Phát triển năng lực đọc cho học sinh lớp 2 theo Chương trình giáo dục phổ thông 2018
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Phát triển năng lực đọc cho học sinh lớp 2 theo Chương trình giáo dục phổ thông 2018, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút TẢI VỀ ở trên
UBND HUYỆN YÊN THẾ TRƢỜNG TIỂU HỌC HỒNG KỲ BÁO CÁO BIỆN PHÁP THAM GIA HỘI THI GIÁO VIÊN DẠY GIỎI CẤP HUYỆN CHU KỲ 2024-2026 Tên biện pháp: "Phát triển năng lực đọc cho học sinh lớp 2 theo Chương trình giáo dục phổ thông 2018" Họ và tên: Vũ Hà Giang Môn giảng dạy: Văn hóa Trình độ chuyên môn: Cao đẳng Đơn vị công tác: Trƣờng Tiểu học Hồng Kỳ. TÁC GIẢ XÁC NHẬN CỦA NHÀ TRƢỜNG (Kí, ghi rõ họ tên) ( Kí tên, đóng dấu) Vũ Hà Giang Nguyễn Đức Hải Hồng Kỳ, tháng 4 năm 2025 KẾT QUẢ ĐÁNH GIÁ NHẬN XÉT CỦA NHÀ TRƢỜNG Biện pháp: "Phát triển năng lực đọc cho học sinh lớp 2 theo Chương trình giáo dục phổ thông 2018" có tính mới, có hiệu quả cao. THỦ TRƢỞNG ĐƠN VỊ (ký và đóng dấu) Nguyễn Đức Hải ĐÁNH GIÁ, NHẬN XÉT, CỦA BAN GIÁM KHẢO . GIÁM KHẢO (ký, ghi rõ họ tên) MỤC LỤC Mục Nội dung Trang I PHẦN MỞ ĐẦU 1 1 Lý do chọn biện pháp 1 2 Mục đích nghiên cứu 2 3 Nhiệm vụ nghiên cứu 2 4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 2 5 Phương pháp nghiên cứu 3 II NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 3 1 Cơ sở lý luận 3 2 Cơ sở thực tiễn 4 2.1 Thực trạng của vấn đề nghiên cứu 4 2.2 Kết quả, hạn chế bất cập và nguyên nhân 4 3 Các biện pháp 5 Biện pháp 1: Nâng cao năng lực đọc từ việc sửa lỗi 5 3.1 phát âm, luyện đọc nhanh và làm chủ tia mắt 3.2 Biện pháp 2: Luyện đọc diễn cảm 9 Biện pháp 3: Linh hoạt trong các tiết tập đọc và tạo 12 3.3 hứng thú cho học sinh 3.4 Biện pháp 4: Tổ chức đọc thầm cho học sinh 15 III KẾT QUẢ VÀ ỨNG DỤNG 17 1 Kết quả 17 2 Ứng dụng 18 IV KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 18 1 Kết luận 18 1.1 Ý nghĩa của biện pháp 18 1.2 Bài học kinh nghiệm 19 2 Kiến nghị 19 2.1 Đối với nhà trường 19 2.2 Đối với Phòng GDĐT 19 3 Cam kết 20 4 Tài liệu tham khảo 20 1 I. PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn biện pháp Phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu, là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, là điều kiện để phát huy nguồn lực con người. Công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước phụ thuộc rất lớn vào nguồn nhân lực mà nguồn nhân lực lại do ngành chúng ta đào tạo. Một trong những yếu tố quan trọng quyết định sự thành công của sự nghiệp đào tạo thế hệ trẻ chính là đội ngũ giáo viên. Mỗi giáo viên phải tăng cường cập nhật hóa, đổi mới phương pháp giáo dục sao cho phù hợp từng môn học, từng bài học, từng đối tượng học sinh thì mới nâng cao được chất lượng giáo dục đảm bảo theo yêu cầu của Đảng và Nhà nước đề ra. Vậy trong quá trình dạy học, làm thế nào để phát huy tối đa sự tự giác, tích cực chủ động, linh hoạt, sáng tạo