Một số biện pháp xây dựng lớp học hạnh phúc cho học sinh lớp 4 ở trường tiểu học
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Một số biện pháp xây dựng lớp học hạnh phúc cho học sinh lớp 4 ở trường tiểu học, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút TẢI VỀ ở trên
MỤC LỤC TRANG I. PHẦN MỞ ĐẦU Trang 2 1. Lí do chọn đề tài Trang 3 2. Mục đích nghiên cứu Trang 3 3. Nhiệm vụ nghiên cứu Trang 3 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Trang 4 5. Phương pháp nghiên cứu Trang 4 II. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU Trang 5 1. Cơ sở lý luận Trang 5 2. Cơ sở thực tiễn Trang 7 2.1. Phân tích, đánh giá thực trạng nội dung của đề tài Trang 7 2.2. Kết quả đạt được, hạn chế, bất cập và nguyên nhân Trang 10 3. Các biện pháp Trang 12 3.1. Biện pháp 1: Giáo viên thay đổi bản thân, kiến tạo hạnh phúc. Trang 12 3.2. Biện pháp 2: Tiết học hạnh phúc Trang 14 3.3. Biện pháp 3: Tăng cường các hoạt động ngoại khóa, hoạt Trang 20 động trải nghiệm sáng tạo cho học sinh. 3.4. Biện pháp 4: Sử dụng phương pháp kỉ luật tích cực, nói Trang 23 không với xâm phạm thân thể và xúc phạm nhân phẩm học sinh. 3.5 Giải pháp 5: Sử dụng biện pháp khen thưởng đúng, đủ đảm Trang 25 bảo công bằng giữa các học sinh. 3.6 Giải pháp: Phối hợp chặt chẽ với gia đình phụ huynh học Trang 28 sinh trong việc giáo dục học sinh. III. KẾT QUẢ VÀ ỨNG DỤNG Trang 31 1. Kết quả khi thực hiện biện pháp Trang 32 2. Ứng dụng Trang 33 IV. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ Trang 34 Tài liệu tham khảo Trang 35 2 I. PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Bậc học tiểu học là bậc học nền tảng có vai trò hết sức quan trọng trong việc phát triển tình cảm, trí tuệ, thẩm mĩ và nhân cách cho học sinh. Sinh thời Bác Hồ đã nói “Trẻ em là tương lai của đất nước” một đứa trẻ hạnh phúc tạo nên một xã hội hạnh phúc, một đất nước hạnh phúc. Như chúng ta đã biết, với sự phát triển của xã hội, sự đổi mới của đất nước đã kéo theo mặt trái như: các tệ nạn xã hội, sự suy giảm về đạo đức, thiếu lương tâm, trách nhiệm; ý thức về bảo vệ môi trường của cộng đồng... Ông bà ta thường nói “Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng”, thể hiện môi trường có vai trò quyết định rất lớn đến tính cách và con người. Môi trường học tập tốt rất quan trọng và cần thiết đối với sự phát triển toàn diện của trẻ nhỏ. Để “Mỗi ngày đến trường là một ngày vui” thì trường học đó phải là trường học hạnh phúc. Muốn xây dựng được trường học hạnh phúc thì mỗi lớp học cũng phải hạnh phúc. Lớp học hạnh phúc điều trước tiên thầy giáo, cô giáo là người hạnh phúc. Khi xã hội ngày càng phát triển, nhu cầu xã hội ngày càng cao, việc xây dựng trường học hạnh phúc ngày càng trở nên quan trọng. Khi xây dựng được trường học hạnh phúc, lớp học hạnh phúc thì lúc đó giáo viên và học sinh đều cảm thấy thoải mái, vui vẻ, hứng thú trong dạy - học. Từ đó, tạo điều kiện để học sinh được phát triển bản thân mình và hạnh phúc khi là chính mình. Đây là việc làm không vì thành tích, mà coi đó là việc làm để nhà trường, giáo viên và học sinh thực sự thay đổi. Khi mọi người cùng tìm được niềm vui, niềm hạnh phúc thì họ sẽ thấy được chân lý và tự điều chỉnh với nhau. Để xây dựng trường học hạnh phúc đúng nghĩa, nguyên Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Phùng Xuân Nhạ từng nhấn mạnh, có ba tiêu chí quan trọng để xây dựng nên một trường học hạnh phúc, đó là: Yêu thương, an toàn và tôn trọng; đồng thời xác định hoạt động nâng cao năng lực ứng xử sư phạm, đạo đức nhà giáo - người giáo 3 viên là yếu tố quyết định để xây dựng nên một trường học hạnh phúc. Đây được xem là một trong những hoạt động trọng tâm của ngành Giáo dục nhằm giúp cho đội ngũ giáo viên ngày càng vững mạnh mọi mặt và sẵn sàng tích cực đồng hành với lộ trình đổi mới giáo dục của nước nhà. Với cương vị là một người giáo viên chủ nhiệm lớp và nhiều năm liền làm trong công tác Đoàn tôi hết sức băn khoăn và trăn trở: Làm thế nào để mỗi ngày học sinh đến trường là một ngày vui, là một ngày hạnh phúc đối với các em? Theo tôi, đó là việc xây dựng hạnh phúc từ chính lớp học của mình. Với mong muốn góp một phần nhỏ bé trong việc thực hiện thành công chương trình đổi mới giáo dục phổ thông 2018 và giúp học sinh được học tập và phát triển một cách toàn diện nhất, bản thân tôi đã mạnh dạn lựa chọn“Một số biện pháp xây dựng lớp học hạnh phúc cho học sinh lớp 4 ở trường tiểu học”. 