Rèn đọc lưu loát cho học sinh lớp 1
Bạn đang xem nội dung tài liệu Rèn đọc lưu loát cho học sinh lớp 1, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút TẢI VỀ ở trên
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc THUYẾT MINH MÔ TẢ GIẢI PHÁP 1. Tên giải pháp Giải pháp: “Rèn đọc lưu loát cho học sinh lớp 1”. 2. Ngày giải pháp được áp dụng lần đầu hoặc áp dụng thử Thực hiện từ tháng 9/2020 đến tháng 5/2021. 3. Các thông tin cần bảo mật Hình ảnh, số liệu. 4. Mô tả các giải pháp cũ thường làm Qua một số năm dạy học ở trường, tôi nhận thấy khi học sinh đọc đồng thanh cả lớp còn một số em chưa biết đọc, đọc chậm và đọc theo các em đã biết đọc rồi, bắt chước nhưng không biết mặt chữ (đọc vẹt). Ban đầu, lớp tôi cũng có học sinh như vậy. Các em đọc rất trôi chảy nhưng khi tôi yêu cầu chỉ từng chữ để đọc thì các em lại phải đánh vần, hoặc không đọc được. Hoặc là miệng thì đọc nhưng tay chỉ không theo kịp chữ. Bạn đọc trước bạn đọc sau khiến cho lớp học như đang nói chuyện chứ không phải giờ tập đọc. Nguyên nhân là do: - Xã hội phát triển, dân trí phát triển, nhận thức của trẻ cũng được nâng lên do đó khả năng hứng thú tiếp thu theo chương trình, nội dung và phương pháp cổ truyền không còn phù hợp. - Giáo viên vẫn còn sử dụng phương pháp truyền thống, chưa thực sự lấy học sinh làm trung tâm, chưa khai thác tính tự chủ, tự giác (lấy học sinh làm trung tâm .). - Sự phối kết hợp giữa các môi trường giáo dục chưa hiệu quả, tất cả vẫn chỉ lệ thuộc vào nhà trường. 5. Sự cần thiết phải áp dụng giải pháp * Thứ nhất là: Xuất phát từ mục tiêu môn tiếng việt là hình thành và phát triển ở học sinh các kỹ năng sử dụng tiếng việt (nghe - nói - đọc - viết) để áp dụng cho việc học 2 tập và giao tiếp. Lớp 1 là bước ngoặt rất quan trọng của trẻ, từ đây hoạt động cơ bản của trẻ sẽ chuyển sang giai đoạn động mới và cụ thể hơn. Hoạt động “Học tập” sẽ giúp các em trở thành những học sinh có một vai trò mới trong gia đình và xã hội. Sự chuyển đổi hoạt động này có tác động lớn đến tâm lý của các em. Những hiểu biết về về tâm sinh lý của các em đã hình thành khả năng tư duy bằng tín hiệu thay thế ngữ âm... Ở độ tuổi 6 -7 với khả năng phân tích, tổng hợp khá hoàn chỉnh, chính từ đây các em có khả năng tập tách từ thành tiếng, thành âm và chữ. * Thứ hai là: Đối tượng học sinh có nhận thức chậm vẫn là bài toán khó cho giáo dục phổ thông, tuy cùng hưởng thụ một nội dung chương trình giáo dục, nhưng mỗi học sinh lại có sự phát triển về thể chất và trí tuệ khác nhau. Một phần do điều kiện hoàn cảnh sống và sự quan tâm chăm sóc ở gia đình là khác nhau và động cơ và thái độ học tập khác nhau, môi trường giáo dục khác nhau mà (trong đó có sự dạy dỗ của thầy cô giáo) thì năng lực học tập, khả năng tiếp thu kiến thức của mỗi học sinh cũng phải khác nhau. Chính từ đó đã dẫn đến vẫn còn học sinh nhận thức chậm và rất chậm. Vậy chúng ta phải rèn luyện các em học sinh này