của học sinh trong tư duy và trong cuộc sống đời thường. Muốn làm được điều này, người giáo viên trên bục giảng phải biết tận dụng khả năng vốn có của bản thân, biết phát huy những kĩ năng sư phạm, biết luôn trau dồi, học hỏi và đặc biệt phải biết tận dụng, chắt lọc những tinh hoa văn hóa của dân tộc vào từng môn học, từng bài học nhằm hướng dẫn học sinh tiếp thu những tri thức, những tinh hoa văn hóa của dân tộc vào giao tiếp, ứng xử cộng đồng sao cho phù hợp với các chuẩn mực đạo đức, chuẩn mực văn hóa để đáp ứng vào việc phát triển khoa học kỹ thuật phục vụ đời sống. Tiếng Việt là một trong những môn học bắt buộc trong chương trình Phổ thông 2018 . Môn Tiếng Việt nhằm hình thành và phát triển ở HS kĩ năng giao tiếp, kĩ năng sử dụng tiếng mẹ đẻ (nghe, nói, đọc, viết) nhằm từng bước giúp các em làm chủ dần công cụ ngôn ngữ để học tập, để rèn luyện khả năng giao tiếp một cách đúng đắn, mạch lạc, tự tin trong các môi trường xã hội thuộc phạm vi hoạt động của lứa tuổi và để tiếp tục học lên cấp học cao hơn. 2 Đọc đúng giúp học sinh có khả năng hiểu biết, tiếp thu được nền văn minh của loài người, nhờ biết đọc, các em mới có điều kiện tiếp thu các môn học khác. Thông qua môn Tập đọc, học sinh có công cụ học tập và giao tiếp, không những giúp học sinh phát triển tư duy mà còn bồi dưỡng cho các em tình cảm tốt đẹp, góp phần phát triển nhân cách toàn diện. Trên cơ sở đọc tốt, học sinh mới có thể nói tốt, viết tốt, thực hành tốt các hoạt động của các môn học khác, góp phần phát triển các năng lực, phẩm chất của các em. Trong năm học vừa qua, tôi được trực tiếp giảng dạy học sinh lớp 2, đối tượng học sinh mới được làm quen với loại văn bản giản đơn ở giai đoạn học kỳ II của lớp 1, các em còn gặp nhiều khó khăn về đọc, kĩ thuật đọc chưa tốt, bản thân tôi trăn trở, suy nghĩ và muốn làm một vấn đề gì đó góp phần vào việc giúp học sinh đọc tốt. Chính vì vậy tôi đã tiến hành thực nghiệm để tìm biện pháp "Phát triển năng lực đọc cho học sinh lớp 2 theo Chương trình giáo dục phổ thông 2018". Tôi mong rằng những biện pháp của tôi sẽ góp phần giúp học sinh đọc đúng, đọc diễn cảm, nâng cao chất lượng dạy và học môn Tiếng Việt ở Tiểu học. 2. Mục đích nghiên cứu Tôi nghiên cứu biện pháp này nhằm mục đích: - Tích lũy thêm cho bản thân những kiến thức và kinh nghiệm và tìm ra phương pháp dạy học tốt nhất, hiệu quả nhất cho phân môn Tập đọc góp phần rèn kĩ năng đọc cho học sinh nhằm nâng cao chất lượng dạy và học. - Giúp học sinh đọc đúng, đọc hay, đọc thành thạo các văn bản. - Góp phần đổi mới phương pháp dạy học. 3. Nhiệm vụ nghiên cứu - Nghiên cứu một số vấn đề lý luận liên quan đến biện pháp nâng cao chất lượng đọc cho học sinh. - Tìm hiểu thực trạng trong việc dạy đọc cho học sinh lớp 2 theo chương trình mới. - Đề xuất một số biện pháp nâng cao chất lượng đọc cho học sinh lớp 2. 3 4. