Một số biện pháp nâng cao kĩ năng vẽ người cho học sinh tiểu học thông qua các hoạt động học tập, trải nghiệm
Bạn đang xem nội dung tài liệu Một số biện pháp nâng cao kĩ năng vẽ người cho học sinh tiểu học thông qua các hoạt động học tập, trải nghiệm, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút TẢI VỀ ở trên
I. PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài “ Một số biện pháp nâng cao kĩ năng vẽ người cho học sinh tiểu học thông qua các hoạt động học tập, trải nghiệm” Mĩ thuật là môn học thuộc lĩnh vực giáo dục nghệ thuật. Trong chương trình giáo dục phổ thông, môn Mĩ thuật hình thành, phát triển ở học sinh năng lực mĩ thuật, biểu hiện của năng lực thẩm mĩ trong lĩnh vực mĩ thuật; đồng thời góp phần cùng các môn học và hoạt động giáo dục khác hình thành, phát triển ở học sinh các phẩm chất chủ yếu và năng lực chung, đặc biệt là giáo dục ý thức kế thừa, phát huy văn hoá nghệ thuật dân tộc phù hợp với sự phát triển của thời đại. Chương trình môn Mĩ thuật được xây dựng theo cấu trúc tuyến tính và đồng tâm với hai mạch nội dung mĩ thuật tạo hình và mĩ thuật ứng dụng; tạo cơ hội cho học sinh được trải nghiệm và vận dụng mĩ thuật vào đời sống; giúp học sinh nhận thức được mối liên hệ giữa mĩ thuật với văn hoá, xã hội, kết nối mĩ thuật với các môn học và hoạt động giáo dục khác; làm tiền đề cho học sinh định hướng nghề nghiệp trong tương lai, cũng như chủ động tham gia các hoạt động văn hoá nghệ thuật và đời sống xã hội. Chương trình môn Mĩ thuật giúp học sinh hình thành, phát triển năng lực mĩ thuật dựa trên kiến thức và kĩ năng mĩ thuật; nhận thức được mối quan hệ giữa mĩ thuật với đời sống, xã hội và các loại hình nghệ thuật khác; có ý thức trân trọng di sản văn hoá, nghệ thuật và khả năng ứng dụng kiến thức, kĩ năng mĩ thuật vào đời sống; có hiểu biết tổng quát về ngành nghề liên quan đến nghệ thuật thị giác và khả năng định hướng được nghề nghiệp cho bản thân; trải nghiệm và khám phá mĩ thuật thông qua nhiều hình thức hoạt động; góp phần hình thành, phát triển các phẩm chất yêu nước, nhân ái, chăm chỉ, trung thực, trách nhiệm; các năng lực tự chủ và tự học, giao tiếp và hợp tác, giải quyết vấn đề và sáng tạo. Môn Mĩ thuật giúp học sinh bước đầu hình thành, phát triển năng lực mĩ thuật thông qua các hoạt động trải nghiệm; biết thể hiện cảm xúc, trí tưởng tượng về thế giới xung quanh, từ đó hình thành năng lực giao tiếp, hợp tác, giải quyết vấn đề và sáng tạo; bước đầu làm quen, tìm hiểu và cảm nhận vẻ đẹp của sản phẩm, tác phẩm nghệ thuật, hình thành năng lực tự chủ và tự học; góp phần hình thành các phẩm chất yêu nước, nhân ái, chăm chỉ, trung thực, trách nhiệm. Cảm thụ cái đẹp để sống đẹp, lấy những cái đẹp để giáo dục con người như vậy học mĩ thuật không chỉ giúp các em phát triển khả năng nhận thức thẩm mĩ, khả năng tư duy sáng tạo và tính ứng dụng cao vào thực tiễn cuộc sống, phát huy nghệ thuật một cách khoa học, mà còn tạo cho các em những phẩm chất đạo đức tốt đẹp. Với môn Mĩ thuật hiện nay, học sinh được làm quen và trải nghiệm học tập với