như thế nào? Điều đó khiến tôi rất trăn trở làm thế nào để nâng cao chất lượng học sinh có năng lực nhận thức chậm, giúp học sinh nắm được kiến thức cơ bản ngay từ đầu lớp 1. Bởi lớp 1 là nền móng cho sự phát triển của học sinh sau này, với lớp 1 điều quan trọng nhất là đọc thông, viết thạo. Có đọc được tốt học sinh mới hiểu được nội dung văn bản và lên lớp trên mới học tốt được các môn học khác. Chính vì hai lý do trên nên cần áp dụng giải pháp “Rèn đọc lưu loát cho học sinh lớp 1”. 6. Mục đích của giải pháp - Mục đích nghiên cứu các giải pháp dạy học của tôi chính là tìm phương pháp thích hợp nhất trong quá trình dạy tập đọc. Từ đó vận dụng linh hoạt khi soạn giảng và hướng dẫn rèn kỹ năng đọc cho học sinh có hiệu quả. - Khắc phục tình trạng còn học sinh học chậm và rất chậm (học sinh học không đều). 3 - Giúp mọi đối tượng học sinh trong một lớp đại trà đều có thể đọc thông viết thạo vào cuối năm học. 7. Nội dung 7.1. Thuyết minh giải pháp mới hoặc cải tiến 7.1.1. Nội dung Để nâng cao chất lượng hiệu quả đọc cho học sinh lớp 1 tôi đã áp dụng những giải pháp sau: * Thứ nhất, phối kết hợp chặt chẽ với cha mẹ học sinh. * Thứ hai, chú trọng tới việc giúp học sinh nắm chắc kiến thức từ cái cơ bản nhất. * Thứ ba, sử dụng linh hoạt phương tiện dạy học. * Thứ tư, áp dụng phương pháp và hình thức tổ chức dạy học phù hợp. 7.1.2. Các bước tiến hành thực hiện giải pháp Nắm bắt thực trạng, tình hình học sinh qua khảo sát điều tra kiến thức đầu năm. Sau khi nhận lớp đầu năm, việc đầu tiên tôi làm là kiểm tra sự nắm bắt, nhận diện chữ cái các em đã học ở Mầm non và tình hình chung đầu năm của lớp tôi thấy thực trạng như sau: + Học sinh không biết tập trung chú ý vào bài, còn mải chơi. + Học sinh chưa thuộc hết bảng chữ cái đơn. + Học sinh chưa thuộc chữ cái ghép. + Nhiều học sinh đọc chậm, đọc sai, đọc ngọng hoặc đọc rất bé. Cụ thể: Học sinh không Học sinh chưa Học sinh chưa Nhiều học sinh tập trung chú ý thuộc chữ cái thuộc chữ cái đọc chậm, đọc Sĩ số vào bài đơn ghép sai hoặc đọc rất bé 31 20 11 23 17 - Một trong những nguyên nhân dễ thấy của các thực trạng trên đó là: + Thứ nhất: vì các em còn quá nhỏ, chưa có ý thức tự giác, chưa biết cố gắng trong học tập và chưa hiểu học để làm gì nên mải chơi, chưa chú ý. + Thứ hai: Phụ huynh còn chưa quan tâm đến việc học của các con khi ở mầm non dẫn đến việc nhiều bạn không thuộc hết chữ cái trước khi vào lớp 1 4 hoặc phụ huynh còn e ngại khi gọi điện trao đổi về tình hình học tập của con mình với giáo viên chủ nhiệm. + Thứ ba: Năng lực của mỗi em khác nhau. Mới lên lớp 1, các em chuyển sang 1 bước ngoặt lớn, bạn bè mới, thầy cô mới, trường lớp mới dẫn đến việc các em nhút nhát, đọc bé. + Thứ tư: Nhiều em còn nhầm lẫn giữa các chữ gần giống nhau. Vì vậy giáo viên chúng ta phải biết được đặc điểm tình hình của từng đối tượng, khả năng tiếp thu của từng em để phát huy tính tích cực ham học cho học sinh. Tổ chức