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu - Đối tượng nghiên cứu: Phát triển năng lực đọc cho học sinh lớp 2 theo. chương trình giáo dục phổ thông mới 2018. - Phạm vi nghiên cứu: Học sinh lớp 2 - Thời gian nghiên cứu : Năm học 2024 - 2025 5. Phƣơng pháp nghiên cứu Nghiên cứu biện pháp này tôi đã sử dụng một số phương pháp sau : - Phương pháp sưu tầm, nghiên cứu tài liệu - Phương pháp quan sát - Phương pháp điều tra khảo sát thực tế, thu thập thông tin - Phương pháp tổng kết kinh nghiệm II. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 1. Cơ sở lý luận Dạy học đọc ở Tiểu học đóng vai trò hết sức quan trọng, đặc biệt là ở lớp 2 – giai đoạn học sinh chuyển từ học đọc sang đọc để học. Việc đọc giúp các em tiếp cận ngôn ngữ, phát triển khả năng giao tiếp, hỗ trợ việc học các môn học khác và hình thành nền tảng cho việc tự học suốt đời. Đọc không chỉ là một công cụ học tập mà còn khơi gợi hứng thú, tạo động lực học tập và phát triển tình yêu đối với sách và ngôn ngữ. Ở lớp 2, việc dạy đọc cần được tổ chức một cách có kế hoạch và hệ thống, nhằm phát triển các kỹ năng như đọc thành tiếng, đọc thầm hiểu nội dung, nghe và nói. Giáo viên cần nắm vững quy trình đọc, hiểu rõ bản chất của kỹ năng đọc cũng như đặc điểm tâm sinh lý của học sinh ở độ tuổi này. Đọc là một hoạt động trí tuệ phức tạp, đòi hỏi sự phối hợp của nhiều yếu tố: tiếp nhận chữ viết bằng mắt, hoạt động của cơ quan phát âm, cơ quan thính giác và khả năng hiểu nội dung. Mục tiêu cuối cùng của việc dạy đọc là giúp học sinh đạt đến sự tổng hợp giữa các kỹ năng riêng lẻ trong quá trình đọc – điều này sẽ phân biệt giữa người mới biết đọc và người đọc thành thạo. Học sinh càng biết vận dụng linh 4 hoạt các kỹ năng này thì việc đọc càng trở nên chính xác, mạch lạc và có biểu cảm. Thông qua việc phát triển kỹ năng đọc, học sinh lớp 2 không chỉ được trau dồi vốn từ tiếng Việt và hiểu biết về văn học mà còn mở rộng tư duy, hiểu thêm về cuộc sống xung quanh. Những câu chuyện, bài thơ, bài văn hấp dẫn trong sách giáo khoa giúp hình thành tình yêu với Tiếng Việt, phát triển năng lực cảm thụ văn bản và nuôi dưỡng tâm hồn trong sáng, nhân ái, yêu cái đẹp và có hứng thú với việc đọc sách. 2. Cơ sở thực tiễn 2.1. Thực trạng của học sinh trong quá trình dạy đọc ở trường, ở nhà * Thuận lợi: Năm học 2024 -2025 tôi được nhà trường phân công giảng dạy lớp 2A. Tổng số học sinh là 34 em, các em có tinh thần học hỏi lẫn nhau, chia sẻ giúp đỡ bạn khi gặp khó khăn trong học tập. Giáo viên tiểu họ được đào tạo bài bản, có khả năng áp dụng nhiều phương pháp dạy học sinh động như kể chuyện, đọc diễn cảm, trò chơi ngôn ngữ... Nhiều phụ huynh hiện nay ý thức được tầm quan trọng của việc rèn kỹ năng đọc, dành thời gian đọc cùng con mỗi ngày. Với sự phát triển của công nghệ, trẻ có thể tiếp cận nhiều tài liệu đọc bổ ích qua sách giấy, sách điện tử, truyện tranh, app đọc sách * Khó khăn: Qua thực