rất nhiều hình thức thực hành. Tôi nhận thấy cái khó chung của học sinh tiểu học đều là vẽ về người, hầu như các em vẽ chưa mạnh dạn, tỉ lệ chưa hợp lí, dáng người thì đơn giản ít hoạt động, các em không biết vẽ sao để thể hiện được các tư thế hoạt động của dáng người mà mình muốn vẽ. Từ việc làm thế nào giúp các em có thể vẽ được người tốt hơn trong các bài vẽ dáng người hay vẽ tranh đề tài và thông qua đó giúp các em hình thành các năng lực, phẩm chất riêng để tự tin và yêu thích môn mĩ thuật hơn. Chính vì vậy mà tôi lựa chọn “ Một số biện pháp nâng cao kĩ năng vẽ người cho học sinh tiểu học thông qua các hoạt động học tập, trải nghiệm” để nghiên cứu. 2. Mục đích nghiên cứu Dựa trên việc tìm hiểu thực trạng của việc giảng dạy và học tập môn Mĩ thuật ở cấp tiểu học hiện nay, việc giúp học sinh có thể hiểu và vẽ được người là rất cần thiết. Đối với một bài vẽ người hay một đề tài vẽ tranh về nội dung có hoạt động của con người thì hình ảnh chính tạo cho bức tranh sinh động đó chính là hình ảnh con người. Ngoài ra, qua biện pháp nghiên cứu sẽ cho ta thấy rõ các năng lực mĩ thuật mà học sinh sẽ đạt được thông qua việc tìm hiểu và vẽ người đó là: Quan sát và nhận thức thẩm mĩ; Sáng tạo và ứng dụng thẩm mĩ; Phân tích và đánh giá thẩm mĩ. Học sinh có thể hình thành năng lực quan sát thẩm mĩ, nhận biết được một số yếu tố thẩm mĩ qua cơ thể, đường nét, hình dáng và hoạt động của con người. Bước đầu biết cảm nhận vẻ đẹp của đối tượng thẩm mĩ và sau đó biết liên tưởng để áp dụng đưa vào các sản phẩm sáng tạo khác. Góp phần hình thành cho học sinh những phẩm chất cụ thể như: biết yêu quý bản thân, chăm sóc và bảo vệ cơ thể mình, biết rèn luyện sức khoẻ, tôn trọng và yêu quý mọi người xung quanh mình 3. Nhiệm vụ nghiên cứu - Tìm hiểu thực trạng việc vẽ dáng người của học sinh tiểu học. - Tìm hiểu nguyên nhân học sinh vẽ dáng người chưa đẹp. - Đưa ra một số biện pháp nâng cao kĩ năng vẽ người cho học sinh tiểu học. - Từ kết quả nghiên cứa rút ra một số kinh nghiệm, bài học cho bản thân. 4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu - Đối tượng:“ Một số biện pháp nâng cao kĩ năng vẽ người cho học sinh tiểu học thông qua các hoạt động học tập, trải nghiệm”. - Phạm vi nghiên cứu: Học sinh trường tôi năm học 2024- 2025. 5. Phương pháp nghiên cứu Để nghiên cứu đề tài này tôi đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau: - Phương pháp thu thập thông tin. - Phương pháp nghiên cứu thực tiễn. - Phương pháp phỏng vấn. - Phương pháp quan sát. - Phương pháp phân tích và đánh giá. II. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 1. Cơ sở lý luận Trong trường tiểu học, cùng với các môn khoa học tự nhiên và xã hội thì môn Mĩ thuật là một mảnh ghép có vai trò quan trọng góp phần hoàn thiện giáo dục cho học sinh. Về bản chất con người môn Mĩ thuật rèn luyện cho các em có tâm hồn thẩm mĩ, quy luật cái đẹp luôn gắn liền với giác quan thẩm mĩ. Thông qua đó các em biểu hiện thái độ đánh giá, nhận xét các hiện thực trong xã hội góp phần làm phong phú hiện thực cuộc sống. Có thể thấy môn Mĩ thuật là môn học rất cần thiết cho học sinh trong xã hội hiện nay, bởi môn Mĩ thuật giúp học sinh phát triển một cách toàn diện. Học sinh không chỉ có kiến thức mà còn phát triển được các năng lực của bản thân, rèn luyện những phẩm chất tốt đẹp cho mình. Ngoài ra các em còn trang bị những kiến thức cơ bản nhất về nghệ thuật tạo hình, trên cơ sở đó biết vận dụng vào cuộc sống hàng ngày, góp phần vào mục tiêu đào tạo con người trong thời đại mới. 2. Cơ sở thực tiễn 2.1. Thực trạng Hiện nay môn Mĩ thuật thực hiện việc dạy học theo Chương trình giáo dục phổ thông 2018 đều lấy học sinh làm trung tâm, chú trọng đổi mới phương pháp, vận dụng đa dạng hình thức, không gian học tập, các chất liệu, vật liệu sưu tầm, tái sử dụng trong thực hành, sáng tạo. Thông qua lồng ghép thảo luận nghệ thuật và thực hành nghệ thuật, học sinh đồng thời vừa là “ người sáng tạo nghệ thuật” vừa là “ người thưởng thức nghệ thuật”. Từ thực tế giảng dạy và học tập của học sinh trong môn Mĩ thuật cấp tiểu học, cần nâng cao nhận thức thẩm mĩ và khả năng sáng tạo không chỉ cho giáo viên mà cho cả học sinh. Giáo viên còn gò ép học sinh theo khuôn mẫu của cô, chưa tạo điều kiện cho học sinh suy nghĩ, tìm tòi và thể hiện bằng cách nhìn, cách nghĩ và quan trọng hơn cả là bằng cảm xúc và sự thích thú của chính mình. Từ thực tế giảng dạy tôi thấy những thuận lợi và khó khăn như sau: * Thuận lợi + Luôn nhận được sự quan tâm của BGH nhà trường trong việc đổi mới phương pháp dạy học nhằm đạt những mục tiêu chương trình GDPT 2018 đề ra. Nhà trường đã trang bị đầy đủ thiết bị, đồ dùng dạy học và tạo điều kiện cho giáo viên được học, tập tham gia tập huấn để nâng cao năng lực chuyên môn. + Đội ngũ giáo viên có năng lực, trình độ và sự đoàn kết cao, luôn quan tâm, giúp đỡ, chia sẻ kinh nghiệm với đồng nghiệp trong trong công tác giảng dạy học và dục học sinh. + Đa số học sinh đã chuẩn bị đồ dùng học tập. + Được sự quan tâm của phụ huynh luôn hỗ trợ và phối hợp tích cực cho các em tham gia vào các hoạt động học tập để học sinh phát huy được năng lực, phẩm chất của bản thân. * Khó khăn + Phần lớn trong các tiết mĩ thuật là vẽ một cách máy móc để hoàn thành bài mà không có sự tìm hiểu quan sát, các em chưa sử dụng các bước vẽ một cách rõ ràng làm cho hình vẽ thiếu cân đối. + Số học sinh chưa biết cách vẽ và còn gặp nhiều khó khăn khi vẽ người chiếm tỉ lệ rất nhiều trong mỗi khối lớp, việc các em không vẽ được người dẫn đến các em rất khó áp dụng vào các chủ đề vẽ tranh đề tài, việc tạo ra được những bức tranh đẹp là rất khó dẫn đến số học sinh có bài vẽ tốt trong các bài học là rất ít. Việc vận dụng vào các hình thức thực hành khác như xé dán, tạo hình cũng sẽ gặp khó khăn. + Một số học sinh đi học vẫn còn quên đồ dùng và chưa có đủ đồ dùng phục vụ việc học tập. + Nhận thức của một số phụ huynh chưa coi trọng môn học, còn cho rằng đó là môn học phụ nên chưa thực sự quan tâm. Sau một thời gian giảng dạy và thu thập thông tin về kỹ năng vẽ người của học sinh tiểu học tại đơn vị nơi tôi công tác, tôi