tiết dạy sao cho các em luôn cảm thấy nhẹ nhàng, vui tươi và có hứng thú học tập. Nhận thức rõ được các khó khăn cơ bản về học sinh tôi đã có những biện pháp cụ thể sau: * Thứ nhất, phối kết hợp chặt chẽ với cha mẹ học sinh. - Tôi đã tiến hành họp phụ huynh học sinh đầu năm học: Trao đổi với phụ huynh về tình hình học tập đầu năm của con em mình để phụ huynh phối hợp kịp thời. Đề nghị và yêu cầu thống nhất trang bị đầy đủ sách vở, đồ dùng cần thiết phục vụ cho môn học, đưa ra những quy định chung trong việc học tập của lớp. Họp phụ huynh đầu năm học - Yêu cầu phụ huynh thường xuyên nhắc nhở việc học bài đọc bài ở nhà của con em mình, đồng thời trong buổi họp phụ huynh tôi hướng dẫn phụ huynh 5 cơ bản về cách đọc, các phát âm chữ cái, cách đánh vần vần, đánh vần tiếng theo chương trình giáo dục 2018 để phụ huynh nắm rõ cách dạy học hỗ trợ giáo viên kèm cặp con em mình ở nhà. Trao đổi tình hình học tập của học sinh - Lập nhóm zalo gồm tất cả các phụ huynh của lớp, tôi thường xuyên trao đổi, giải đáp các thắc mắc của phụ huynh về việc học của các con trên zalo, khuyến khích phụ huynh trao đổi tình hình học tập của con trên zalo. Nhằm tránh trường hợp nhiều phụ huynh muốn hỏi bài, hỏi tình hình học tập của con nhưng lại ngại gọi điện trực tiếp cho cô giáo. * Thứ hai, chú trọng tới việc giúp học sinh nắm chắc kiến thức từ cái cơ bản nhất. - Phần học các nét cơ bản: + Ngay từ tuần đầu năm học tôi luôn chú trọng việc dạy thật kỹ, thật tỉ mỉ tên gọi và cách viết các nét cơ bản. Để cho học sinh dễ hiểu, dễ nhớ. Những nét chữ này tôi phân theo cấu tạo các nét có tên gọi và cấu tạo gần giống nhau thành từng nhóm để học sinh dễ nhận biết và so sánh. Dựa vào các nét cơ bản này mà học sinh phân biệt được chữ cái, kể cả những chữ cái có hình dáng cấu tạo giống nhau. + Thực hiện bồi dưỡng, luyện tập cho học sinh sau khi phân loại học sinh trong lớp mình theo các mức độ. Đối với các học sinh trung bình, chậm. Các em chưa nhìn được mặt chữ cái hoặc chưa biết đủ 24 chữ cái đơn giản, tôi luôn dành nhiều thời gian (giờ truy bài, giờ ra chơi, hoặc nán thêm 10-15 phút cuối giờ) để bồi dưỡng cho đối tượng này, ôn và dạy lại 24 chữ cái cơ bản cho các em bắt đầu học lại những nét cơ bản. - Phần học âm: 6 + Sau khi cho học sinh học thật thuộc tên gọi và cấu tạo các nét chữ cơ bản một cách vững vàng thì tiếp theo là phần học chữ cái. + Lúc này tôi dạy cho các em nhận diện, phân tích từng nét trong từng con chữ cái và nếu chữ cái đó có cùng tên mà lại có nhiều kiểu viết – kiểu in khác nhau hay gặp trong sách báo như chữ a, chữ g thì tôi phân tích cho học sinh hiểu và nhận biết đó cũng là chữ a hay chữ g để khi gặp kiểu chữ đó được in trong sách báo các con dễ hiểu, dễ đọc không bị lúng túng. + Từ việc học kỹ cấu tạo âm bởi những nét chữ cơ bản thật kỹ và tỉ mỉ như trên sẽ giúp trẻ phân biệt được sự khác nhau cả về cất tạo và tên gọi của 4 âm sau: + Sang phần âm