Một số biện pháp để phát huy năng lực tự chủ, tự học cho học sinh lớp 1
Bạn đang xem nội dung tài liệu Một số biện pháp để phát huy năng lực tự chủ, tự học cho học sinh lớp 1, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút TẢI VỀ ở trên
MỤC LỤC Nội dung Trang I. PHẦN MỞ ĐẦU 2 1. Lý do chọn biện pháp 2 2. Mục đích nghiên cứu 3 3. Nhiệm vụ nghiên cứu 3 4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 3 4.1. Đối tượng nghiên cứu 3 4.2. Phạm vi nghiên cứu 3 5. Phương pháp nghiên cứu 3-4 II. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 4 1. Cơ sở lý luận 4 2. Cơ sở thực tiễn 5 2.1. Thuận lợi 5 2.2. Khó khăn 6 3. Các biện pháp thực hiện 7 3.1. Rèn nền nếp cho học sinh 7-10 3.2. Phát huy vai trò của Ban cán sự lớp 11-12 3.3 Rèn kĩ năng giao tiếp cho học sinh qua quy tắc “ 4 Xin” 13 3.5. Động viên, khen ngợi học sinh theo thông tư 27 14-15 3.5. Xây dựng thói quen học tập có nền nếp 16 3.6. Tích cực phối hợp với phụ huynh trong việc dạy học và giáo 17 dục học sinh III. KẾT QUẢ VÀ ỨNG DỤNG 18 IV. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 18-19 Tài liệu tham khảo 19 2 I. PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn biện pháp Mục tiêu chính mà chúng ta đang hướng tới khi thực hiện chương trình giáo dục phổ thông 2018, ban hành ngày 26 tháng 12 năm 2018 là giáo dục phát triển phẩm chất và năng lực của người học. Yêu cầu cần đạt về phẩm chất và năng lực trong chương trình giáo dục phổ thông đó là hình thành và phát triển 5 phẩm chất chủ yếu: yêu nước, nhân ái, chăm chỉ, trung thực, trách nhiệm cùng với đó là hình thành và phát triển 10 năng lực cốt lõi, trong đó có 3 năng lực chung và 7 năng lực đặc thù. - Những năng lực chung được hình thành, phát triển thông qua tất cả các môn học và hoạt động giáo dục: năng lực tự chủ và tự học, năng lực giao tiếp và hợp tác, năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo; - Những năng lực đặc thù được hình thành, phát triển chủ yếu thông qua một số môn học và hoạt động giáo dục nhất định: năng lực ngôn ngữ, năng lực tính toán, năng lực khoa học, năng lực công nghệ, năng lực tin học, năng lực thẩm mĩ, năng lực thể chất. Phát triển năng lực, phẩm chất không chỉ mang lại hiệu quả dạy và học về mặt kiến thức, kĩ năng mà còn giúp khơi gợi hứng thú, nhu cầu và cá tính của mỗi học sinh, phát huy khả năng làm việc cá nhân và tính tự giác của các em, giúp giải quyết các vấn đề trong học tập và trong cuộc sống một cách dễ dàng, nhanh chóng và hiệu quả cao. Ở bậc Tiểu học nói chung và học sinh lớp 1 nói riêng, các em còn nhỏ nên ý thức tự giác học tập và việc thực hiện nội quy nền nếp còn gặp nhiều khó khăn. Các em thường rất bị động, hầu như chỉ làm theo những yêu cầu mà cô giáo đưa ra và thậm chí việc nghe và thực hiện theo đúng yêu cầu còn là điều khó khăn với một số em. 3 Để khắc phục được điều này thì việc giúp các em biết xác định được nhiệm vụ học tập một cách tự giác, chủ động; tự đặt được mục tiêu học tập để đòi hỏi sự nỗ lực phấn đấu thực hiện; thực hiện các phương pháp học tập hiệu quả; điều chỉnh những sai sót, hạn chế của bản thân khi thực hiện các nhiệm vụ học tập thông qua tự đánh giá hoặc lời góp ý của cô giáo, của bạn bè; chủ động tìm kiếm sự hỗ trợ khi gặp khó khăn trong học tập và tự giác thực hiện tốt các nội quy, nền nếp thì việc phát huy “năng lực tự chủ và tự học” đối với học sinh lớp 1 là rất quan trọng. Vì vậy, tôi đã tích cực nghiên cứu, tìm tòi kết hợp với những kinh nghiệm đã tích lũy được, tôi xin đưa ra " Một số biện pháp để phát huy năng lực tự chủ, tự học cho học sinh lớp 1” 2. Mục đích nghiên cứu Nghiên cứu tìm ra các biện pháp để phát huy năng lực tự chủ, tự học cho học sinh lớp 1. Ghi lại những biện pháp mình đã làm để suy ngẫm, chọn lọc và đúc kết lại thành kinh nghiệm bản thân. 3. Nhiệm vụ nghiên cứu - Tìm ra những biện pháp để huy năng lực tự chủ, tự học cho học sinh. - Rút ra những bài học kinh nghiệm cho bản thân nâng cao hiệu quả trong việc dạy học và giáo dục học sinh. 