Giải pháp rèn luyện và giáo dục học sinh cá biệt”
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Giải pháp rèn luyện và giáo dục học sinh cá biệt”, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút TẢI VỀ ở trên
1 MỤC LỤC Trang I. PHẦN MỞ ĐẦU . . 2 1. Lí do chọn đề tài . . 2 2. Mục đích nghiên cứu . 3 3. Nhiệm vụ nghiên cứu . 4 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu. .. 4 5. Phương pháp nghiên cứu. 4 II. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 1. Cơ sở lí luận . 5 2. Cơ sở thực tiễn . ... 6 3. Các biện pháp . . 8 III. KẾT QUẢ VÀ ỨNG DỤNG 25 IV. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 26 1. Kết luận . .. 26 2. Kiến nghị . ... 28 2 I. PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Theo quan điểm triết học của chủ nghĩa Mác- Lê nin: “Bản chất con người là sự tổng hoà các mối quan hệ xã hội”, như vậy những hiện tượng học sinh cá biệt không phải là một hiện tượng ngẫu nhiên hoặc tình cờ mà có, tất cả đều có những nguyên nhân nhất định. Bản chất con người - học sinh là lương thiện, nhưng do những yếu tố khác nhau làm ảnh hưởng đến đời sống, tâm lý của học sinh nên các em có những biểu hiện khác nhau. Ở lứa tuổi học sinh lớp 5, lứa tuổi các em mong muốn trở thành người lớn trong khi các em chưa có sự hiểu biết tương ứng cộng với hoàn cảnh sống mỗi em một khác nhau, có em may mắn nhận được sự tư vấn kịp thời của cha mẹ, có em không được sự quan tâm đúng mức, có em thì lại được chiều chuộng quá mức... Từ sự khác biệt trên nảy sinh ra những hiện tượng cá biệt trong học sinh và chính một bộ phận học sinh này đã gây không ít khó khăn cho giáo viên chủ nhiệm lớp, nếu giáo dục không kịp thời sẽ ảnh hưởng đến phong trào, nề nếp của lớp. Những biểu hiện cá biệt của học sinh lại rất khác nhau về mặt hình thức cũng như mức độ nên giáo viên chủ nhiệm lớp cũng rất khó trong việc phát hiện và có biện pháp xử lý thích hợp. Thông thường khi làm công tác chủ nhiệm lớp, giáo viên chủ nhiệm thường quan tâm xử lý những việc làm xảy ra hàng ngày khi học sinh vi phạm mà ít chú ý tìm hiểu tính cách cá biệt của các em do những nguyên nhân nào dẫn đến việc các em vi phạm để có hướng giáo dục thích hợp. Có những trường hợp học sinh cá biệt nhưng không có biểu hiện rõ, khó phát hiện nên chưa có được phương pháp giáo dục thích hợp. Ở lứa tuổi các em cần có sự hỗ trợ, tư vấn của người lớn hay nói cách khác các em cần có sự giáo dục và các em rất cần đến chúng ta. Song muốn đạt được hiệu quả cao trong việc giảng dạy, giáo dục học sinh 3 chúng ta cần có tâm huyết, năng động sáng tạo đồng thời có sự kiên trì thì nhất định chúng ta sẽ thành công. Qua 5 năm làm giáo viên chủ nhiệm, tôi nhận thấy công tác chủ nhiệm là một nhiệm vụ khá vất vả và đòi hỏi nhiều tâm huyết. Song để trở thành một giáo viên chủ nhiệm giỏi được học trò và phụ huynh tin tưởng lại càng khó khăn hơn. Được giao chủ nhiệm lớp, tôi luôn trăn trở với học sinh để mong sao các em được phát triển toàn diện. Những năm học qua tôi được tiếp xúc với nhiều đối tượng học sinh khác nhau: Có những em vừa học giỏi vừa ngoan ngoãn nhưng cũng có những em vừa lười học lại chưa có ý thức rèn luyện. Có những em gia đình hoàn cảnh khá giả nhưng cũng có những em hoàn cảnh gia đình rất éo le,... Mặc dù số năm làmcông tác chủ nhiệm lớp chưa nhiều nhưng tôi đã có cơ hội sử dụng nhiều giải pháp nhằm rèn luyện học sinh cá biệt và đúc rút được một số kinh nghiệm nhỏ. Do vậy, năm học này tôi mạnh dạn đề xuất “Giải pháp rèn luyện và giáo dục học sinh cá biệt” với mong muốn tất cả các em học sinh lớp 5A4 do tôi chủ nhiệm hoàn thành tốt nhất các nhiệm vụ học tập và rèn luyện, góp phần nâng cao chất lượng dạy học ở trường nơi tôi đang công tác. 2. Mục đích nghiên cứu Rèn luyện và giáo dục cho học sinh cá biệt là một trong những nhiệm vụ thiết yếu trong nhà trường nhằm hạn chế được