ghép (chữ có hai âm ghép lại với nhau). Tôi cho học sinh sắp xếp các âm có âm h đứng sau thành một nhóm để thấy được sự giống nhau và khác nhau của các âm đó. VD: + Các âm ghép: ch - c nh - n th - t kh - k gh - g ph - p ngh - ng + Còn lại các âm: gi, tr, qu, ng tôi cho học kỹ về cấu tạo + Phân từng cặp: ch - tr ; ng - ngh; l - n; g - gh để học sinh phát âm chính xác và viết chính tả. 7 Phân biệt luật chính tả Ở phần này (chữ có hai âm ghép lại với nhau) đa số học sinh chậm trong lớp rất nhanh quên cách đọc của những âm này nên trong các bài ôn tập tôi luôn cho học sinh đọc, ghép, viết, nhiều giúp các em ghi nhớ tên âm. Ngoài ra ghi những âm mới học lên góc trên cùng của bảng, hướng dẫn bạn phụ trách học tập của lớp cho các bạn luyện đọc lại vào các giờ truy bài, giờ ra chơi, Trưởng ban học tập hướng dẫn đọc đầu giờ + Trong từng tiết học, từng bài ôn tôi luôn tìm đủ cách để kiểm tra phát hiện sự tiến bộ của trẻ thông qua các bài đọc, các giờ chơi, giờ nghỉ .. từ đó củng cố thêm kiến thức cho học sinh. - Phần học vần + Sang giai đoạn học vần học sinh đã nắm vững các âm, các em còn được làm quen với các kiểu chữ hoa: chữ viết hoa và chữ in hoa nên tôi tập cho học sinh nhận biết các kiểu chữ hoa một cách chính xác để các em đọc đúng. + Để giúp trẻ học tốt phần vần, tôi tập cho học sinh thói quen: nhận diện, phân tích cấu tạo của vần, nhận biết vị trí các âm trong vần để các em học vững. VD 1: Học vần ay: 8 Bước 1: Cho học sinh nhận diện về cấu tạo vần ay: HS đọc, phân tích, đưa vần ay vào mô hình. Nêu cấu tạo vần ay gồm 2 âm: âm a là âm chính và âm y là âm cuối. Bước 2: Đánh vần vần ay: Hướng dẫn học sinh: âm a đứng trước, ta đọc a trước, âm y đứng sau ta đọc y sau: a - y - ay. Đọc trơn vần: ay Bước 3: Học sinh tìm tiếng chứa vần ay, sau đó thay dấu thanh, thay âm đầu để được các tiếng mới. + Nếu các em đã tìm đúng giáo viên hướng dẫn cách đánh vần, phân tích và đọc trơn vần như trên các em sẽ nhận biết và đọc được vần ay. + Trong các bài dạy vần, sách giáo khoa tiếng việt 1 có kèm theo các từ khóa, từ ứng dụng và các câu thơ, câu văn ngắn để học sinh luyện đọc. Muốn cho học sinh đọc được các từ và câu ứng dụng trong bài giáo viên cho học sinh nắm chắc các vần sau đó cho các em ghép chữ cái đầu với vần vừa học để đọc tiếng, đọc từ của bài. + Luôn đưa ra cho học sinh so sánh vần đã học với vần hôm nay học để học sinh so sánh. VD 2: Dạy vần ay cho học sinh so sánh với vần ai, từ đây học sinh tìm ra âm giống nhau âm nào, khác nhau âm nào? Rồi so sánh cả hai vần trong bài học: ay/ây. Từ đây giúp các em có kỹ năng so sánh đối chiếu và khắc sâu các vần trong phân môn Học vần. Học sinh ghép vần, tìm tiếng mới khắc sâu kiến thức - Phần tập đọc: + Đây là giai đoạn khó khăn đối với học sinh. Nhất là đối tượng học sinh có nhận thức chậm. Học sinh khá - giỏi đã vững phần chữ cái, nắm vững phần vần chỉ nhìn vào bài là các em đọc được ngay tiếng, từ hoặc câu