2. Mục đích nghiên cứu Đưa ra một số biện pháp xây dựng lớp học hạnh phúc để giúp cho giáo viên nhìn nhận, đánh giá lại phương pháp giáo dục của mình, khắc phục hạn chế, phát huy ưu điểm. Nhằm thay đổi bản thân, có thêm kinh nghiệm để làm tốt công tác chủ nhiệm, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục và uy tín của nhà trường. Tìm và áp dụng những biện pháp để xây dựng lớp học hạnh phúc giúp cho học sinh mỗi ngày đến trường thực sự là một ngày vui. Học sinh của lớp chủ nhiệm được giáo dục bằng tình yêu thương và sự tôn trọng. Từ đó, tôi đưa ra biện pháp xây dựng lớp học hạnh phúc giúp học sinh lớp chủ nhiệm được phát triển toàn diện về năng lực, phẩm chất, đạo đức Đề tài của tôi cũng nhằm giúp cho mục tiêu xây dựng trường học hạnh phúc thành công, nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho học sinh. 4 3. Nhiệm vụ nghiên cứu Tìm hiểu cơ cở lí luận, cơ sở thực tiễn, thuận lợi, khó khăn trong việc xây dựng lớp học hạnh phúc. Tìm hiểu thực trạng và nguyên nhân dẫn và các tiêu chí xây dựng lớp học hạnh phúc. Đưa ra một số biện pháp xây dựng lớp học hạnh phúc thông qua công tác chủ nhiệm lớp. Rút ra kết luận và bài học kinh nghiệm sau khi áp dụng biện pháp. 4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 4.1. Đối tượng nghiên cứu. Một số biện pháp xây dựng lớp học hạnh phúc cho học sinh lớp 4 trong trường tiểu học. 4.2. Phạm vi nghiên cứu: Học sinh lớp 4 trong trường tiểu học. 5. Phương pháp nghiên cứu 5.1. Phương pháp nghiên cứu lý luận Nghiên cứu, tham khảo, nghiên cứu các tài liệu về tâm lí học đường, các văn bản, thông tư, công văn của Bộ, của Sở Giáo dục; theo sát kế hoạch giáo dục của Ban giám hiệu nhà trường. 5.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn Rút ra từ quá trình làm công tác chủ nhiệm và giảng dạy suốt gần một năm học qua. 5.3. Phương pháp điều tra Hoàn cảnh sống, sở trường, sở đoản, mong muốn của học sinh lớp chủ nhiệm. 5.4. Phương pháp quan sát Quan sát hành động, diễn biến tâm sinh lí của học sinh và sự chăm sóc, quan tâm, cách ứng xử của cha mẹ, quan hệ bạn bè của học sinh. 5 II. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 1. Cơ sở lý luận Trước tiên, chúng ta tìm hiểu, làm rõ hạnh phúc là gì. Hạnh phúc là điều mỗi chúng ta luôn mong muốn đạt được trong cuộc sống của mình. Chúng ta sẽ luôn mong muốn hạnh phúc với những nội hàm khác nhau, ở các vị trí và thời điểm khác nhau. Một cách dễ hiểu và hiểu đơn giản hạnh phúc là trạng thái sung sướng vì cảm thấy hoàn toàn đạt được ý nguyện của mình. Đây là mục tiêu trong cuộc sống, mục tiêu hành động của bất cứ cá nhân nào trong cuộc sống này. Từ điển Bách khoa định nghĩa về hạnh phúc như sau: “Hạnh phúc là một trạng thái cảm xúc của con người khi được thỏa mãn một nhu cầu nào đó mang tính trừu tượng. Hạnh phúc là một cảm xúc bậc cao, được cho rằng chỉ có ở loài người, nó mang tính nhân bản sâu sắc và thường chịu tác động của lý trí". Hạnh phúc, sung sướng là hai từ gần nghĩa, đều chỉ cảm giác thoải mái khi đạt được một giá trị, một mục đích, một kết quả nào đó nhưng điểm khác nhau nằm ở tính hữu hình hay vô hình của giá trị, của mục đích, của kết quả đã đạt được. Vào những năm đầu thế kỷ XXI, Liên hợp quốc kêu gọi các quốc gia cần coi hạnh phúc là mục tiêu cơ bản của con người, là thước đo chính xác cho tiến bộ xã hội và các mục tiêu chính sách công của các nước trên toàn cầu. Giáo dục thế giới, nhất là các