những đối tượng học sinh chưa hoàn thành các môn học hay chưa đạt về mặt năng lực, phẩm chất góp phần tăng chất lượng giáo dục toàn diện của nhà trường. Sau những năm làm công tác chủ nhiệm lớp và quan sát một cách có hệ thống ở các lớp bậc Tiểu học, bản thân tôi gặp không ít đối tượng học sinh cá biệt nhưng mỗi em ộtm vẻ cá biệt khác nhau, đòi hỏi trong quá trình giáo dục phải linh hoạt và có nhiều sáng tạo mới đem lại hiệu quả. 4 Qua tìm tòi, học hỏi ở đồng nghiệp, tham khảo các giải pháp giáo dục trên các tạp chí giáo dục, trên truyền hình rồi vận dụng vào quá trình công tác chủ nhiệm lớp, bản thân tôi cũng rút ra được một vài kinh nghiệm và đưa ra “Giải pháp rèn luyện và giáo dục học sinh cá biệt” với mục đích: - Giúp các em học sinh nói chung và những học sinh cá biệt nói riêng hoàn thành chương trình năm học. - Đào tạo ra những học sinh vừa có kiến thức văn hóa, vừa có phẩm chất, nhân cách làm người. - Giúp giáo viên có thể hiểu rõ học sinh và có thể lựa chọn phương pháp, lên kế hoạch giúp các em khắc phục những khó khăn trong mọi mặt. - Nâng cao chất lượng giáo dục của lớp, của trường. - Xóa bỏ khoảng cách giữa giáo viên với học sinh, từ đó hình thành mối quan hệ gần gũi, tạo tâm thế thoải mái trong học tập và rèn luyện. 3. Nhiệm vụ nghiên cứu Tiến hành nghiên cứu biện pháp này, tôi thực hiện các nhiệm vụ sau: - Xây dựng cơ sở lý luận cho giải pháp. - Xây dựng cơ sở thực tiễn cho giải pháp. - Đề xuất áp dụng các biện pháp rèn luyện và giáo dục học sinh cá biệt. 4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu - Đối tượng nghiên cứu : Rèn luyện và giáo dục học sinh cá biệt. - Phạm vi nghiên cứu: Học sinh lớp 5 trường tiểu học tôi công tác năm học 2022 -2023 5. Phương pháp nghiên cứu - Phương pháp quan sát - Phương pháp phân tích, tổng hợp số liệu 5 - Phương pháp đàm thoại - Phương pháp thống kê - Phương pháp tổng hợp kinh nghiệm II. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 1. Cơ sở lý luận Muốn giáo dục tốt các đối tượng học sinh cá biệt giáo viên chủ nhiệm cần phải: Điều tra nắm rõ nguyên nhân của các hiện tượng cá biệt, nắm rõ tâm lý của từng đối tượng để đề ra biện pháp thích hợp. Khi tiến hành các biện pháp giáo dục cần tránh việc nêu tất cả những khuyết điểm ra cùng một lúc hay nôn nóng muốn giải quyết được tất cả những sai phạm của các em cùng một lúc mà nên phân thời gian và chọn ra những sai phạm mang tính cấp bách hay cơ bản thì giải quyết trước. Luôn tạo mối quan hệ gần gũi, cảm hoá các em. Giáo viên chủ nhiệm cần biết kết hợp được nhiều tác nhân phối hợp giáo dục. Không xúc phạm làm tổn thương danh dự của học sinh và gia đình học sinh đó trước tập thể. Khi xử lý vụ việc, không quá khắt khe, mạnh tay bằng những hình thức kỷ luật nặng nề, làm cho học sinh không còn cơ hội sửa chữa sai lầm. Không hành xử thô bạo với học sinh như đánh đập hoặc cho người khác đánh đập. Không định kiến và phủ nhận sự tiến bộ của học sinh cá biệt. Không làm cho các em đó mất niềm tin và hi vọng vào tương lai. Không nên có cái nhìn kỳ thị, thái độ khó chịu, ghét bỏ, coi thường, mắng nhiếc học sinh cá biệt trước lớp. Không nên nhìn các em với ánh mắt dò xét chỉ để thấy lỗi, thấy những mặt xấu của các em. Không nên gọi các em là học sinh cá biệt, đặc biệt trước lớp, trước mặt người khác. Các em chỉ là những học sinh chưa ngoan, cần quan tâm giáo dục. 6 2. Cơ sở thực tiễn Năm học 2022 - 2023, tôi được chuyên môn trường tin tưởng và giao nhiệm chủ nhiệm lớp 5A4. Trong thời gian đầu, tôi đã rèn luyện và giáo dục các em bằng những phương pháp truyền thống và sử dụng một số giải pháp thông thường: - Hướng dẫn kĩ cho những học sinh chưa nắm được bài. - Dành thời gian phụ đạo thêm cho học sinh chưa hoàn thành bài. - Nhắc nhở về ý thức học tập, ý thức kỉ luật, - Phối hợp với phụ huynh kèm cặp các em học tập và rèn luyện. Sau 2 tuần nhận lớp, tôi