dạy, tôi thấy rằng học sinh đọc chậm, vừa nhẩm vừa đọc, phát âm chưa chuẩn, đọc chưa trôi chảy, chưa lưu loát, chưa đảm bảo tốc độ đọc đối với lớp 2. Trong đó, việc phát âm chưa chuẩn của một số từ ngữ có âm, vần, thanh dễ phát âm sai là tình trạng phổ biến nhất. Phần lớn các em phát âm chưa chuẩn do phương ngữ: ví dụ nhầm lẫn giữa vần in-inh, ân anh, ong ông , nhầm lẫn giữa âm s,x, phát âm sai dấu hỏi, ngã. Việc ngắt, nghỉ chưa phù hợp với các dấu câu. Từ việc đọc chưa đúng, chưa chuẩn dẫn đến việc đọc diễn cảm, đọc hiểu còn hạn chế. Khi đọc, khả năng chú ý của học sinh chưa cao nên chất lượng đọc còn thấp. Đó là những tình trạng tồn 5 tại trong lớp của tôi, khiến tôi luôn băn khoăn, trăn trở và tìm biện pháp khắc phục. 2.2. Kết quả, hạn chế bất cập và nguyên nhân Qua khảo sát đầu năm và thực dạy tôi đã phân loại các đối tượng học sinh như sau: Lớp Sĩ Đọc Đọc sai Đọc sai Đọc chưa Đọc chưa số ngọng âm đầu, vần dấu thanh trôi chảy, diễn cảm lưu loát 2A 34 TS % TS % TS % TS % TS % 6 17,6 7 20,5 4 11,7 13 38,2 25 73,5 Có nhiều nguyên nhân dẫn đến học sinh đọc chưa tốt như: Các em chưa nỗ lực trong việc đọc; gia đình chưa có điều kiện quan tâm, Giáo viên chưa quan tâm đến hết các đối tượng học sinh, chưa đưa ra được những giải pháp cụ thể để giúp đỡ học sinh. Hiện nay chúng ta đang thực hiện chương trình GDPT 2018 có nhiều đổi mới về nội dung phương pháp dạy học, vì thế mà đòi hỏi người giáo viên cần phải thay đổi tư duy dạy học theo hướng phát triển năng lực. Tuy nhiên, ở một số thầy cô vẫn còn tư duy lối mòn, đang dạy theo phương pháp cũ bởi vậy mà không phát huy được tính tích cực, sáng tạo của học sinh. Xuất phát từ tình hình thực tế đó, tôi nghĩ: Cần phải có biện pháp cụ thể để giúp học sinh nâng cao chất lượng đọc tốt, HS có đọc tốt thì sẽ hình thành được các kĩ năng ,năng lực, phẩm chất cho các em. 3. Các biện pháp Xuất phát từ những nguyên nhân và yêu cầu trên, bản thân tôi nghiên cứu và tìm ra các biện pháp và tổ chức thực hiện cụ thể như sau: 3.1. Biện pháp 1: Nâng cao năng lực đọc từ việc sửa lỗi phát âm , luyện đọc nhanh và làm chủ tia mắt. 3.1.1 Luyện cho học sinh làm chủ tia mắt khi đọc. 6 Trước hết phải luyện cho học sinh không bỏ sót tiếng, không thêm tiếng, không lạc dòng. Cuối lớp 1 học sinh phải đọc trơn tiếng, đến lớp 2 học sinh hoàn toàn phải đọc trơn nhưng các em vẫn mắc lỗi, bỏ tiếng, thêm tiếng, lạc dòng. Các em chưa làm chủ được tia mắt. Học sinh phải dùng que chỉ hoặc đặt thước dưới từng dòng để đọc. Nhưng không thể cứ dùng cách đó mãi được, như vậy học sinh sẽ đọc như đếm từng chữ một, mỗi tiếng sẽ có trọng âm như khi đọc chính tả, như vậy các em đọc chưa trơn từ, chưa trơn cụm từ, chưa đọc trơn câu được. Để luyện đọc trơn, giáo viên đọc mẫu rồi cho học sinh đọc từ ngữ, câu; đọc nhóm lớp. Giáo viên hướng dẫn học sinh theo các bước: Bước 1 : Nhìn trước đọc sau . Bước 2 : Tập ngắt