nước Châu Á - Thái Bình Dương, đã lập tức đưa ra ngay câu hỏi: Hạnh phúc cá nhân của học sinh sao không thể lấy nó làm thức đo thành tích và chất lượng các nhà trường? Việc tiếp cận nâng cao chất lượng trường học thông qua đánh giá hạnh phúc người học thực chất là quay lại quan niệm về giá trị của giáo dục khối óc và giáo dục con tim, có từ xa xưa. Giáo dục hiện đại đã chỉ ra rằng, học tập bao giờ cũng có hai mặt và luôn đan xen nhau, đó là: Học tập là quá trình khám phá, phát hiện và học tập là sự thúc giục của tính ham muốn/thích thú/vui say. Thông qua học tập bằng khối óc được kết 6 hợp học tập bằng con tim là phương thức học tập hiệu quả nhất. Coi trọng đánh giá chỉ số EQ bên cạnh chỉ số IQ truyền thống là minh chứng cho điều này. Trường học hạnh phúc những năm gần đây được ngành giáo dục chú trọng đẩy mạnh, phát động nhân rộng và trở thành mô hình lan tỏa khắp các tỉnh thành trong cả nước. Trường học hạnh phúc là môi trường giáo dục hiệu quả, ý nghĩa, để mỗi ngày đến trường là một ngày vui, trường học thực sự là "nơi ước đến, chốn mong về" với đông đảo học sinh. Trong môi trường này, mỗi học sinh sẽ cảm nhận được sự ấm áp, yêu thương tỏa ra từ thầy cô, bạn bè với niềm vui được nhân lên và nỗi buồn được chia sẻ. Hạnh phúc với người học đôi khi rất giản dị, một lời hỏi thăm, nhắn nhủ, động viên hay một lời phê, nhận xét chân tình, một giờ giảng hay, một phong cách giản dị; hay với mực thước với trí tuệ uyên bác của thầy cô đều mang lại những ấn tượng, hình ảnh tốt đẹp cho học sinh khiến các em thấy hạnh phúc trong suốt cuộc đời. Hạnh phúc còn là khi nỗ lực, cố gắng của người học được đền đáp, ghi nhận qua những điểm số chính xác, bằng những phần thưởng nho nhỏ động viên; là sự chân thành, hồn nhiên, trong sáng của tình bạn; là những vấn vương, rung động đầu đời của tuổi mới lớn; là khung cảnh nên thơ, trữ tình của hàng cây, ghế đá, Những hành động đẹp, lời nói đẹp, cảnh quang đẹp của thầy cô, bè bạn, mái trường đều góp phần dệt nên xúc cảm hạnh phúc, hân hoan trong trái tim, suy nghĩ tuổi học trò. Hạnh phúc là khái niệm rộng lớn, khó hình dung, vì vậy, để xây dựng được một trường học hạnh phúc cần có những tiêu chí cụ thể. Ngày 22.11.2019 Bộ trưởng Phùng Xuân Nhạ tới dự và trò chuyện với hơn 400 hiệu trưởng đến từ các trường học trong cả nước trong chương trình Tọa đàm “Hiệu trưởng thay đổi vì một trường học hạnh phúc”. Tọa đàm do kênh truyền hình giáo dục quốc gia VTV7 phối hợp với Bộ GD&ĐT, Công đoàn Giáo dục Việt Nam tổ chức. Bộ trưởng đề cập tới 3 nhóm tiêu chí để xây dựng một môi trường học tập hạnh phúc. 7 Tiêu chí thứ nhất, xây dựng môi trường tôn trọng sự phát triển của mỗi cá nhân. Trong đó, không có bạo lực học đường, học sinh được thể hiện cái riêng của mình, được đối xử thân thiện, không phân biệt đẳng cấp hay xếp hạng. Ở đó, các em được phát triển tối đa năng lực của mình, được tôn trọng, không ai bị bỏ rơi. Trường học phải là một thiết chế văn hóa xanh, sạch, đẹp. Ở những vùng khó khăn, nếu hiệu trưởng biết sắp xếp thì vẫn có thể xây dựng được một ngôi trường tuy không khang trang, hiện đại nhưng sạch đẹp. Nhóm tiêu chí thứ hai, trong nhà trường giáo viên phải được sáng tạo, được đổi mới phương pháp dạy học, được dân chủ đóng góp ý kiến. Phải khơi gợi cho các thầy cô giáo sự sáng tạo. “Hiện nay có nhiều hiệu trưởng tôn trọng sự sáng tạo, nhưng cũng có nhiều hiệu trưởng còn mang tư tưởng áp đặt, bắt giáo viên phải nghe theo. Do vậy, hiệu trưởng cần thay đổi, giao quyền chủ động cho giáo viên, tạo ra môi trường để giáo viên dám đổi mới, hỗ trợ lẫn nhau, không chạy theo thành tích. Cũng cần quan tâm giảm áp lực cho giáo viên từ sổ sách giấy tờ tới áp lực thành tích”. Học sinh đến trường bên cạnh việc học tập phải được vui chơi, trải nghiệm, sáng tạo. Khi không phải chịu áp lực của bài tập, không bị phân biệt đối xử. Nếu hiệu trưởng khích lệ, động viên kịp thời giáo viên sẽ phấn khởi, từ đó lại khích lệ kịp thời học sinh. Cần khen che đúng lúc và loại bỏ những hình phạt, thay vào đó là kỉ luật tích cực. Nhóm tiêu chí thứ ba, quan hệ của nhà trường với cộng đồng xã hội, trong đó có những cựu học sinh của nhà trường. Hiệu trưởng trên cương vị của mình cần tạo dựng được mối quan hệ này để làm cho giáo viên, học sinh tự hào về môi trường đã ươm tạo, nuôi dưỡng nhiều tài năng, là ngôi trường được cộng đồng xã hội tôn trọng. 