tiến hành khảo sát khả năng hoàn thành các nhiệm vụ học tập và rèn luyện của các em học sinh lớp 5A4, kết quả đạt được như sau: Tổng số học Khả năng hoàn thành các nhiệm vụ học tập và rèn luyện sinh lớp 5A4 Hoàn thành tốt Hoàn thành Chưa hoàn thành 29 10 14 5 Qua khảo sát tôi nhận thấy nhiều học sinh chưa hoàn thành bài và chưa có ý thức học tập, kỷ luật. Điều này khiến tôi gặp khá nhiều khó khăn trong việc giảng dạy và giáo dục học sinh. Có 5 học sinh được xếp vào nhóm học sinh cả biệt, thường xuyên không làm bài tập, nghịch ngợm, mất tập trung trong học tập hoặc ít nói và khép kín bản thân, ngại giao tiếp, Hơn nữa, học sinh tiểu học còn nhỏ chưa ý thức được tầm quan trọng của việc học và tự học. Mỗi em có một tính cách và suy nghĩ riêng nên dù đã áp dụng nhiều giải pháp nhưng chưa thực sự có hiệu quả. Các giải pháp cần có sự phối hợp, hỗ trợ từ nhiều phía nhưng ở phía nào cũng có những khó khăn mà ngay lập tức không thể khắc phục được: 7 * Từ phía gia đình: Thời gian mà các em sống với gia đình là khoảng thời gian dài nhất, môi trường sống của gia đình có ảnh hưởng rất lớn đối với các em. Những thái độ, hành vi, cách cư xử trong gia đình sẽ hình thành cho các em nền móng để các em tiếp xúc ngoài xã hội. Những em thiếu may mắn sinh ra trong gia đình cha mẹ bất hoà, cách cư xử của cha mẹ thô bạo, rượu chè... đã tạo cho các em một ấn tượng không tốt, điều đó có thể dẫn đến tình trạng HS trở nên lầm lì ít nói. Có em bị ảnh hưởng những thói quen không tốt đó nên đã có những hành vi cử xử không tốt với mọi người, lâu dần hình thành nên tính cách cá biệt của học sinh. Một số gia đình có thu nhập cao, mức sống khá giả, chiều mọi ý thích của con như mua điện thoại di động, máy tính, cho con tiền tiêu xài. Học sinh nam mê trò chơi điện tử. Học sinh nữ ăn diện, đòi hỏi cao về quần áo, giày dép, . Một số gia đình khác có sự trục trặc như cha mẹ ly hôn, ly thân, bất đồng quan điểm giáo dục, gây xung đột trong gia đình làm tổn thương đến con cái. Ngoài ra, còn một số gia đình do điều kiện làm việc bận rộn của cha mẹ như công tác xa nhà, làm việc căng thẳng, bận việc cơ quan hay kinh doanh, ít có điều kiện chăm sóc, quản lý con cái nên con cái được tự do sống theo ý thích. Cũng có một số gia đình thường dạy con bằng bạo lực như chửi bới, đánh đập gây cho trẻ em tính ương bướng, nói dối để đối phó. * Từ phía nhà trường: Đây là ngôi nhà thứ hai của các em, nơi để phụ huynh gửi gắm niềm tin vào việc giáo dục con em của họ, từ đây các em được học tập, được hiểu biết, được lớn lên về mọi mặt. Nhưng để đạt được đúng như điều vừa nêu cũng không phải là dễ. Khoảng thời gian đầu năm học, nhà trường có rất nhiều công việc cũng như hoạt động chung. Trong mỗi lớp có nhiều đối tượng học sinh, lại đa số là học sinh nam. Mỗi giáo viên chủ nhiệm cần phải quan tâm tới tất cả học sinh trong lớp và 8 đảm bảo mọi hoạt động học tập hay rèn luyện nên thời gian để sát sao, kèm cặp những bạn học sinh cá biệt chưa nhiều. Mặt khác, nếu dành quá nhiều thời gian cho những học sinh cá biệt có thể sẽ ảnh hưởng đến tâm lí của những bạn khác gây ra tác động ngược. * Từ phía xã hội: Ngoài môi trường gia đình và nhà trường ra, tính các của học sinh còn phụ thuộc rất lớn vào môi trường xã hội. Hiện nay do sự phát triển kinh tế - xã hội, sự phát triển của mạng lưới thông tin hiện đại, sự du nhập của nhiều loại hình văn hoá khác nhau đã ảnh hưởng không ít đến tầng lớp thanh thiếu niên. Các hình thức dịch vụ internet, các trò chơi điện tử, đã lôi kéo không ít học sinh đam mê những trò chơi vô bổ. * Từ phía bản thân học sinh: Do đặc điểm tâm sinh lý của học sinh, lứa tuổi mà nhiều người cho rằng “Ăn chưa no, lo chưa đến”, suy nghĩ còn non nớt, nhận thức chưa cao chính vì thế các em có những hành vi thiếu chuẩn xác là điều không thể tránh khỏi. Những học sinh cá biệt thường gặp phần lớn là