thu được bảng số liệu sau: Thời gian Khối Sĩ Chưa biết vẽ Biết vẽ dáng Vẽ tốt dáng người lớp số dáng người người SL % SL % SL % Tuần Khối 1 75 30 40 35 46,6 10 13,3 5 Khối 2 84 24 20,8 47 55,9 13 15,4 Khối 3 89 21 23,6 53 59,5 15 16,8 Khối 4 71 18 25,3 51 71,8 12 17 Khối 5 90 19 21,1 53 58,8 18 20 Qua bảng số liệu trên cho thấy: số lượng học sinh vẽ tốt dáng người còn ít, vẫn còn số lượng học sinh chưa biết vẽ dáng người và tôi đã tìm hiểu nguyên nhân. 2.2. Nguyên nhân Từ những khó khăn trên cho thấy, còn nhiều học sinh chưa có hứng thú trong giờ học do một số nguyên nhân sau: - Nhiều học sinh còn rụt rè, nhút nhát, chưa tự tin, chưa mạnh dạn chủ động khi tham gia hoạt động, chưa phối hợp cùng bạn, trong các hoạt động nhóm. - Học sinh chưa tự tin khi vẽ nên sự hứng thú trong tiết học chưa cao. - Tâm lý sợ bài vẽ của mình vẽ như vậy là chưa đẹp nên chưa mạnh dạn và tích cực thể hiện đúng được hết khả năng của mình. - Hình vẽ chưa sinh động, các nhân vật trong tranh có tỉ lệ quá nhỏ, dáng người thì đơn giản ít hoạt động, các em không biết vẽ sao để thể hiện được các tư thế hoạt động của dáng người mà mình muốn vẽ. - Một số giáo viên chưa thực sự đổi mới phương pháp và hình thức tổ chức dạy học, chưa tạo được sự hấp dẫn cho học sinh. 3. Các biện pháp 3.1. Biện pháp 1: Tích hợp liên môn thay đổi cách đặt vấn đề vào bài mới Trong một giờ học, nếu ngay từ phần vào bài giáo viên đã tạo ra sự hứng thú cho học sinh, chắc chắn trong những phút tiếp theo, các em sẽ hào hứng hơn với những hoạt động do giáo viên tổ chức. Do đó phần vào bài có vai trò quan trọng đến hoạt động dạy cũng như kích thích quá trình tiếp thu kiến thức của học sinh trong một tiết dạy. (Hình ảnh HS vận động theo bài hát: Head, shoulders, knees and toes) Ở đây tôi sử dụng phương pháp dạy học tích hợp liên môn Tiếng Anh, học sinh quan sát và vận động theo bài hát Head shoulders knees and toes, bởi đây là bài hát mà các em đã được thực hiện rất thường xuyên trong môn học Tiếng Anh nên khi được đưa vào khởi động cho môn Mĩ thuật khiến cho học sinh thấy rất thích thú, ngoài ra còn phát triển năng lực thể chất giúp cho các em tự tin, biết quan sát và vận động cơ thể, hào hứng và thêm yêu thích môn học. Giáo viên kết hợp cho học sinh tìm hiểu các bộ phận trên cơ thể bằng tiếng anh qua bài hát mà các em vừa vận động. Ngoài những bộ phận bằng tiếng anh học sinh vừa kể có trong bài hát thì kể thêm các bộ phận khác của cơ thể người bằng tiếng anh mà em biết. 3.2. Biện pháp 2: Tích hợp trò chơi với thực hành mĩ thuật Tổ chức trò chơi học tập giúp học sinh thay đổi trạng thái và cách thức học tập, tạo không khí học tập vui vẻ, thân thiện, thúc đẩy hứng thú và phát triển tâm lí học tập thoải mái ở học sinh; giúp các em mạnh dạn tự tin, thể hiện tinh thần đoàn kết, hợp tác, ý thức trách nhiệm, tôn trọng kỉ luật trong hoạt động chơi và học; nhờ đó làm tăng hiệu quả học tập ở học sinh. Trò chơi : Nhìn dáng đoán hoạt động Trò chơi “ Nhìn dáng đoán hoạt động” tôi chia lớp thành 2-3 đội, mỗi đội sẽ cử ra 2-3 bạn lên tạo những