2. Cơ sở thực tiễn 2.1. Phân tích, đánh giá thực trạng nội dung của đề tài Lấy cảm hứng từ mô hình “Happy School” của UNESCO, mô hình "Trường học hạnh phúc" bắt đầu triển khai thí điểm ở nước ta từ tháng 4.2018 8 và nhanh chóng được nhân rộng. Xây dựng trường học hạnh phúc là mục tiêu mà ngành giáo dục đã phát động từ nhiều năm qua và đã nhận được rất nhiều sự quan tâm của các nhà trường và đội ngũ nhà giáo. Những năm gần đây, ngành giáo dục triển khai các giải pháp hướng đến giáo dục hạnh phúc như: giảm tải chương trình học, chương trình giáo dục phổ thông tiếp cận phát triển năng lực, phẩm chất và phát triển toàn diện học sinh theo từng cá nhân; giảm áp lực thi cử, thay đổi cách kiểm tra, đánh giá vì sự tiến bộ của học sinh; tăng cường hoạt động trải nghiệm ứng dụng kiến thức đã học vào thực tiễn; tăng cường khen thưởng, động viên và thực hiện kỷ luật tích cực đối với học sinh... Đến nay việc mô hình xây dựng “Trường học hạnh phúc, lớp học hạnh phúc” đã bước đầu tạo chuyển biến trong nhận thức và hành động, thu hút sự chung sức của cả thầy và trò cùng tham gia, góp phần nâng chất lượng giáo dục toàn diện trong trường học. Khác với lớp học truyền thống, lớp học hạnh phúc không áp đặt phát triển theo khuôn mẫu mà đóng vai trò định hướng để trẻ được làm những gì mình yêu thích và say mê. Ở đó, học sinh không học theo kiểu nhồi nhét mà được học những gì có ý nghĩa, được khơi gợi niềm yêu thích để tiếp tục tự tìm hiểu. Hạnh phúc có ý nghĩa rất lớn đối với mỗi chúng ta và đặc biệt đối với trẻ nhỏ. Trẻ được hạnh phúc trong môi trường gia đình và trẻ cũng cần được hạnh phúc trong môi trường xã hội của trẻ chính là trường học. Vậy lớp học phải là lớp học hạnh phúc. Lớp học hạnh phúc là yêu thương, an toàn và tôn trọng. Lớp học hạnh phúc phải là điểm đến thân thiện và vui thích của trẻ, là môi trường giáo dục hoàn hảo tạo được cho trẻ tâm lí thoải mái khi trẻ đến lớp. lớp học hạnh phúc là nơi khiến cả thầy và trò đều có cảm giác muốn đến “Mỗi ngày đến trường là một ngày vui” khi đến sẽ có hứng thú, niềm vui, sự mong chờ và những rung động. Lớp học hạnh phúc không áp đặt học sinh phát triển theo khuôn mẫu mà đóng vai trò định hướng để học sinh được làm những gì mình yêu thích và say mê. Ở đó, học sinh được học những gì có ý nghĩa với chúng, 9 được khơi gợi niềm yêu thích, các bài học được thông qua các trò chơi và những trải nghiệm. Lớp học hạnh phúc là nơi học sinh cảm thấy “muốn đến”. Hiểu một cách đơn giản, lớp học hạnh phúc là nơi khiến cả thầy và trò đều có cảm giác “muốn đến”. Khi đến lớp có hứng thú, niềm vui, sự mong chờ và những rung cảm. Để có một lớp học hạnh phúc cần chú trọng xây dựng những giá trị nhân văn và những chuẩn mực hành xử tích cực. Chuẩn mực giữa thầy và trò, giữa thầy với phụ huynh học sinh. Và điều quan trọng nữa muốn học trò hạnh phúc thì trước hết thầy cô phải là người hạnh phúc. Kể cả các bậc phụ huynh, mỗi ngày đến trường đều cảm thấy là một ngày vui và thực sự ý nghĩa. Đặc điểm của học sinh ở bậc tiểu học là “Học mà chơi chơi mà học” nên việc xây dựng môi trường phải hấp dẫn đối với trẻ. Môi trường áp dụng các phương pháp học tập linh hoạt, hiện đại để có thể kích thích các tư duy tìm tòi, khám phá cho trẻ. Môi trường an toàn về thể chất và tinh thần. Giáo viên và học sinh phải được bảo vệ, không có sự xúc phạm về thể chất và tinh thần để mỗi khi đến trường như là về nhà. Môi trường vận động an toàn, lành mạnh, phát triển để trẻ có thể học tập hạnh phúc. Mỗi học sinh