những em có năng lực học tập còn hạn chế. Việc hạn chế trong tiếp thu kiến thức của các em cũng dẫn đến sự lười biếng, chán nản, muốn phá phách, nhất là đối với học sinh nam. Xét ở một khía cạnh khác thì cũng có thể các em vì tự ái về sự chê cười của thầy cô và bè bạn, các em muốn chứng minh cho mọi người thấy rằng mình học không tốt nhưng mình có thể nổi trội hơn về mặt khác. Cũng có thể các em muốn thu hút sự chú ý và nhận được sự quan tâm từ phía gia đình, thầy cô nên đã có những hành động vượt ra khỏi những quy định chung. Xuất phát từ những thực trạng trên, tôi đã mạnh dạn đưa ra một số biện pháp sau: 3. Các biện pháp 3.1. Biện pháp 1: Giáo dục tâm lý 9 Quan hệ thầy trò vốn là mối quan hệ tách biệt từ ngàn xưa. Trong nền giáo dục hiện tại, quan hệ đó đã được thay đổi, thầy trò ngày nay có tình cảm thân mật gắn bó hơn, có như vậy thì chúng ta mới thực hiện tốt được nhiệm vụ giáo dục toàn diện. Bởi có quan hệ gần gũi thì mới biết được những tâm tư nguyện vọng của các em chúng ta mới có những biện pháp giáo dục thích hợp. Để “thấy” được hết cá tính của học sinh, cần tạo được mối quan hệ gần gũi, thật sự là chỗ dựa đáng tin cậy của các em. Đối với học sinh cá biệt việc gần gũi với các em quả là một vần đề không đơn giản, nếu giáo viên chủ nhiệm thiếu tế nhị thì khó mà có thể gần gũi với các em được. Chẳng hạn thường xuyên phê bình, dùng nhiều lời xúc phạm đến các em,... đều có thể làm tổn thương đến mối quan hệ này. Hơn nữa vì các em thường xuyên vi phạm nên các em càng lẩn tránh tiếp xúc với giáo viên nhất là giáo viên chủ nhiệm lớp. Để “thấy” được hết cá tính của học sinh, giáo viên chủ nhiệm cần tạo được mối quan hệ gần gũi với các em, thật sự là chỗ dựa đángin t cậy nhất sau cha mẹ của các em. Khi giao tiếp với các em ta phải luôn cởi mở, chân tình, vui vẻ để cảm hóa được các em. Khi có được mối quan hệ tốt các em sẽ thổ lộ những tâm tư tình cảm mà không một chút ngần ngại. Những lời khuyên răn dạy bảo của chúng ta sẽ có tác dụng lớn đối với các em. 10 Luôn bên cạnh, động viên như một người bạn đáng tin cậy Trường hợp thứ nhất là em Võ Gia Minh lớp 5A4 do tôi chủ nhiệm là một học sinh thường xuyên không thuộc bài, lười làm bài tập, Em có ý định bỏ học nhưng vì gia đình ép nên em đành phải đi học. Em mặc cảm với bạn bè, với thầy cô, xa lánh mọi người, nhất là đối với tôi em lại càng lẩn tránh hơn. Thấy vậy tôi tìm cách gần gũi em bằng cách: Trong tuần học thứ 5 em không thuộc bài môn tiếng Anh và giáo viên bộ môn nhắc nhở trước lớp. Lẽ ra như các tuần trước, những em không thuộc bài sẽ bị nhắc nhở trước lớp, buộc viết bản cam kết, nhưng để có thể gần gũi em tôi không nhắc nhở việc không thuộc bài cũ mà trong tiết sinh hoạt này tôi chỉ chú ý đến việc nhắc nhở các em còn mất trật tự trong tiết học, tôi tìm cách tuyên dương em (bạn Minh là một học sinh học chưa tốt, tuy vậy bạn rất có tinh thần tập thể, trong tuần vừa qua bạn đã làm được một việc tốt, bạn đã giúp bạn Khánh trực nhật lớp vì thấy bạn Khánh bị ốm). Sau lần tuyên dương ấy em Minh có một thái độ khác, tôi nhận thấy em có mong muốn gần gũi với mọi người hơn. Thế là trong buổi lao động tôi tìm cách tâm sự cùng em, dần dần mối quan hệ giữa tôi và em ngày thêm gần gũi, lúc đó em mới thật sự thổ lộ hết mong muốn của mình. Em tâm sự với tôi rằng: “Em học chưa tốt, đó là điều em luôn mặc cảm, việc học đối với em như một gánh nặng, gia đình em chẳng ai giúp được gì cho em, nhà lại ở cách xa 11 các bạn, điều kiện gia đình lại khó khăn, em muốn nghỉ học về quê ở với ông bà, em nghĩ em học không tốt, có học nhiều sau này cũng chẳng làm được việc gì. Hơn nữa em về quê em có thể giúp đỡ ông bà....” Biết được tâm tư, nguyện vọng của em, tôi động viên em: “Em biết thương ông bà thật đáng khen nhưng việc em bỏ học về ở với ông bà thì càng làm ông bà buồn hơn, nếu hè em về thăm ông bà và có quà