nghỉ dựa vào dấu câu . Bước 3 : Kết hợp ánh mắt và giọng đọc . Giáo viên có thể sử dụng trò chơi để luyện tập cho học sinh , ví dụ : Trò chơi đọc nối tiếp tia mắt Học sinh tham gia chơi trò chơi đọc nối tiếp tia mắt 7 Sử dụng công nghệ hỗ trợ: Ngoài việc dùng que chỉ hoặc thước để làm chủ tia mắt, có thể ứng dụng các phần mềm hoặc ứng dụng AI giúp học sinh theo dõi và điều chỉnh sự di chuyển của mắt khi đọc. Ví dụ: Các app luyện đọc giúp học sinh theo dõi tốc độ đọc, nhận diện và phân tích sự chính xác khi mắt di chuyển qua các dòng văn bản. Tạo không gian học đọc sinh động: Tổ chức lớp học với ánh sáng phù hợp, có thể sử dụng đèn chiếu sáng đặc biệt giúp học sinh dễ dàng theo dõi văn bản, cải thiện sự tập trung vào từng từ ngữ khi đọc. Không gian lớp học phù hợp với giờ học đọc 3.1.2 Luyện đọc chính âm (phụ âm đầu, vần, thanh) Một số trường hợp hay ngọng âm đầu: “ nàm việc” “ló lói” “phẻ phắn” “cá gô”.... mà phải đọc “ làm việc” “nó nói” “cá rô”... Học sinh phải có ý thức để không đọc “iu tiên” “mua riệu” “chấm múi”....; ngạc mũi” “ luông luông”...; “thịt mớ”, “mớ màng”, phải đọc là mỡ màng, thịt mỡ, ngạt mũi, khỏe khoắn, ưu tiên, mua rượu. Tôi phối hợp nhiều biện pháp cùng một lúc. Luyện tập theo mẫu theo giáo viên, luyện âm đúng theo bạn. 8 Đối tượng học sinh đọc ngọng, đọc sai phụ âm, đọc chậm Tâm lý các em là rất ngại đọc, thường mặc cảm, tự ti vì chỉ sợ cô và các bạn chê cười, hay mặc cảm bản thân. Ngoài bài đọc trong SGK tôi hay lựa chọn những bài, đoạn văn ngắn, hoặc câu, từ ngữ có chứa nhiều âm hay dễ lẫn để các em được luyện tập nhiều lần cả ở lớp, ở nhà như: + Nao nao, nao núng; nung nấu, nóng nực: núng na núng nính, nũng na nũng nịu, nằn nà nằn nì, nức nở, nồi niêu, nao núng + Lạ lùng, lạc lối, len lỏi, lấm lem, lén lút, lũ lượt + Kết hợp N trước L sau: Nản lòng, nai lưng, nặng lòng, nao lòng, nói nặng lời, nói lanh lảnh, nói lật lọng - Hoặc những đoạn hội thoại ngắn: Nam: Liên này! Liên đã thăm quan nước Lào lần nào chưa? Liên: Liên đã đến nước Lào một lần, nhưng lâu lắm rồi, lúc Liên còn thiếu niên Nam: Nam chưa một lần đến nước Lào, chắc nước Lào có nhiều nơi danh lam thắng cảnh đẹp lắm - Đối với học sinh đọc lẫn thanh hỏi và thanh ngã tôi cho HS thực hiện qua các bước sau: + Đầu tiên chắp các tiếng cùng thanh cùng vần với tên gọi thanh, ví dụ: Hỏi: sỏi, thỏi, gỏi, Ngã: bã, đã, giã, ngã: ngõ, khẽ, cũ, .... + Tiếp theo chắp tiếng cùng thanh, cùng loại âm tiết với tên gọi thanh: Ví dụ: Hỏi: thảo, phải, kẻo,.... - Cuối cùng, chắp bất kì âm đầu, các vần với thanh. Cách rèn trường hợp này phải theo thời gian kiên trì qua cá giờ học. 9 Em Nguyệt đang thực hiện các bước để sửa lỗi sai thanh hỏi và thanh ngã Phát triển âm thanh qua phương tiện trực quan: Dùng video, âm thanh ghi sẵn từ các thầy cô hoặc các chuyên gia phát âm để học sinh có thể nghe và đối chiếu với cách mình phát âm, từ đó tự