có tâm lý tính cách khác nhau chính vì vậy thầy, thầy cần tôn trọng sự khác biệt bởi chính sự khác biệt ấy mới tạo nên sự đa dạng. Một môi trường học tập chỉ có thể có hạnh phúc nếu các mối quan hệ được xây dựng và thực hiện dựa trên sự yêu thương. Yêu thương bắt đầu từ sự thấu hiểu, chia sẻ với người khác mà không phải là sự ích kỉ, đơn phương thực hiện. Yêu thương cũng là một giá trị truyền thống của dân tộc ta, nên phát huy nó không phải là việc khó khăn. Trường học hạnh phúc là phải để. “Học sinh là ngọn nến thắp sáng niềm hạnh phúc của cha mẹ và thầy cô giáo”. Ngọn nến muốn sáng cần có bàn tay nâng niu từ nhiều khía cạnh gia đình, trường học, xã hội. Khi mỗi ngày đến trường của con là một ngày vui (Có nghĩa là hạnh phúc) hạnh phúc đó sẽ lan tỏa đến thầy cô và cha mẹ vậy nên chúng ta hãy hành động “Để trẻ luôn tỏa 10 sáng”. Là một giáo viên, thực hiện phong trào xây dựng lớp học hạnh phúc thực sự là một ý tưởng mà tôi rất tâm đắc và nhận thấy có tính khả thi cao. 2.2. Kết quả đạt được, hạn chế, bất cập và nguyên nhân 2.2.1. Kết quả đạt được Đầu năm tôi đã tiến hành khảo sát tâm lý học sinh lớp tôi với câu hỏi “Con có hạnh phúc khi đến trường, đến lớp mình không?”. Tôi nhận được kết quả như sau: STT Mức độ Số học sinh Tỉ lệ 1 Chưa bao giờ hạnh phúc 2 5,7% 2 Hiếm khi hạnh phúc 10 28,6% 3 Thỉnh thoảng hạnh phúc 15 42,9% 4 Thường xuyên hạnh phúc 8 22,8% *Khảo sát 6 điều học sinh mong muốn ở giáo viên để việc học được hạnh phúc hơn. STT Mong muốn của học sinh Số HS Tỉ lệ 1 Mong thầy giáo cười nhiều hơn. 32 91,4% 2 Mong được học tập xen lẫn vui chơi. 30 85,7% 3 Mong thầy nhẹ nhàng hơn khi học sinh làm sai. 25 71,4 4 Mong được khen thưởng nhiều hơn trách móc. 28 80% 5 Mong thầy không phê bình trước mặt bạn bè. 33 94,2 6 Mong được khám phá, trải nghiệm thực tế 35 100% Kết quả trên cho thấy, số học sinh cảm thấy vui vẻ, hạnh phúc khi tới trường, lớp học của mình còn ít vẫn có học sinh hiếm khi hạnh phúc khi đến trường, tỉ lệ học sinh thỉnh thoảng hạnh phúc cao hơn nhiều so với tỉ lệ học sinh thường xuyên hạnh phúc. Tỉ lệ học sinh hạnh phúc khi được đến trường, lớp không cao. Chính vì vậy mà việc xây dựng lớp học hạnh phúc cho học sinh là vấn đề cần quan tâm. Muốn làm tốt công tác này chúng ta cần phải làm gì? Nhất là những người làm công tác giáo dục vì nhà trường là nơi tốt nhất để hình thành nhân cách cho học sinh. Đây cũng chính là câu hỏi mà bản thân cần phải tìm 11 tòi nghiên cứu. Từ những thực trạng trên thôi thúc bản thân tìm ra nguyên nhân dẫn đến tình trạng “Học sinh tới trường, lớp học của mình chưa vui vẻ, hạnh phúc” là do đâu? để từ đó tìm ra một số biện pháp xây dựng lớp học hạnh phúc cho học sinh đạt hiệu quả. 2.2.2. Hạn chế, bất cập 2.2.2.1. Đối với học sinh Trong các nhà trường ít nhiều vẫn còn có hiện tượng học sinh cãi nhau, đánh nhau, chưa lễ phép, gây mất đoàn kết trong tập thể lớp. Học sinh tuy cùng độ tuổi nhưng khả năng tiếp thu của trẻ không đồng đều. Học sinh bị ảnh hưởng bởi cuộc sống hiện đại như: Internet, tivi, các trò chơi điện tử.. Một số học sinh sống trong môi trường quá bao bọc khiến các em quen dựa dẫm, không có tính tự lập, ích kỷ, lãnh cảm với môi trường xung quanh. Học sinh chưa thật sự sáng tạo trong suy nghĩ. Các em khá rụt rè chưa mạnh dạn bày tỏ ý kiến. Khi phát biểu các em nói không rõ ràng, trả lời trống không, không tròn câu và ít nói lời cảm ơn, xin lỗi với thầy cô, bạn bè. Nhiều em đến trường tỏ ra nói nhiều vì ở nhà các em không có người trò chuyện, chia sẻ ...Tậm chí còn có học sinh nói tục. 2.2.2.2. Đối với phụ huynh Về phía các bậc cha mẹ học sinh luôn nóng vội trong việc dạy con ; họ chỉ chú trọng đến việc con mình về nhà mà chưa đọc, viết chữ, hoặc chưa biết làm Toán thì lo lắng một cách thái quá! Ngoài ra, một trở ngại nữa là phụ huynh trong lớp có một số bố mẹ thì quá nuông chiều, chiều chuộng, cung phụng con cái khiến trẻ không có kỹ năng tự phục vụ bản thân. Ngược