là tấm giấy khen thì đó mới là món quà mà ông bà em thích nhất. Em có muốn tặng món quà đó cho ông bà không? Nếu muốn thì cô sẽ giúp em thực hiện được điều đó.” Tôi thấy mắt em sáng lên, em khẽ gật đầu. Và sau hôm đó, trong các giờ học, tôi thường xuyên quan tâm em nhiều hơn, trao đổi với giáo viên bộ môn tạo điều kiện tốt hơn để em tự tin trong học tập, phân công các em học tốt hơn ở gần nhà đến giúp đỡ. Ở lớp, tôi phân một em học sinh nhận thức tốt, nhiệt tình ngồi cạnh để quan tâm nhiều đến em hơn. Dần dần em tự tin hơn, em được nhiều người quan tâm, em nỗ lực cố gắng và đã có những tiến bộ rõ nét, học kỳ I em đạt điểm khá ở các môn học, học kỳ II em ngày càng tiến bộ, tiếp tục rèn luyện chắc chắn em sẽ có một món quà ý nghĩa để hè mang về tặng ông bà. Trường hợp thứ hai là em Hưng, em là một học sinh có hoàn cảnh đặc biệt, cha bỏ đi, một mình mẹ nuôi em ăn học, vất vả vì công việc, thu nhập ít, đời sống vô cùng chật vật, không có thời giờ để quan tâm nhiều đến em. Hưng theo bạn đánh lộn, chơi điện tử, có hôm lấy trộm tiền của các bạn trong lớp. Sau khi theo dõi và tìm hiểu phân tích hoàn cảnh của Hưng tôi gặp riêng em sau giờ học cuối cùng của ngày thứ sáu - cả lớp đã ra về tôi gọi em ở lại để khuyên nhủ em, trước mặt tôi em rất ngoan ngoãn không có biểu hiện gì. Tôi bắt đầu từ việc hỏi thăm gia đình em, mẹ em: “Cô nghe nói vừa qua mẹ em bị ốm nặng bây giờ thế nào rồi Hưng? Cô đi cùng em về nhà để thăm mẹ nhé!” Trước sự quan tâm chân tình của cô giáo chủ nhiệm với bản tính lương thiện của trẻ em - Hưng nói chuyện với tôi chân 12 tình. Khi thấy em không ngần ngại gì trong tâm sự cùng tôi, tôi bắt đầu gợi ý nhắc nhở từng vi phạm của em, chú ý trong các vi phạm của em tôi đều đưa em vào thế bị lôi kéo theo bạn mà hư. Tôi dùng tình cảm của người mẹ để tâm sự cùng em: “Em là niềm an ủi duy nhất đối với mẹ - mẹ là chỗ dựa duy nhất của em, mẹ tần tảo nuôi em ăn học là muốn em trở thành người tốt, bao vất vả nặng nhọc mẹ đều gánh chịu để em được có điều kiện tốt mà học tập bằng bạn bằng bè, thế mà vừa rồi cô nghe mẹ bị bệnh là do biết em theo các bạn đi học về nhà muộn, trộm cắp. Hưng, em không thương mẹ sao?” Nói đến đây, tôi thấy đôi mắt em chớp chớp, rưng rưng... Tôi đã cảm hoá được em, từ đó tôi thường xuyên trao đổi với em, mỗi lần trao đổi riêng, tôi đều tìm cách khen ngợi những tiến bộ của em. Một trường hợp khác, gia đình kinh tế khá giả, cha mẹ buôn bán, lo việc kinh doanh không quan tâm đến việc học tập của con em, đó là gia đình em Dũng. Dũng là một học sinh học khá từ những năm trước. Bố đi làm xa, mẹ bận kinh doanh nên không có nhiều thời gian quan tâm đến con và bố mẹ Dũng hay cho con tiền để mua đồ chơi, ăn quà. Có tiền, cuối buổi học Dũng tha hồ chơi điện tử ... Với Dũng tôi dùng biện pháp khác, tôi theo dõi em nhiều hơn, hễ em có vi phạm gì là tôi biết ngay và mỗi lần trao đổi với em tôi đều đưa ra những chi tiết rất chính xác. Ví dụ: “Chiều ngày thứ hai em chơi điện tử ở quán với em Bình, sáng thứ ba em xin nghỉ học với lý do ốm nhưng cô biết em chơi điện tử với bạn An lớp 5A3. Tất cả việc làm của em cô đều biết. Em có biết vì sao cô biết nhiều về em như vậy không? Em biết vì sao cô quan tâm tới em nhiều không? Bố mẹ bận bịu công việc cốt tạo sự nghiệp và cũng là tạo điều kiện để em ăn học, lo cho tương lai của em. Nhiều bạn gia đình vất vả mà các bạn vẫn cố gắng học tốt như bạn Hưng, bạn Hằng. Còn em có điều kiện tốt mà không lo học tập, chơi bời với các bạn một thời gian rồi sẽ chán, em có thể chơi cả đời được không? Nếu bây giờ không lo học thì sau này em có thể làm được gì? Rồi cha mẹ em sẽ ra sao? Có xấu hổ với mọi người vì 13 đã có một đứa con như em không?” Dần dần Dũng thấy được cái sai của mình và cũng đã sửa đổi. Để giáo dục học sinh nói chung, học sinh cá biệt nói riêng thì giáo viên chủ nhiệm phải gần gũi, thấu