điều chỉnh được âm đúng. 3.1.3. Luyện đọc nhanh (còn gọi là đọc lưu loát, trôi chảy) Hướng dẫn cho HS làm chủ tốc độ đọc bằng cách đọc mẫu, hoặc giọng đọc của AI, để học sinh đọc theo tốc độ đã định. GV điều chỉnh tốc độ đọc bằng các “đọc nhanh hơn”, “đọc chậm lại”. Giai đoạn đầu GV phải đọc theo học sinh để giữ nhịp đọc; luôn luôn đảm bảo tốc độ theo giai đoạn học tập của HS. Thực hành theo nhóm và thi đua đọc: Tạo cơ hội cho học sinh tham gia vào các cuộc thi đọc nhanh trong lớp, thi đua giữa các nhóm, tạo không khí vui vẻ, kích thích các em luyện tập hàng ngày. Đồng thời, giáo viên có thể giúp các em cải thiện từng kỹ năng qua các cuộc thi đọc theo chủ đề khác nhau. 10 Các em lên thi đọc bài theo nhóm bài Chuyện bốn mùa (Ảnh cắt từ tiết dạy) 3.2. Biện pháp 2: Luyện đọc diễn cảm Khi học sinh đã đọc trơn tốt thì việc đọc diễn cảm là bước đọc nâng cao hơn. Từ việc hiểu bài, hiểu ý đồ của tác giả, tôi thường cho học sinh phát hiện ra giọng điệu chung của bài, về thơ thì cho các em chú ý đến nhịp điệu của ngôn ngữ thơ ca. Ví dụ bài “Bồ câu tung cánh” (TV 2 – Cánh Diều,Tập 2 - trang 26). Giọng điệu chung sẽ là giọng nhẹ nhàng, chậm rãi, thể hiện sự dịu dàng, ngây thơ như tâm hồn trẻ thơ đang ngắm nhìn chim bồ câu. Có thể nhấn giọng ở những từ nêu hình ảnh đẹp hoặc sự ngạc nhiên, thích thú. Hoặc bài thơ “Mùa lúa chín” (TV 2 – Cánh Diều,Tập 2 - trang 31). Nhịp điệu bài thơ dịu dàng , êm ả , vui tươi. Khi luyện tập giáo viên chỉ cần hướng dẫn học sinh chỉ ra chỗ khó đọc, những điểm nút trong bài, đòi hỏi học sinh phải hiểu được mới tìm cách thể hiện điều đó trong giọng đọc. Trong quá trình đọc nhóm học sinh phải thảo luận nhận xét về giọng đọc giải thích vì sao đọc như thế là hay, là chưa hay, chỗ nào trong cách đọc của thầy giáo, cô giáo, của bạn làm mình thích nhất? Giáo viên luôn tinh tế, 11 phát hiện sự khác nhau trong thế đối lập học sinh để các em nhận ra cách đọc đúng, chưa đúng, hay hoặc chưa hay. Em Châu và em Đức chia sẻ nhóm đôi về giọng đọc của bạn Khuyến khích đọc theo nhịp điệu âm nhạc: Học sinh có thể luyện đọc diễn cảm qua các bài hát, bài thơ có nhịp điệu. Điều này giúp các em hiểu rõ hơn về nhịp điệu của ngôn ngữ, từ đó dễ dàng áp dụng khi đọc các văn bản khác. Phân tích giọng đọc qua video mẫu: Giáo viên có thể chiếu các đoạn video mẫu với giọng đọc diễn cảm để học sinh nhận diện các yếu tố như nhấn mạnh từ, sự thay đổi của tông giọng, hoặc biểu cảm khuôn mặt khi đọc. Học sinh sẽ thử nghiệm và điều chỉnh theo những gì học được từ video. 