dáng bất kì có thể di chuyển, có thể đứng im và đội bên kia sẽ đoán xem đội bạn đang tạo dáng hoạt động gì. Ở trò chơi này tôi nhận thấy học sinh rất hứng thú và mạnh dạn tham gia. Từ trò chơi học sinh sẽ quan sát nhận thấy những vận động của cơ thể người và vận dụng khi đưa vào để vẽ người. Kết hợp cho học sinh dùng phấn vẽ phác hoạ nhanh tư thế bạn đang diễn tả lên bảng con. Vì là vẽ bằng phấn trên bảng con nên học sinh làm rất nhanh, các em không bị mang tâm lí lo lắng vẽ hình chưa được đẹp vì tẩy xoá chỉnh sửa hình rất dễ dàng. Sau đó chọn ra vài bài vẽ bảng tốt để động viên khen ngợi. Việc dùng phấn vẽ trên bảng con sẽ giúp các em luyện cách vẽ tốt hơn trước khi vẽ vào giấy. Trò chơi xem ai vẽ nhanh từ khung dáng người que yêu cầu học sinh vẽ các nét để tạo thành một người hoàn chỉnh. 3.3. Biện pháp 3: Sử dụng đồ dùng dạy học tự làm có tính sáng tạo Để có được sự dễ hiểu nhất khi hướng dẫn học sinh vẽ người thì đồ dùng trực quan rất cần thiết. Do vậy tôi đã đầu tư thời gian, công sức sáng tạo những đồ dùng dạy học phù hợp. Bởi đồ dùng dạy học không chỉ là phương tiện của việc dạy mà còn là phương tiện của việc học, đồ dùng dạy học không chỉ minh hoạ kiến thức mà còn là nơi chứa đựng nguồn thông tin học sinh phải khai thác để lĩnh hội kiến thức cho bản thân. (Hình ảnh HS tạo các dáng người) Bộ đồ dùng minh hoạ người có thể dễ dàng thay đổi các dáng người khác nhau, được làm tương đối đơn giản, vật liệu dễ tìm mua được và giá thành khá rẻ. Mỗi bộ phận và mỗi các khớp đều được liên kết bằng ghim cánh phượng giúp dễ dàng thay đổi dáng người, giúp học sinh quan sát rất dễ dàng. Học sinh được trực tiếp sử dụng, tạo các dáng người theo ý thích nên các em rất thích thú. Bộ đồ dùng phù hợp với đặc điểm và nguyên tắc dạy học môn Mĩ thuật, góp phần giải quyết nhiệm vụ học tập của học sinh. Đảm bảo tính khoa học, tính thẩm mĩ, tính sư phạm, tính tiện lợi và an toàn. Đảm bảo phù hợp với tâm lí lứa tuổi và sự phát triển nhận thức của học sinh. Phù hợp với định hướng đổi mới phương pháp dạy học Mĩ thuật trong trường học. 3.4. Biện pháp 4: Sử dụng sơ đồ tư duy Học sinh hoạt động theo nhóm 4-6 thảo luận và sử dụng sơ đồ tư duy để các em tự tìm hiểu và khám phá trao đổi với nhau về các hoạt động của con người và các bộ phận của con người. Học sinh có thể viết hoặc vẽ theo sự sáng tạo của mình. (Sản phẩm của HS vẽ SĐTD) Với phương pháp truyền thống thì giáo viên thường đặt câu hỏi sau đó yêu cầu học sinh trả lời như: Kể tên các bộ phận chính trên cơ thể ngươi? Nêu một số dáng hoạt động của con người?...với việc sử dụng sơ đồ tư duy trong môn Mĩ thuật học sinh tham gia vào quá trình làm việc tích cực, đồng đều; giúp các em mở rộng, đào sâu và kết nối bao quát được ý tưởng về chủ thể ở đây là “ Người”. Đây cũng là hình thức mới trong tổ chức dạy học theo nhóm nên khi áp dụng học sinh thấy rất mới mẻ và hứng thú. 3.5. Biện pháp 5: Giáo viên thị phạm bảng cho học sinh quan sát Là một giáo viên mĩ thuật thì việc thị phạm bảng là rất cần thiết, thể hiện được năng lực chuyên ngành học