khá nhanh vì khả năng nhận biết tốt. Còn với học sinh nhận thức chậm các em nhận biết còn chậm, 9 chưa nhìn chính xác vần nên ghép tiếng rất chậm, ghép tiếng chậm dẫn đến đọc từ chậm và đọc câu rất khó khăn. Vì thế đối với các học sinh này, sang phần tập đọc tôi hết sức bình tĩnh, giành nhiều cơ hội tập đọc cho các em giúp các em đọc bài từ dễ đến khó, từ ít đến nhiều. Nếu nóng vội mà mình đọc trước cho các em đọc lại dẫn đến tình trạng đọc vẹt và tính ỷ lại thụ động của học sinh. Tôi cho học sinh phân tích câu, gạch chân những từ khó, nhẩm đánh vần, phân tích lại từng tiếng trong câu, đánh vần xong đọc trơn lại tiếng đó nhiều lần để nhớ sau đó nhẩm đánh vần tiếng kế tiếp lại đọc trơn tiếng vừa đánh vần rồi đọc lại từng cụm từ. Học sinh đọc thầm gạch chân từ khó, ngắt nghỉ câu + Với học sinh chậm không đọc được, tôi gọi HS cho phân tích và đánh vần lại nhiều lần tiếng đó. Và sau mỗi lần đánh vần, cho em đó đọc trơn lại tiếng vừa đánh vần nhiều lần để khắc sâu vào trí nhớ học sinh. * Thứ ba, sử dụng linh hoạt phương tiện dạy học. Trong từng tiết dạy môn Tiếng việt, để giúp học sinh tích cực và ham học 10 thì tôi đã sử dụng linh hoạt và phù hợp các phương tiện hỗ trợ tiết dạy như sau: Tự thiết kế bản chữ cái và bảng vần tặng mỗi học sinh một bản, hướng dẫn các em đọc chữ và vần ngay từ đầu năm học. Bảng chữ cái, bảng vần - Sử dụng tranh ảnh trong sách giáo khoa đến mức tối đa. - Tận dụng những vật thật, tranh ảnh có sẵn trong thực tế để các em quan sát tìm hiểu. - Sưu tầm thêm một số tranh ảnh, mẫu vật có liên qua đến bài dạy. - Ứng dụng các hình ảnh bài giảng điện tử giảng dạy trong tiết học . Ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học- sử dụng ti vi * Thứ tư, áp dụng phương pháp và hình thức tổ chức dạy học phù hợp. Có rất nhiều phương pháp và hình thức để áp dụng cho một tiết dạy nhằm đạt được một kết quả tốt cho giờ học. Tuy nhiên không một phương pháp nào được coi là vạn năng, nên tôi sử dụng linh hoạt và đồng loạt nhiều phương pháp phù hợp với thực tế học sinh vùng miền, để giúp học sinh của mình đọc ngày càng tốt hơn. Sau đây là một số phương pháp tôi thường được áp dụng trong giờ học: + Phương pháp trực quan 11 Phương pháp này chính là việc tôi làm mẫu như cho các em nghe cô phát âm mẫu, đánh vần mẫu, đọc mẫu học sinh chú ý quan sát khẩu hình miệng và phát âm lại. Ví dụ: Khi dạy học sinh học âm l, n tôi phải phát âm mẫu và cho học sinh quan sát khuôn miệng để các em “bắt chước” phát âm mới đúng được. Và học sinh ghi nhớ dấu thanh sắc, thanh huyền qua động tác tay. Tôi nhận thấy các em ghi nhớ dấu thanh rất nhanh và nhớ lâu. Thanh huyền Thanh sắc + Phương pháp đàm thoại, vấn đáp. Tôi đưa ra nhiều câu hỏi để học sinh trả lời nhằm phát hiện sự hiểu biết của các em hoặc để gợi mở giúp các em phát hiện cách đọc. VD: Chữ này là chữ gì? (chữ a, o, b, c, d .) Âm “ch” đứng trước, vần “anh” đứng sau, em đánh vần thế nào? (chờ - anh - chanh). Khi sử dụng phương pháp này, tôi sử dụng ngôn ngữ dễ hiểu, nhẹ nhàng, tránh cáu gắt khi các em chậm nhớ, chậm hiểu. Tôi dẫn dắt học sinh từng bước một để dạy các em đọc từng chữ, từng tiếng, từng câu trong mỗi ngày. + Phương pháp quan sát, động viên khen thưởng học sinh. Trong tiết dạy tôi đặc biệt chú ý đến học sinh ít nói, thụ động, học sinh đọc chậm, đọc yếu để gọi các em thường xuyên đọc bài. Đối với học sinh giỏi – khá tôi thường khích lệ, khen ngợi để các em phấn khởi hơn. Còn đối với học sinh chậm tiếp thu thì tôi nhẹ nhàng an ủi động viên: “Cố lên, rồi các con sẽ đọc tốt như các bạn nếu các con cố gắng đọc bài nhiều ở lớp cũng như ở nhà”. Trong 12 tiết dạy tập đọc, sau khi cho cả lớp đọc xong, tôi mời riêng các em đọc chậm, đọc trung bình lên bàn giáo viên để cùng đọc bài với cô. Tôi giành nhiều thời gian cho đối tượng này hơn. Cùng đọc bài với các em trong giờ ra chơi (nhưng vẫn để cho các em có thời gian thư giãn, nghỉ ngơi). Khi các em có biểu hiện tiến bộ tôi thường khen thưởng các em bằng những phần quà nhỏ như cuốn vở, viên phấn màu, cây bút đẹp, vv để các em thích thú và cố gắng hơn. Động viên khen thưởng các em đọc bài tốt trong tuần Tặng thư khen và bút chì cho học sinh tiến bộ trong học kì 1 + Phương pháp cộng tác nhóm Ngay từ đầu năm học qua khảo sát, phân loại học sinh trong lớp tôi bố trí cho các bạn giỏi kèm các bạn chậm để giúp bạn học tập, ưu tiên những học sinh chậm được ngồi ở dãy bàn thứ nhất và thứ hai trong lớp. Trong từng giờ học lúc 13 nào tôi cũng gọi các em đọc bài nhiều hơn những bàn học sinh khác, gọi đọc theo nhóm đôi (trong cùng bàn) để học sinh đọc chậm đọc theo học sinh đọc tốt, và học sinh chậm cũng được luyện tập nhiều hơn. Trao đổi nhóm Giúp đỡ bạn trong học tập + Phương pháp tổ chức các trò chơi Trong giờ học vần, tôi hay lồng ghép các trò chơi nhỏ để cả lớp cùng tham gia. Trò chơi: Đọc nhanh – Đọc đúng. 14 Tôi ghi một số từ vào các mảnh bìa và đưa ra cho học sinh đọc. Bạn nào đọc nhanh, đọc đúng 3 từ liên tiếp sẽ được cả lớp khen. Tôi thường hay chọn các học sinh đọc trung bình, đọc chậm để đọc nhiều hơn nhằm giúp các em cố gắng đọc để thi đua và tạo cho các em khả năng đọc nhanh, đọc đúng. Trò chơi: Chỉ nhanh – Chỉ đúng. Tôi gọi một nhóm 3 học sinh lên bảng, 1 em (là học sinh đọc tốt) đọc cho hai học sinh đọc chậm chỉ vào âm, vần, tiếng, từ do bạn đọc. Trò chơi này học sinh rất thích và lớp học cũng sôi nổi. + Phương pháp nhận xét nêu gương. Để nâng dần chất lượng học sinh trong lớp, muốn cho trình độ học sinh đồng đều vào cuối năm học, tôi thường trò chuyện với học sinh đọc chậm, đọc bé để giúp các em cố gắng hơn cho kịp bằng các bạn. Tôi cho các em nhận xét các bạn đọc nhanh trong lớp. VD: Bạn Diệp, bạn Bảo đọc tốt, đọc nhanh vì các bạn ấy rất chăm chỉ đọc bài và đọc rất nhiều ở nhà. Ở lớp các bạn cũng rất cố gắng đọc bài và luyện tập thêm để ngày càng đọc tốt đọc hay hơn. Các