lại, một số phụ huynh vì bận nhiều công việc nên ít quan tâm giúp đỡ con em trong các hoạt động cần thiết, còn có cả những bố mẹ học sinh chia tay nhau hoặc đi làm xa để con cái ở với ông, bà nên thiếu tình thương yêu và sự chỉ bảo của cha mẹ. 2.2.3. Nguyên nhân 12 Hiện tượng trẻ em lúng túng khi phải xử lí những tình huống của cuộc sống thực, thiếu tự tin trong giao tiếp, thiếu bản lĩnh vượt qua khó khăn, thiếu sáng kiến và dễ nản chí ngày càng nhiều. Nguyên nhân do đâu? Phải khẳng định rằng, trước hết do giáo dục. Nhiều vấn đề của xã hội hiện đại tác động đến trẻ chưa được cập nhật, bổ sung vào chương trình giáo dục nhà trường. Việc định hướng sai các giá trị là nguyên nhân gây ra những hiện tượng đáng tiếc trong ứng xử của trẻ. Phương pháp giáo dục nhồi nhét, lí thuyết xuông, không tạo được cho trẻ khả năng tư duy, óc phân tích, suy sét, phán đoán, không tạo cơ hội cho trẻ trải nghiệm những vấn đề thực trong cuộc sống hiện đại Qua nhiều năm thực tế giảng dạy ở trường, bản thân nhận thấy học sinh tới trường, lớp chưa thực sự hạnh phúc là do những nguyên nhân sau: Giáo viên chưa thật sự gần gũi, thân thiện với học sinh. Học sinh chưa hứng thú khi tham gia các hoạt động học tập. Học sinh khi tham gia các hoạt động ngoại khoá, hoạt động trải nghiệm sáng tạo chưa có sự gắn kết. Giáo viên khuyến khích động viên khen thưởng học sinh còn ít. Công tác phối hợp, tuyên truyền với các bậc phụ huynh trong việc giáo dục học sinh cơ bản chưa nhiều. Chính vì những nguyên nhân trên dẫn tới học sinh khi tới trường, tới lớp học của mình chưa thực sự vui vẻ, hạnh phúc. 3. Các biện pháp Dựa trên những tiêu chí xây dựng lớp học hạnh phúc, tôi thấy rằng, để có một lớp học hạnh phúc thực sự tôi mạnh dạn đưa ra một số biện pháp để cải thiện hạnh phúc của giáo viên và học sinh trong mỗi lớp học mà bản thân tôi đã áp dụng thực hiện ngay tại lớp học của mình. 3.1. Biện pháp 1: Giáo viên thay đổi bản thân, kiến tạo hạnh phúc. 13 Thật ra, ai cũng có thể nhận ra và tạo ra hạnh phúc của riêng mình. Đó là hãy quan tâm đến việc làm cho mình khỏe, duy trì cảm xúc tích cực để từ đó làm việc tốt, sống tốt. việc duy trì cảm xúc tích cực rất hữu hiệu. Giáo viên nên cười nhiều hơn với học sinh để tạo một bầu không khí thân thiện, vui vẻ trong giờ học. Đúng như ông cha ta đã nói “ Một nụ cười bằng mười thang thuốc bổ”, lợi ích của nụ cười đã được khoa học chứng minh. Việc này tưởng đơn giản nhưng không phải giáo viên nào cũng làm được vì giáo viên chưa biết cách quản lý cảm xúc của mình, không có tính hài hước nhưng chúng ta sẽ làm được nếu ta có tâm với nghề, yêu thương học sinh như những đứa con của mình. Cụ thể: Vào các giờ ra chơi, tôi tham gia trò chuyện, tâm sự với các con, tạo sự gần gũi, thoải mái, xoá bỏ đi bức tường ngăn cách giữa thầy và trò. Lồng ghép sự hài hước vào trong lớp học bằng lời nói, biểu cảm, hành động của giáo viên. Ví dụ, khi học sinh mắc lỗi khi đang nói, thay vì cắt ngang hay sửa lại, tôi thường làm khuôn mặt khôi hài để giúp học sinh nhìn ra được lỗi của mình mà sửa sai. Hoặc đó có thể là một câu bình luận khôi hài, lời nói thú vị diễn ra tự phát trong các tình huống xảy ra trong giờ học. Giáo viên hướng dẫn nhẹ nhàng khi học sinh làm chưa tốt, giữ bình tĩnh khi học sinh mắc lỗi, không phê bình nặng lời, gay gắt trước mặt người khác; Khích lệ, khen thưởng các em nhiều hơn. Cụ thể: Tâm lí chung của học sinh là sợ trả lời sai, có em còn hỏi “Làm sai có bị sao không ạ?” Trong tình huống đó, tôi có thể nói vui rằng: “Sai à? Không sao, thầy cảm ơn”. Cảm ơn ở đây là cảm ơn em đã dũng cảm sửa lỗi sai, đó là bài học sâu sắc cho mỗi học sinh trong lớp. Giáo viên nhận xét, góp ý một các khéo léo về những điều các con làm sai hoặc làm chưa tốt, không nên chê bai. Mỗi lời nói, hành động của thầy cô sẽ là nguồn lực để các em thay đổi theo hướng tích cực. 14 Tôi thường xuyên dùng công thức “khen” trước “chê” sau, nghĩa là, dù tệ đến