và cũng như rèn chuyên môn cho chính bản thân mình. ( Hoạt động GV thị phạm bảng ) Học sinh cảm thấy cô giáo của mình thật giỏi, vẽ thật đẹp và sẽ rất chăm chú khi nhìn cô vẽ, cũng sẽ thấy mong muốn bản thân mình có thể vẽ được đẹp như thế.Từ đó các em có thêm động lực học tập. Việc thị phạm bảng sẽ giúp cho học sinh quan sát các bước vẽ, cách đi nét chân thực nhất giúp các em nắm bắt được cách vẽ một cách dễ hiểu nhất. III. KẾT QUẢ VÀ ỨNG DỤNG 1. Kết quả Sau khi áp dụng một số biện pháp trên, HS từ lối tiếp nhận kiến thức một cách thụ động đã chuyển sang tiếp nhận chủ động theo hướng phát triển năng lực dựa trên kiến thức và kĩ năng mĩ thuật. HS thích thú khi được làm quen với cách dạy mới của GV, có kĩ năng quan sát và vận dụng thực hành tốt hơn, tự tin tham gia vào các hoạt động học tập. Kĩ năng khi vẽ người có sự tiến bộ rất nhiều, ngay cả trong các bài cắt dán người, tạo hình về người hay tranh đề tài về con người thì sản phẩm đều cải thiện tốt hơn trước. * Kết quả trước khi áp dụng biện pháp. Thời gian Khối Sĩ Chưa biết vẽ Biết vẽ dáng Vẽ tốt dáng lớp số dáng người người người SL % SL % SL % Khối 1 75 30 40 35 46,6 10 13,3 Tuần 5 Khối 2 84 24 20,8 47 55,9 13 15,4 Khối 3 89 21 23,6 53 59,5 15 16,8 Khối 4 71 18 25,3 51 71,8 12 17 Khối 5 90 19 21,1 53 58,8 18 20 - Kết quả sau khi áp dụng biện pháp. Khối Sĩ Chưa biết vẽ Biết vẽ dáng Vẽ tốt dáng Thời dáng người người người gian lớp số SL % SL % SL % Khối 1 75 0 0 20 26,6 55 73,3 Khối 2 84 0 0 21 25 63 75 Giữa Khối 3 89 0 0 19 21,3 70 78,6 học kỳ Khối 4 71 2 0 0 18 25,3 53 74,6 Khối 5 90 0 0 17 18,8 73 81,1 Nhìn vào bảng số liệu trên, ta thấy kết quả trước và sau khi áp dụng có sự tiến bộ rõ rệt học sinh vẽ tốt dáng người chiếm tỷ lệ cao, không còn hs chưa biết vẽ dáng người. Như vậy có thể khẳng định “ Biện pháp nâng cao kĩ năng vẽ người cho học sinh tiểu học thông qua các hoạt động học tập, trải nghiệm” Đã đem lại hiệu quả và có tính khả thi. Tôi sẽ tiếp tục áp dụng trong các năm học tiếp theo để các em có hứng thú hơn trong học tập, thích thú chờ mong được học những bài học tiếp theo. 2. Ứng dụng - Biện pháp đã được áp dụng từ khối 1 đến khối lớp 5 tại đơn vị tôi công tác năm học 2024- 2025. - Biện pháp có thể lan rộng tới tất cả các trường Tiểu học trong toàn huyện Yên Thế. IV. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 1. Kết luận. 1.1. Ý nghĩa của biện pháp: Việc giảng dạy và học tập theo phương pháp mới giúp học sinh có được những trải nghiệm để gợi mở cách nhìn nhận, sự tò mò, trí tưởng tượng, phát triển sức sáng tạo và biểu đạt; học sinh có động lực mang tính tinh thần, hạn chế được cảm giác lo sợ vì không biết vẽ hay vẽ chưa được đẹp. Học sinh được bồi dưỡng rèn luyện óc quan sát, cách so sánh sự vật hiện tượng, giúp các em tìm tòi thể hiện vươn tới cái đẹp. Một điều không thể không nhắc tới đó là học sinh yêu thích môn học hơn, hứng thú và tự tin hơn khi vẽ, tiết học trở nên thoải mái và nhẹ nhàng hơn. Vì vậy để nâng cao kĩ năng vẽ người cho học sinh thì người giáo viên luôn phải thay đổi phương