hiểu, quan tâm và nắm chắc hoàn cảnh của từng học sinh trong lớp. Đối với học sinh, giáo viên phải bằng tấm lòng nhân ái, bao dung. Tôi luôn tâm đắc những dòng chữ của một thầy giáo người Nga đã viết: “Đến với một nhà giáo dục điểm chủ yếu là tình người. Đó cũng là nhu cầu sâu sắc trong lòng mỗi con người. Có lẽ mầm mống của hứng thú sư phạm là ở chỗ hoạt động sáng tạo đầy tình người để tạo ra hạnh phúc cho con người. Đó là một điều vô cùng quan trọng. Vì khi ta tạo ra niềm vui cho người khác, cho trẻ thơ thì ở họ sẽ có một tài sản vô giá: đó là tình người mà tập trung ở sự nhiệt tâm, thái độ ân cần, sự chu đáo, lòng vị tha”. Vì vậy, để thể hiên tình người và giáo dục cho HS biết quan tâm đến người khác, tôi cũng đã đề ra kế hoạch nhỏ tại lớp cùng ban cán sự lớp lập quỹ: “Tương thân tương ái”. Trong một năm học lớp tôi đã tự nộp tiền gây quỹ để ủng hộ trung tâm Hội người mù bằng cách mua tăm tre, ủng hộ các bạn trong trường có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn trong chương trình “Xuân ấm tình thương”, cùng các em học sinh trong lớp đến thăm học sinh ốm đau, động viên thăm hỏi khi gia đình các em có chuyện buồn, đồng thời hướng dẫn các em biết cách động viên chia sẻ với bạn khi bạn có chuyện không vui. Một việc nhỏ tuy đơn giản, hưngn với lứa tuổi học sinh lớp 5 các em cũng đã hiểu tình người, tình bạn, sự quan tâm mật thiết trong cuộc sống giữa con người với con người trong tập thể lớp. 3.2. Biện pháp 2: Giáo dục bằng tập thể Ở tuổi các em, bạn bè có một vị trí rất lớn trong mối quan hệ xã hội của các em, thường ở lứa tuổi này các em chưa ý thức được việc nào là cần thiết hơn, chính vì thế đa phần trong quan hệ với thầy cô giáo các em 14 thường có biểu hiện bao che cho nhau, nhất là những khi đề cập tới các đối tượng học sinh cá biệt, mặc dù biết việc làm của bạn là sai, tuy vậy khi hỏi đến phần lớn các em đều trả lời một câu chung nhất (không biết) - đối với những em có quan hệ gần gũi với học sinh cá biệt, cũng có thể các em ngại không dám nói ra sự thật vì sợ sự đe doạ của các bạn,... Nhưng phải nói rằng tất cả những suy nghĩ, những việc làm của các em cá biệt thì chính các em học sinh cùng lớp, cùng khối là biết rõ nhất. Về vấn đề này giáo viên chủ nhiệm cần khéo léo trong cách điều tra, có thể là điều tra bằng cách giao nhiệm vụ theo dõi tìm hiểu cho ban cán sự lớp hoặc một đối tượng học sinh đáng tin cậy nhất nào đó và sẽ trao đổi với các em bằng cách bảo mật thông tin. Thường thì những em này sẽ cung cấp cho chúng ta nguồn tin chính xác nhất. Sau khi nắm được thông tin, phân tích tình hình, tôi hướng dẫn các em gần gũi và giúp đỡ bạn, nên tạo được quan hệ tốt và nhất là tạo cho những em cá biệt có niềm tin với mình. Phải nói rằng trong quan hệ bạn bè các em sẽ bộc lộ rõ cá tính không e ngại. Tôi thường xuyên giữ mối quan hệ với các em này tìm hiểu những khó khăn khi phải thuyết phục học sinh cá biệt để tháo gỡ khó khăn cho các em, thường xuyên cung cấp biện pháp xử lý kịp thời những biến động của các đối tượng và động viên các em, tạo cho các em có niềm tin thuyết phục, giúp đỡ học sinh cá biệt tiến bộ. Trong biện pháp này cũng có thể dùng cách (lấy độc trị độc). Qua các hoạt động của lớp, giáo viên chủ nhiệm cần theo dõi kỹ, qua từng hoạt động các em có những biểu hiện như thế nào: say mê, hứng thú, nhiệt tình, tích cực hay qua loa chiếu lệ, đùn đẩy, ... Hoạt động này em thích dẫn đến nhiệt tình, hoạt động kia không thích thì né tránh. 