12 Ảnh cắt từ video tiết dạy bài “ Mùa lúa chín” (SGK Tiếng Việt 2 - Tập 2 – trang 31) . Học sinh đang xem video Ảnh cắt từ video tiết dạy bài “ Mùa lúa chín” (SGK Tiếng Việt 2 - Tập 2 – trang 31) . Học sinh đọc diễn cảm theo. 3.3. Biện pháp 3: Linh hoạt trong các tiết tập đọc và tạo hứng thú cho học sinh. 13 3.3.1. Linh hoạt trong các tiết tập đọc Giờ đọc của học sinh để tránh nặng nề và nhàm chán tôi đã linh hoạt từ khâu thiết kế bài học. Thay cho việc bài nào cũng có một kiểu các bước thông thường. Tôi thiết kế nhiều phương án khác nhau, hình thức khác nhau trong một tiết học. Có thể biến giờ học hoặc một hoạt động học thành cuộc thi: Ví dụ Thi đọc cùng AI. Phối hợp với phụ huynh học sinh luyện đọc ở nhà ghi âm lại bài đọc hay nhất đem gửi cô giáo mở ra cho cả lớp cùng nghe. Trong giờ học nếu ở nhà học sinh đọc trước ở nhà, đọc tốt rồi, Lên lớp tôi có thể điều chỉnh nâng cao yêu cầu hơn đề dạy. Ngược lại Nếu Yêu cần cần đạt đặt ra là Đọc được diễn cảm, nhưng học sinh lại chưa đọc được trôi chảy, thì tôi sẽ tập trung sâu hơn về đọc từ, câu để các em đảm bảo đọc rõ ràng, lưu loát mới chuyển yêu cầu đọc nâng cao sang bài sau. 3.3.2 Gây hứng thú cho học sinh trong giờ học Muốn nâng cao chất lượng đọc tốt cho học sinh thì việc gây hứng thú trong tiết học tập đọc là rất quan trọng. Nhất là đối với học sinh đọc Tiểu học, tôi thường kích thích cho các em ham đọc, ham học, phải làm cho các em thấy tiết học không gò bó hoặc theo khuôn mẫu nào, các em được tâm sự, được bộc lộ mình, được nghe, được học hỏi. Tôi đã vận dụng nhiều phương pháp và hình thức dạy học linh hoạt tạo hứng thú trong giờ học như sau: Phương pháp trực quan, ứng dụng công nghệ thông tin ( công nghệ AI) kết hợp phương pháp luyện tập theo mẫu. Ví dụ: Khi dạy bài: Đàn gà mới nở (SGK Tiếng Việt Tập 2, trang 4 sách Cánh Diều) 14 Các em học sinh chăm chú quan sát video, hình ảnh trong các tiết học với gương mặt tươi vui thể hiện sự tò mò, thích thú đối với bài học. Ví dụ bài “Đàn gà mới nở” (SGK TV2, tập 2 – trang 4, Cánh diều) - Giáo viên hỏi: Quan sát video và bức tranh em thấy gì ? - Học sinh trả lời: Em quan sát được đàn gà . - Giáo viên giới thiệu bài: Để biết được đàn gà trong bài thơ thế nào, chúng ta tìm hiểu bài “Đàn gà mới nở”. Tôi giới thiệu bài và hướng dẫn học sinh giải nghĩa từ khó bằng tranh, video ngắn (Tạo bằng AI) và trình chiếu bằng bài giảng điện tử. Qua đó sẽ khơi gợi cho các em sự chú ý và tò mò muốn đọc để tìm hiểu bài. Phương pháp hỏi đáp: Phương pháp này được sử dụng nhiều trong phần tìm hiểu bài. Với phương pháp này tôi cho cơ hội để các em được tự mình đặt ra câu hỏi để chia sẻ với các bạn. Các câu hỏi Tại sao? Vì sao?...và từ đó sẽ giúp các em khắc sâu được nội dung của bài. 15 Em Nhi và em Quỳnh chia sẻ về nội dung bài “Cây xanh với con người” Quỳnh : Theo bạn nếu không có cây xanh con người sẽ ra sao ? Nhi.: Bị ô nhiễm không khí, gặp nhiều thiên tai - Tổ chức học theo tổ - nhóm, theo cặp - Đầu năm, sau một tuần thực dạy, tôi đã tiến hành phân học sinh trong lớp theo tổ - nhóm hoặc phân “đôi bạn cùng tiến” để các em có thể hướng dẫn, giúp đỡ lẫn nhau trong học tập. Bạn Nam giúp đỡ bạn Huy luyện đọc (Ảnh cắt từ tiết học) 16 Phương pháp này giúp các em phát huy tinh thần