pháp và hình thức tổ chức dạy học một cách sáng tạo và linh hoạt, ngoài ra kết hợp sử dụng đồ dùng dạy học tự làm và ứng dụng công nghệ thông tin để bài học luôn mới mẻ và hấp dẫn học sinh, cũng là một cách để giáo viên tự rèn luyện về chuyên môn và khả năng công nghệ của bản thân. Áp dụng trò chơi phù hợp trong từng bài học và luôn gắn kiến thức vào thực tế để các em học sinh có thể phát triển một cách toàn diện cả về kiến thức kĩ năng, năng lực và phẩm chất. 1.2. Bài học kinh nghiệm: + Kiên trì, chịu khó nghiên cứu bài dạy một cách chu đáo. + Phải nắm vững nội dung yêu cầu, nhiệm vụ của từng tiết dạy cụ thể, nắm được đặc điểm tâm sinh lí của của học sinh cũng như khả năng tư duy, sáng tạo của từng học sinh. + Phải có lòng yêu nghề, mến trẻ, tinh thần học hỏi cao để luôn luôn trau dồi chuyên môn nghiệp vụ. Tăng cường làm đồ dùng dạy học, dụng cụ trực quan... + Phải hiểu được đặc điểm tâm lý của trẻ, hiểu biết được mức độ cảm nhận của học sinh về thế giới xung quanh thông qua các bài học. + Luôn luôn tôn trọng gần gũi học sinh. + Phải có tính kiên trì trong công tác giảng dạy, khéo léo động viên kịp thời đối với các em. + Áp dụng nhiều phương pháp trò chơi tạo không khí vui vẻ thỏa mái, phương pháp thích hợp, không áp đặt đòi hỏi quá cao đối với học sinh để giúp các em yêu thích môn học và học tốt hơn. + Sử dụng linh hoạt trong phối hợp các phương pháp dạy học thích hợp. + Thường xuyên trao đổi để tìm ra phương pháp dạy học mới, hay hơn. + Đầu tư đưa ứng dụng công nghệ thông tin nhiều vào môn Mĩ thuật như: Các phần mềm vẽ, băng đĩa, giảng dạy trên bài giảng PowerPoint ... có như vậy chất lượng học tập mới đạt hiệu quả cao. 2. Kiến nghị. Không 3. Cam kết Tôi xin cam kết biện pháp này lần đầu được dùng để đăng ký tham dự hội thi và không sao chép hoặc vi phạm bản quyền. Trên đây chỉ là một vài kinh nghiệm nhỏ của riêng tôi. Rất mong nhận được sự quan tâm, góp ý của Ban giám khảo và đồng nghiệp để biện pháp của tôi có tính ứng dụng cao hơn trong dạy học. Tôi xin chân thành cảm ơn! TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Chương trình giáo dục phổ thông, chương trình tổng thể ( Ban hành kèm theo Thông tư số 32/2018/TT-BGDĐT ngày 26 tháng 12 năm 2018 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo). 2. Sách giáo viên mĩ thuật 1 bộ Cánh diều – Phạm Văn Tuyến ( Tổng chủ biên), Nguyễn Thị Đông (Chủ biên) – Nhà xuất bản Đại học Sư phạm. 3. Sách giáo viên mĩ thuật 2 bộ Cánh Diều - Nguyễn Thị Đông (Tổng chủ biên) – Nguyễn Hải Kiên ( Chủ biên) – Nhà xuất bản Đại học Sư phạm. 4. Sách giáo viên mĩ thuật 3 bộ Cánh Diều - Nguyễn Thị Đông (Tổng chủ biên) – Phạm Đình Bình ( Chủ biên) – Nhà xuất bản Đại học Sư phạm. 5. Sách giáo viên mĩ thuật 4 bộ Cánh Diều - Nguyễn Thị Đông (Tổng chủ biên) – Phạm Đình Bình ( Chủ biên) – Nhà xuất bản Đại học Sư phạm. 6. Sách giáo viên mĩ thuật 5 bộ Cánh Diều - Nguyễn Thị Đông (Tổng chủ biên) – Phạm Đình Bình ( Chủ biên) – Nhà xuất bản Đại học Sư phạm.
File đính kèm:
mot_so_bien_phap_nang_cao_ki_nang_ve_nguoi_cho_hoc_sinh_tieu.pdf