đâu cũng cố gắng tìm ra vài điểm tích cực để khen. Để xứng đáng với sứ mệnh vẻ vang và cao cả trong sự nghiệp trồng người, xứng đáng với sự tôn vinh và niềm tin yêu của xã hội, bản thân mỗi nhà giáo chúng ta phải luôn có nhận thức đúng đắn, sâu sắc về vị thế của nghề sư phạm, trọng trách cao cả của mình trong xã hội. Tích cực tu dưỡng, rèn luyện phẩm chất đạo đức, tác phong, lối sống, ứng xử nhân văn để mỗi nhà giáo thực sự là những tấm gương sáng về nhân cách, đạo đức cho học sinh noi theo. Hãy yêu thương học trò bằng tất cả trái tim và tấm lòng nhân ái của mình, hãy lan tỏa cho các con niềm tin và tình yêu vào cuộc sống, vào tương lai bằng chính những ứng xử đầy tính nhân văn của mình. Và tôi rất tâm đắc một câu nói của thiền sư Thích Nhất Hạnh, một câu nói bao hàm tất cả những giá trị và vị ngọt hướng gửi đến những ai làm về giáo dục “Thầy cô hạnh phúc sẽ thay đổi cả thế giới”. 3.2. Biện pháp 2: Tiết học hạnh phúc. Giáo viên cần thường xuyên nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ và khả năng sử dụng ứng dụng CNTT vào bài dạy, có phương pháp dạy học hiệu quả, tạo hứng thú, lôi cuốn người đọc. Một lớp học hạnh phúc được xây dựng chủ yếu dựa trên các mối quan hệ tích cực. Bởi vậy, trong mỗi giờ học, tôi đã mạnh dạn thực hiện những việc làm sau: Bắt đầu vào tiết học, tôi cho học sinh khởi động bằng một số việc làm đơn giản như vài động tác thể dục, một bài hát để kích thích những cảm xúc tích cực trong học sinh, từ đó các con thu nhận kiến thức dễ dàng hơn. Bản thân tôi và các học sinh trong lớp đã viết một bài vè giúp các con có một phần khởi động riêng của lớp. Tiêu chí về dạy và học, trong đó tập trung vào việc tạo các điều kiện tốt nhất để mỗi học sinh có cơ hội phát triển, thể hiện và khẳng định năng lực, giá trị của bản thân; sử dụng các phương pháp và hình thức tổ chức dạy học tạo 15 hứng thú, phù hợp và chấp nhận sự khác biệt tâm lý, thể chất, hoàn cảnh của mỗi học sinh. Tôi rất tâm đắc với một câu nói về sự đánh giá, đó là: đừng đánh giá khả năng của một con cá qua việc leo cây. Mỗi 1 học sinh sẽ có một đặc điểm, hoàn cảnh cũng như khả năng khác nhau. Vì vậy, mỗi người làm giáo dục như chúng ta là phải biết làm thế nào để học trò của mình có thể phát triển theo đặc điểm, hoàn cảnh và khả năng đó. Với tôi, mỗi giờ lên lớp là một sự đổi mới. Việc đổi mới phương pháp dạy học luôn được chú trọng, trong mỗi tiết học, học sinh được phát huy tối đa vai trò chủ động, sáng tạo trong việc hình thành và tiếp nhận kiến thức mới cũng như vận dụng vào thực tiễn. Mọi đối tượng học sinh đều được quan tâm và được ghi nhận kết quả làm việc trong mỗi giờ học. Trò chơi là một phần không thể thiếu trong mỗi tiết học, đặc biệt với lứa tuổi trẻ tiểu học. Vì vậy, không một tiết học nào của tôi là không có trò chơi. Trò chơi khởi động, trò chơi củng cố hay trò chơi giữa giờ đều giúp các em cảm thấy thoải mái, từ đó phấn khích, sẵn sàng tham gia vào các hoạt động tiếp theo. Ví dụ: Trong bài “Thêm trạng ngữ chỉ nơi chốn cho câu” phân môn Luyện từ và câu lớp 4, ở bài tấp số 2 trong phần luyện tập. Để giúp các con tìm được cái Trạng ngữ phù hợp tôi đã tổ chức một trò chơi mang tên “Hành trình kết nối”. Tôi đưa ra cách thức chơi và tiêu chí chấm cụ thể. Hình ảnh: Hình ảnh slie trong bài dạy. 16 Linh động các vị trí học tập, không chỉ học tập trong lớp mà các con có thể có những không gian và bài học thực tế. Khiến các con cảm thấy thoải mái hơn thích thú hơn trong quá trình tham gia học tập. Ví dụ: Trong tiết tập làm văn “Luyện tập quan sát cây cối” tập 2 SGK lớp 4 trang 39. Tôi đã tổ chức tiết học này ngoài sân trường để các con có cơ hội quan sát và cảm nhận bằng các giác quan. Sau đó để hoàn thành vào sơ đồ tư duy. Đối với mỗi phân môn, tôi áp dụng các hình thức tổ chức bài khác nhau với các tên gọi thú vị “Nhà nghiên cứu trẻ tuổi”: Giáo viên yêu cầu các nhóm học sinh về nhà nghiên cứu trước nội dung bài học theo