cực phấn đấu, tự tin vào bản thân, tạo ra bầu không khí thân thiện trong lớp, ở đó các thành viên biết chia sẻ niềm vui biết chúc mừng những thành tựu của nhau (không còn tính ích kỉ, ganh tị với bạn). Trong mỗi giờ học, giáo viên dạy cho các em biết động viên, khích lệ tinh thần cho các bạn khác trong lớp. Nếu bạn nào trong lớp làm được điều tốt thì được các bạn chúc mừng bạn ấy bằng một tràng pháo tay thật giòn - các em rất thích điều này. 15 (Hình ảnh GV động viên khích lệ HS trong các tiết học) Ngoài ra trong các tiết học giáo viên đưa ra nhiều cơ hội để học sinh có dịp chúc mừng, khen ngợi bạn chẳng hạn một nhận xét đúng, nói một câu văn hay, với những học sinh không xuất sắc vẫn được chúc mừng khi bạn ấy đã nỗ lực hơn trước. (Hình ảnh HS động viên khích lệ bạn trong các tiết học) 16 Biện pháp 6. Phối hợp với phụ huynh cùng rèn tính mạnh dạn tự tin cho học sinh Việc phối hợp với cha mẹ học sinh tưởng chừng đơn giản nhưng ngược lại khá khó khăn. Bởi vì mỗi một phụ huynh là một chỉnh thể khác nhau, môi trường sống và làm việc khác nhau, nhận thức khác nhau, hoàn cảnh gia đình khác nhau, thu nhập kinh tế khác nhau .... nên việc phối hợp sẽ có những khó khăn nhất định. Nhưng tôi thiết nghĩ, nếu giáo viên toàn tâm toàn ý với học sinh để rèn cho con em họ tiến bộ thì họ sẽ phối hợp tốt với mình trong việc rèn học sinh. Có không ít phụ huynh khi gửi con đến trường yên tâm giao trọng trách giáo dục học sinh cho nhà trường mà quên rằng vai trò của cha mẹ là vô cùng quan trọng trong việc phối hợp với nhà trường giáo dục con bởi “Cha mẹ là những người thầy đầu tiên của các em”. Cha mẹ cần đi cùng với con suốt quãng đường đời mà những năm tháng tuổi thơ sẽ tạo nên một nền tảng vững chắc cho học sinh khi trưởng thành. Tôi luôn tiếp xúc phụ huynh với một thái độ tích cực thân thiện mạnh dạn trao đổi cụ thể với phụ huynh về tình hình học tập ở trường, nắm bắt kịp thời những thông tin về đặc điểm tâm lý tính cách của cá nhân học sinh, mời phụ huynh vào lớp làm quen với một số hình thứ tổ chức dạy học mới như: Học sinh ngồi học theo nhóm... Bên cạnh đó, chúng tôi cũng liên lạc thường xuyên với gia đình học sinh “Qua trao đổi trực tiếp, sổ liên lạc,, điện thoại” để tìm hiểu sinh hoạt của học sinh ở gia đình, thông tin cho cha mẹ biết tình hình của các em ở lớp, những thay đổi các em để kịp thời có biện pháp giáo dục phù hợp. Ngoài ra tôi cũng dành thời gian để đi thăm gia đình học sinh để tạo mối quan hệ gần gũi thân thiết với phụ huynh. Có như vậy thì biện pháp giáo dục học sinh sẽ hiệu quả hơn. 17 (Hình ảnh GV thăm gia đình HS) Giáo viên phối hợp phụ huynh học sinh để phụ phụ huynh cùng tham gia các hoạt động tập thể với các con, chính sự quan tâm của phụ huynh học sinh giúp các con có mạnh dạn, tự tin hơn, năng động hơn trong mọi hoạt động vui chơi cũng như trong học tập. Khi có người chỉ bảo, hướng dẫn chi tiết, tỉ mỉ các em sẽ không cảm thấy lúng túng trong mọi hoàn cảnh và có thể nắm bắt được các kĩ năng giao tiếp và hợp tác trong các trường hợp cụ thể. (Hình ảnh PHHS tham gia các hoạt động tập thể) 18 III. KẾT QUẢ VÀ ỨNG DỤNG 1. Kết quả Sau khi áp dụng các biện pháp trên trong việc giáo dục học sinh, các em lớp tôi chủ nhiệm tự tin, mạnh dạn lên rất nhiều và kết quả học tập, rèn luyện cũng được nâng cao. Bảng số liệu, biểu đồ so sánh kết quả trước và sau khi thực hiện biện pháp: Sau một thời gian áp dụng các biện pháp, kết quả thu được như sau: Thời Tốt Đạt Cần cố gắng điểm Sĩ số SL % SL % SL % Đầu năm 32 8 25 18 56,2 6 18,8 Cuối 32 18 56,2 14 43,8 0 0 HK I Qua bảng khảo sát trên, số học sinh chưa tự tin, mạnh dạn trong giao tiếp đã không còn, số học sinh tự tin, mạnh dạn giao tiếp và hợp tác đã tăng đáng kể. Sau khi áp dụng biện pháp ““Một số biện pháp phát triển năng lực giao tiếp và hợp tác cho học sinh lớp 1”. Tôi đã thu được kết quả khả quan. Trong buổi sinh hoạt chuyên môn tổ tôi đã mạnh dạn trình bày biện pháp trước tổ đã được đồng nghiệp đánh giá cao và vận dụng vào khối 1 của trường trong học kỳ 2 năm học 2022-2023. Đến cuối năm tôi thu được kết quả của khối 1 như sau: Thời Tốt Đạt Cần cố gắng điểm Sĩ số SL % SL % SL % Cuối 97 84 86,6 13 13,4 0 0 HK II Nhìn vào bảng số liệu trên, ta thấy số học sinh còn rụt rè không dám thể hiện của khối đã không còn. Số học sinh mạn dạn, tự tin trong giao tiếp hợp 19 tác đã tăng lên. Tôi sẽ tiếp tục áp dụng và rèn luyện trong các năm học tiếp theo để không có học sinh rụt rè, nhút nhát. 2. Ứng dụng - Đã được áp dụng ở học kỳ lớp 1B và ở học kỳ 2 của toàn khối 1 tại đơn vị tôi công tác năm học 2022-2023. - Biện pháp tiếp tục được áp dụng ở khối 1 tại đơn vị tôi công tác trong năm học 2023-2024 và có thể lan rộng tới tất cả các trường Tiểu học trong toàn tỉnh.
File đính kèm:
mot_so_bien_phap_phat_trien_nang_luc_giao_tiep_va_hop_tac_ch.pdf