bạn luôn thi đua với nhau xem ai đọc nhiều hơn, ai đọc đúng hơn và ai đọc hay hơn. Các em cũng sẽ đọc giỏi như các bạn ấy nếu có cố gắng đọc nhiều, như các bạn: đọc chưa thông, đọc chưa nhanh thì đánh vần, đọc nhẩm, nhẩm xong đọc to lên và cứ thế mà đọc mãi, đọc đi đọc lại, đọc đến khi nào nhìn vào chữ là đọc được ngay mới thôi. T ấm gương học tốt V à tôi đã cùng đọc với các bạn đọc nhỏ, đọc trung bình – chậm ấy, nhằm giúp đỡ khả năng đọc bài, cũng như giúp các em phân tích tiếng, cách đọc một tiếng, cách đọc sao cho nhanh như: nhẩm âm đầu → nhẩm vần → ghép âm đầu với vần → ghép dấu thanh thành tiếng vv 15 7.1.3 Kết quả Trong quá trình áp dụng các biện pháp, phương pháp trên để rèn kỹ năng đọc cho học sinh lớp 1. Tôi thấy kỹ năng đọc của các em học sinh tiến bộ hẳn lên. Học sinh tự đọc truyện trong tiết đọc thư viện - Số học sinh đọc chậm, không đọc được giảm dần trong năm học. Cụ thể: Học sinh không Học sinh chưa Học sinh Nhiều học sinh tập trung chú ý thuộc chữ cái chưa thuộc đọc chậm, đọc Sĩ số vào bài đơn chữ cái ghép sai hoặc đọc rất bé 31 1 0 0 4 Đây là một kết quả rất đáng mừng, bù đắp cho công sức và sự kiên nhẫn của cả cô và trò trong quá trình rèn luyện. 7.2. Phạm vi áp dụng giải pháp Các em học sinh lớp 1 trường Tiểu học Hương Vỹ nói riêng và huyện Yên Thế nói chung. 7.3. Lợi ích kinh tế, xã hội của giải pháp - Với những giải pháp nêu trên, tôi thật sự vui mừng vì sự đầu tư của mình đã đạt được kết quả tốt. Đa số HS của lớp tôi chủ nhiệm có ý thức, kỉ luật cao, tự giác, thi đua học tập rất sôi nổi ngay trong từng giờ học. - Đa số học sinh trong lớp đã có tinh thần tự giác cao, có tinh thần tự học. Giờ truy bài thực sự hữu ích với các em vì đó chính là giờ tự học, tự kiểm tra rất có kết quả. 16 - Các em mạnh dạn bày tỏ ý kiến và mong muốn của mình trước tập thể. Các cán bộ lớp thực sự năng động hơn. Các em đã tích cực chuẩn bị bài ở nhà, luôn sẵn sàng tham gia các phong trào thu đua của lớp. Có tinh thần đoàn kết giúp đỡ lẫn nhau trong học tập. - Các em đã trang bị tốt cho mình kiến thức ban đầu của tiểu học để có hành trang học tốt hơn ở các lớp sau. - Mối quan hệ giữa phụ huynh và giáo viên ngày càng gắn kết. Phụ huynh tin tưởng tuyệt đối và gửi trọn niềm tin vào Nhà trường với việc giáo dục con cái họ. - Giải pháp này của tôi đã được áp dụng cho học sinh lớp 1. Tuy nhiên, trong các giải pháp này ít nhiều vẫn còn thiếu xót, vì thế tôi đang nghiên cứu, bổ sung hoàn thiện hơn. Để các giải pháp này được áp dụng trong phạm vi rộng hơn nữa trong toàn huyện, toàn tỉnh,...Giúp cho các em học sinh lớp 1 ngày càng yêu thích môn Tiếng việt và đọc tốt hơn. * Cam kết: Tôi cam đoan những điều khai trên đây là đúng sự thật và không sao chép hoặc vi phạm bản quyền. XÁC NHẬN CỦA NHÀ TRƯỞNG Hương Vĩ, ngày 11 tháng 3 năm 2021 HIỆU TRƯỞNG TÁC GIẢ SÁNG KIẾN Nguyễn Thị Việt Phạm Thị Lan
File đính kèm:
ren_doc_luu_loat_cho_hoc_sinh_lop_1.pdf