cách hiểu của mình, sau một thời gian quy định nộp lại và tổ chức thảo luận, đánh giá kết quả. Trong các tiết học hầu như tôi sẽ giao nhiệm vụ trước cho học sinh về nghiên cứu và tự tìm cách để trình bày nội dung bài học ngày hôm sau. Ví dụ: Trong tiết Kể chuyện bài “Kể chuyện đã nghe, đã đọc” Tôi đã giao nhiệm vụ cho các nhóm tự xây dựng nội dung một câu chuyện và trình bày bài bằng các hình thức khác nhau. 17 Hình ảnh: học sinh trình bày Rạp chiếu bóng mi ni. Đối với việc hệ thống lại kiến thức tôi sử dụng với tên gọi Nhật kí kiến thức: Sau mỗi bài học hoặc mỗi chương, giáo viên yêu cầu học sinh về nhà, lập sơ đồ từ duy hệ thống lại kiến thức của bài học đó vào giấy A4 với hình vẽ sáng tạo của mình. Bạn nào hoàn thành đẹp mắt, đảm bảo đúng và đủ kiến thức sẽ dành chiến thắng. Ví dụ: Một số môn mà tôi đã áp dụng cho các con trình bày hệ thống kiến thức bằng việc lập sơ đồ tư duy. Hình ảnh: Sơ đồ tư duy tập đọc bài Dế Mèn bênh vực kẻ yếu. 18 Hình ảnh: Sơ đồ tư duy bài Tìm số trung bình cộng, môn Toán lớp 4. Hình ảnh: Sơ đồ tư duy môn Địa lí bài Thủ Đô Hà Nội. 19 Hình ảnh: Sơ đồ tư duy bài quan sát con vật trong Tập làm văn. Hình ảnh: Sơ đồ tư duy môn khoa học bài” Một số cách làm sạch nước” Ngoài ra để khuyển khích các con học tập tích cực hơn, tôi thường xuyên tổ chức các cuộc thi như là :” Thử thách luyện đọc” trước bài tập đọc. Trò chơi Nhanh tay, nhanh mắt: Tuỳ vào lúc thích hợp của tiết học, giáo viên đưa các bài toán có lời giải sai ở một vài bước học sinh thường mắc phải, các nhóm thảo luận tìm ra chỗ sai và sửa sai. Nhóm nào tìm nhanh nhất và sửa lại cho đúng là đội dành chiến thắng. 20 Thông qua trò chơi, tôi nhận ra rằng học sinh sẽ hứng thú hơn trong việc tìm hiểu kiến thức, các em được thảo luận, hợp tác, dần dần tìm được tiếng nói chung, từ đó các em sẽ cảm thấy vui vẻ và mong muốn được đến trường. Mỗi ngày được đến trường là một ngày hạnh phúc. Giáo viên lúc này sẽ là người quan sát, tư vấn, kiểm định kết quả và hoàn thiện câu trả lời. 3.3. Biện pháp 3: Tăng cường các hoạt động ngoại khóa, hoạt động trải nghiệm sáng tạo cho học sinh. Tổ chức lớp phải gắn liền với các hoạt động phong trào của tập thể, phong trào của nhà trường. Vì vậy, giáo viên cần thông qua các hoạt động tập thể để xây dựng cho lớp học tinh thần đoàn kết, hòa đồng. Sự quan tâm, chia sẻ giữa các thành viên của tập thể lớp được hình thành và phát triển trong những hoạt động chung như thế.Phát huy sở trường cá nhân và sức mạnh tập thể. Một thực tế cho thấy, nhiều giáo viên chủ nhiệm lớp, đặc biệt chủ nhiệm bậc tiểu học, không muốn học sinh lớp mình tham gia vào quá nhiều các hoạt động do Đoàn trường tổ chức, vì họ sợ sẽ làm ảnh hưởng đến thời gian học của học sinh. Bố mẹ các em nhiều người cũng có tâm lý như thế. Nhưng nếu đến trường chỉ để nhồi nhét kiến thức như một cái máy, các em sẽ cảm thấy vô cùng mệt mỏi và chán chường. Các em muốn được vui chơi, muốn được hoạt động, muốn được khẳng định bản thân. Và hơn hết, qua các hoạt động tập thể, tinh thần đồng đội sẽ được đẩy lên, sự gắn kết của tập thể cũng sẽ được nhân lên gấp bội. Sự đoàn kết thống nhất giữa các thành viên qua các hoạt động tập thể có ý nghĩa cực kì to lớn đối với việc xây dựng tập thể. Không chỉ động viên, khuyến khích các em tham gia đầy đủ các hoạt động bề nổi của trường theo kiểu tham gia cho có, mà tôi định hướng để các em tham gia một cách có đầu tư và có chất lượng. Tôi luôn động viên và khích lệ cùng các em tham gia các hoạt động ngoại khóa do Liên đội, Đoàn thanh niên, tổ chức, sát cánh với các em trong các phong trào văn hóa, văn nghệ, TDTT nhân ngày 20/11, 26/3 Các em được trải nghiệm, được vui chơi, được hợp tác và chia sẻ, từ đó sẽ hiểu, yêu thương nhau, sống có trách nhiệm, xây dựng một tập thể lớp đoàn kết, hạnh phúc. Các em sẽ cảm thấy vui vẻ và hạnh phúc khi đến trường.
File đính kèm:
mot_so_bien_phap_xay_dung_lop_hoc_hanh_phuc_cho_hoc_sinh_lop.pdf