15 Từ việc theo dõi trên giáo viên chủ nhiệm sẽ có biện pháp phát huy sở trường của từng em lấy đó làm đòn bẩy để tiến hành ngăn chặn những biểu hiện tiêu cực khác nảy sinh ở các em. Ví dụ: Em Lộc là học sinh thường xuyên nói chuyện riêng trong lớp, khi ban cán sự lớp nhắc nhở là em hăm doạ đánh bạn. Để vừa ngăn chặn được sự mất đoàn kết trong lớp đồng thời xây dựng nề nếp tiết học tốt tôi phân em làm lớp phó kỷ luật - giao nhiệm vụ theo dõi các bạn đồng thời trước lớp tôi quy định những em cán sự lớp phải luôn gương mẫu đi đầu trong mọi hoạt động, nếu vi phạm thì hình thức kỷ luật sẽ nặng hơn. Khi nhận chức danh lớp phó Lộc rất thích. Tuần đầu tiên Lộc có tiến bộ nhưng vẫn còn một vài lần bị nhắc nhở là nói chuyện riêng, cuối tuần nhận xét tình hình chung của lớp tôi cho các em phát biểu nhắc nhở vai trò trách nhiệm của Lộc sau đó nhận xét chung. “Tuy rằng trong tuần qua bạn Lộc vẫn còn sai sót - có vi phạm kỷ luật, nhưng so với các tuần trước nề nếp của lớp ta tuần này tiến bộ hơn và bản thân Lộc cũng có tiến bộ, vì sự tiến bộ của lớp ta có thể xí xoá cho bạn và cho bạn cơ hội để khẳng định vai trò của mình ở tuần học tiếp theo”. Về sau Lộc đã ý thức được trách nhiệm của mình và không còn vô kỷ luật như trước nữa. Đặt niềm tin ở các em Đối với những đối tượng thích gây rối tập thể, nghịch ngợm (lớp bị nhác nhở là niềm vui của các em)... Đối với đối tượng này tôi dùng cách 16 đẩy mạnh các hoạt động của lớp để các em thấy được những việc làm của mình không có tác dụng gì khi cả lớp đều có chung một sự quyết tâm nỗ lực vươn lên, làm cho các em bị tách ra khỏi tập thể, không thể gây rối tập thể được và vô hiệu hoá những hành động nghịch ngợm của các em. Không làm hại được tập thể lại bị tách ra khỏi tập thể, các em tự khắc thấy mình như bị hụt hẫng, xấu hỗ. Từ đó chính các em có mong muốn được sống chung trong một tập thể đoàn kết. Khi các đối tượng này thấy được những lỗi lầm của mình, giáo viên chủ nhiệm lớp cần động viên học sinh trong lớp gần gũi khích lệ để các em hoà nhập với tập thể. Hòa mình vào tập thể, được nhận sự hỗ trợ Phát huy hiệu quả củaBan cán sự lớp trong việc rèn nền nếp của lớp. Phối hợp đội cờ đỏ kiểm tra việc thực hiện quy định nề nếp chung của trường. 3.3. Biện pháp 3: Phối, kết hợp với phụ huynh học sinh 17 Để giáo dục các em học sinh cá biệt thì chỉ một mình giáo viên chủ nhiệm thì chưa đủ mà cần phải có sự phối hợp chặt chẽ giữa giáo viên với phụ huynh học sinh. Đây là mối quan hệ mật thiết và không thể thiếu được. Bởi giáo dục học sinh không chỉ là công việc của giáo viên chủ nhiệm mà còn là trách nhiệm của toàn xã hội đối với thế hệ trẻ. Trong thời đại công nghệ thông tin phát triển, người giáo viên chỉ cần vài giây chụp lại hình ảnh học sinh làm được một việc làm đáng tuyên dương. Ví dụ: Em nhỏ ngã - nâng em dậy, nhặt rác trên sân trường bỏ vào thùng rác, vệ sinh khu di tích ở địa phương, Giáo viên đưa hình ảnh lên màn hình để các bạn trong lớp ghi nhận thành tích của bạn, như vậy em được tuyên dương rất phấn khởi và các em khác trong lớp sẽ học tập bạn một cách nhẹ nhàng. Những hình ảnh đó giáo viên có thể gửi hình ảnh chia sẻ để phụ huynh động viên con em kịp thời. Và ngược lại cha mẹ học sinh cũng gửi hình ảnh về sự tiến bộ của con ở nhà để cô tuyên dương trước lớp. Có thể trao đổi qua các cuộc họp phụ huynh học sinh chung của lớp, giáo viên báo cáo kết quả rèn luyện của từng em và có thể mời phụ huynh các đối tượng này ở lại để trao đổi riêng, tránh sự mặc cảm của phụ huynh. 18 Có thể trao đổi qua việc đến thăm gia đình học sinh. Thường học sinh cá biệt thì lại có phụ huynh “cá biệt”; một là không quan tâm đến việc học của con em, hoặc không dám đối diện với sự thật về những sai phạm của con mình, ... Thường những phụ huynh này ít tham gia vào các cuộc họp chung kể cả những lúc có giấy mời riêng cùng không đến. Đối với đối tượng này giáo viên chủ nhiệm cần nhiệt tình hơn, có thể đến thăm gia đình để tìm hiểu điều kiện sinh hoạt của gia đình và nắm được tình hình của các em ở nhà, thường những đối tượng này họ ngại nói những điều sai của con em họ vì thế tôi tổng hợp những điểm tốt mà các em có được dù đó chỉ là một việc không đáng kể để khen ngợi các em, sau đó tôi lồng một vài khuyết điểm của