tự giác, tích cực học tập, phát hiện ra những lỗi sai của nhau rồi tự trao đổi để tìm ra cách đọc đúng nhất, khi đó các em sẽ khắc sâu những kiến thức mới lĩnh hội được, đúng như tục ngữ có câu “Học thầy không tày học bạn”. Ngoài ra, trong các giờ ra chơi tôi thường động viên, khuyến khích các em đọc các mẩu chuyện, các bài thơ hay. Từ đó sẽ giúp các em rèn luyện thêm kĩ năng đọc. Các em tham gia đọc truyện trong giờ ra chơi Từ việc vận dụng linh hoạt những phương pháp dạy học như vậy nên thu hút được sự say mê, tích cực, tự giác học tập của học sinh trong lớp. Đó là một thành công bước đầu trong công tác giảng dạy của tôi. Dựa trên nền tảng này, tôi tiếp tục phát huy tính tích cực, tự giác học tập của học sinh để nắm bắt được sự phản hồi từ phía học sinh xem các em tiếp thu bài đến đâu, lỗ hổng kiến thức ở chỗ nào. Khi đó, tôi sẽ nhanh chóng có biện pháp giải quyết một cách triệt để nhất cho từng đối tượng học sinh trong lớp. 3.4. Biện pháp 4: Tổ chức dạy đọc thầm cho học sinh Kĩ năng đọc thầm là một trong những kĩ năng mang lại rất nhiều hiệu quả học sinh. Đọc thầm có ưu thế hơn hẳn so với đọc thành tiếng từ 1,5- 2 17 lần. Có ưu điểm để tiếp nhận, thông hiểu nội dung văn bản văn bản. Các bước dạy đọc thầm: - Chuẩn bị cho việc đọc thầm: Cũng như khi ngồi đọc thành tiếng, tư thế ngồi đọc thầm phải ngay ngắn, khoảng cách giữa sách và mắt từ 30cm đến 35cm. - Tổ chức quá trình đọc thầm: Kĩ năng đọc thầm phải được chuyển từ ngoài vào trong, từ đọc to đến đọc nhỏ đến đọc mấp máy môi không thành tiếng và đọc hoàn toàn mấp máy môi không đọc thành tiếng (đọc thầm). Trong năm học 2024 - 2025 tôi đã áp dụng thành công kĩ năng luyện đọc thầm cho học sinh. Phần lớn các em đều được đọc bài, nếu như ở phần luyện đọc thành tiếng cô giáo chỉ mời được 2 – 3 bạn đứng lên đọc bài thì ở kĩ năng đọc thầm 100% các em đề được học, được đọc. Tích hợp bài đọc thầm vào các hoạt động thực tế: Để giúp học sinh phát triển kỹ năng đọc thầm, giáo viên có thể tổ chức các hoạt động như "đọc trong im lặng trong lớp học" với mục đích phát triển khả năng đọc thầm hiệu quả, giúp các em có thể đọc thầm trong các tình huống học tập khác nhau, từ đó tăng khả năng tự học. Ứng dụng phương pháp "mindfulness" trong đọc thầm: Để học sinh thực hành kỹ năng đọc thầm một cách sâu sắc hơn, giáo viên có thể áp dụng các phương pháp thiền nhẹ nhàng (mindfulness) trước khi đọc. Học sinh sẽ tập trung vào từng từ ngữ, giảm bớt sự phân tâm từ môi trường xung quanh, giúp tăng cường khả năng ghi nhớ và hiểu nội dung văn bản. Ví dụ : Bài Chim sơn ca và bông cúc trắng (SGK TV 2, tập 2 trang 49) - Học sinh đọc thầm đoạn văn và thảo luận nhóm đôi để trả lời câu hỏi “Vì sao chim sơn ca không cất tiếng hát ?” “Bông cúc làm gì để giúp sơn ca?” - Giáo viên gọi một số cặp trình bày.
File đính kèm:
phat_trien_nang_luc_doc_cho_hoc_sinh_lop_2_theo_chuong_trinh.pdf