các em; tránh nêu hoàn toàn hoặc một loạt khuyết điểm thì phụ huynh sẽ có sự mặc cảm, hoặc nảy sinh sự tiêu cực, buông xuôi, ngại nói ra những điều mà ta cần tìm hiểu, trao đổi. Có thể trao đổi bằng sổ liên lạc. Mỗi em có một sổ liên lạc giữa phụ huynh và giáo viên chủ nhiệm lớp. Đầu năm học tôi yêu cầu phụ huynh ghi đầy đủ thông tin và ký tên vào sổ, nộp cho giáo viên chủ nhiệm, hằng tuần có việc cần thiết liên hệ với phụ huynh, giáo viên chủ nhiệm sẽ ghi vào sổ để các em đem về trình với phụ huynh vào ngày thứ bảy và nộp lại cho giáo 19 viên chủ nhiệm vào thứ hai. Cách làm này cũng có thể thường xuyên trao đổi với phụ huynh và kịp thời giáo dục, chấn chỉnh những sai phạm của các em. 3.4. Biện pháp 4: Kết hợp giáo dục qua giáo viên bộ môn Một phần biểu hiện cá biệt của các em là do quan hệ giữa giáo viên và học sinh chưa tốt, có em có những phản kháng đối với những hành động quá đáng của một vài giáo viên. Ví dụ như có giáo viên dùng những lời quá nặng nề trong việc nhận xét học sinh không thuộc bài cũ, không hiểu được bài hay có những biểu hiện áp đặt, thiếu công bằng, ... Để xác định chính xác cá biệt của học sinh từ nguyên nhân này hay không, tôi thăm dò hỏi tất cả giáo viên dạy bộ môn của lớp để có biện pháp giáo dục thích hợp và cũng từ đó tôi có thể góp ý ngay với giáo viên trong việc cần phải tôn trọng và công bằng trong đối xử với học sinh. Cũng có thể do tính cách cá biệt của các em, ở mỗi môn học em có một biểu hiện cá biệt khác nhau, tôi tổng hợp các ý kiến để xác định nguyên nhân cơ bản. Từ việc trao đổi trên tôi tìm ra những ưu điểm của các em để động viên đồng thời lồng vào từng chút một những khuyết điểm của các em để nhắc nhở khắc phục. Ví dụ: em Nguyễn Đăng Khôi là một học sinh cá biệt của lớp tôi chủ nhiệm. Các môn học thuộc lĩnh vực tự nhiên em học rất tốt, nhưng các môn đòi hỏi học thuộc bài thì em học chưa tốt. Em luôn đem đến sự phiền toái cho lớp như thường xuyên nói chuyện trong giờ học, bỏ học đi chơi điện tử. Cha mẹ em rất buồn, lớp thường xuyên bị mất điểm thi đua. Đối với đối tượng này tôi theo dõi thật sát đồng thời cứ mỗi lần không thuộc bài tôi cho em viết một bản kiểm điểm, cam kết với giáo viên bộ môn và cam kết với lớp. Sau đó tôi trao đổi với giáo viên bộ môn về tính cách cá biệt của em đồng thời mong muốn có sự kết hợp giáo dục bằng cách thường 20 xuyên kiểm tra bài em, nhất là trong tiết học luôn gọi em phát biểu trước lớp ưu tiên chọn những câu hỏi tương đối dễ để em trả lời được và thường xuyên khen để khích lệ em, nên bỏ qua lỗi nhỏ của em. Với biện pháp trên qua một học kỳ em Khôi đã tiến bộ rõ rệt cuối năm học em đã đạt được danh hiệu học có tiến bộ vượt bậc. Vì vậy giáo viên chủ nhiệm phải là: “cầu nối đa năng”, phối hợp với giáo viên bộ môn trong công tác giảng dạy và quản lý. Công tác phối hợp giữa giáo viên bộ môn và giáo viên chủ nhiệm sẽ làm cho công tác chủ nhiệm thành công hơn - đặc biệt là sự duy trì sĩ số học sinh. Học sinh có thể thích học môn này, không thích môn kia vì những lý do khác nhau nên giáo viên chủ nhiệm cần tìm hiểu cặn kẽ các nguyên nhân để cùng với giáo viên bộ môn đề ra các biện pháp thích hợp nhằm giúp các em có thể có kết quả học tập tốt hơn từ đó các em sẽ hứngthú học tập và đi học đều đặn hơn. 3.5. Biện pháp 5: Kết hợp với các ban ngành, các bộ phận trong và ngoài nhà trường. * Kết hợp với tổ chức Đội thiếu niên Đây là tổ chức chuyên về mảng giáo dục đạo đức học sinh. Tổ chức này có ban chỉ huy liên chi đội, có đội sao đỏ thường xuyên theo dõi các hoạt động của toàn trường và từng lớp học, có một tổng phụ trách Đội chuyên trách tổ chức các hoạt động Đội và kịp thời xử lý những vi phạm của học sinh, hơn thế nữa có phong trào thi đua làm đòn bẩy nên thường các biện pháp luôn đạt hiệu quả giáo dục cao.
File đính kèm:
giai_phap_ren_luyen_va_giao_duc_hoc_sinh_ca_biet.pdf