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4.1. Đối tượng nghiên cứu Một số biện pháp phát huy năng lực tự chủ, tự học cho học sinh lớp 1. 4.2. Phạm vi nghiên cứu Học sinh lớp 1 trong trường Tiểu học năm học 2022-2023 và năm học hiện tại 2023-2024. 5. Phương pháp nghiên cứu - Phương pháp nghiên cứu tài liệu. 4 - Phương pháp kiểm tra – đánh giá. - Phương pháp quan sát. - Phương pháp điều tra - Phương pháp luyện tập thực hành - Phương pháp thi đua khen thưởng. - Phương pháp động não, vấn đáp. II. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 1. Cơ sở lí luận Căn cứ thông tư 32/2018/TT-BGDĐT ngày 26/12/2018 về việc ban hành Chương trình giáo dục phổ thông mới đã đưa ra quan điểm và quy định rõ mục tiêu với chương trình giáo dục Tiểu học đó là: - Bảo đảm phát triển phẩm chất và năng lực người học thông qua nội dung giáo dục với những kiến thức, kĩ năng cơ bản, thiết thực, hiện đại; hài hoà đức, trí, thể, mĩ; chú trọng thực hành, vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học để giải quyết vấn đề trong học tập và đời sống; - Hình thành và phát triển những yếu tố căn bản đặt nền móng cho sự phát triển hài hòa về thể chất và tinh thần, phẩm chất và năng lực; định hướng chính vào giáo dục về giá trị bản thân, gia đình, cộng đồng và những thói quen, nền nếp cần thiết trong học tập và sinh hoạt. Nghị quyết 88/2014/QH13 ngày 28/11/2014 về đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông đã chỉ rõ: - Mục tiêu giáo dục phổ thông là tập trung phát triển trí tuệ, thể chất, hình thành phẩm chất, năng lực công dân. - Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, chú trọng giáo dục lí tưởng, truyền thống văn hóa; Thông tư 27/2020/TT-BGDĐT ngày 04/9/2020 về việc Quy định đánh giá học sinh tiểu học đánh giá kết quả học sinh theo 4 mức như sau: 5 - Hoàn thành xuất sắc: Những học sinh có kết quả đánh giá các môn học, hoạt động giáo dục đạt mức Hoàn thành tốt; các phẩm chất, năng lực đạt mức Tốt; bài kiểm tra định kỳ cuối năm học của các môn học đạt 9 điểm trở lên; - Hoàn thành tốt: Những học sinh chưa đạt mức Hoàn thành xuất sắc, nhưng có kết quả đánh giá các môn học, hoạt động giáo dục đạt mức Hoàn thành tốt; các phẩm chất, năng lực đạt mức Tốt; bài kiểm tra định kỳ cuối năm học các môn học đạt 7 điểm trở lên; - Hoàn thành: Những học sinh chưa đạt mức Hoàn thành xuất sắc và Hoàn thành tốt, nhưng có kết quả đánh giá các môn học, hoạt động giáo dục đạt mức Hoàn thành tốt hoặc Hoàn thành; các phẩm chất, năng lực đạt mức Tốt hoặc Đạt; bài kiểm tra định kỳ cuối năm học các môn học đạt 5 điểm trở lên; - Chưa hoàn thành: Những học sinh không thuộc các đối tượng trên. Chính vì những lí do trên, tôi cho rằng việc phát huy năng lực tự chủ và tự học cho học sinh lớp 1 là vô cùng quan trọng và cần thiết. 2. Cơ sở thực tiễn 2.1. Thuận lợi - Nhận được sự quan tâm và chỉ đạo sát sao của Ban giám hiệu nhà trường và tổ chuyên môn. - Điều kiện cơ sở vất chất đầy đủ: Lớp học khang trang, sạch đẹp; bàn ghế đạt chuẩn theo quy định; trang bị đầy đủ tivi cho mỗi lớp; Đó là tiền đề giúp các em yêu trường, yêu lớp và hứng thú hơn trong việc học tập. - Học sinh đã được học mầm non nên biết nghe lời thầy cô giáo, thích học tập và thi đua với các bạn, dễ khích lệ động viên khen thưởng, - Phụ huynh đa số là phụ huynh trẻ nên có ý thức trách nhiệm, quan tâm đến việc học của con em mình như: chuẩn bị đầy đủ sách vở, đồ dùng học tập. Thường xuyên trao đổi với giáo viên chủ nhiệm để nắm bắt tình hình học tập của con em mình. 6 - Đối với giáo viên: được tham gia đầy đủ các lớp bồi dưỡng, tập huấn về Chương trình GDPT mới 2018; được tiếp thu chuyên đề về phương pháp dạy học tích cực. 2.2. Khó khăn Qua thực tế đón học sinh và làm công tác chủ nhiệm tôi nhận thấy còn tồn tại nhiều vấn đề ở một số học sinh như: - Chưa thực hiện được những việc như: đi học đúng giờ; mặc đồng phục theo quy định; để sách vở, đồ dùng, mũ, áo, kê bàn ghế ngay ngắn gọn gàng; vệ sinh lớp học, vệ sinh công trình măng non trước giờ vào lớp; xếp hàng khi đi học môn chuyên và khi ra về còn lộn xộn. - Nhút nhát, rụt rè, chưa có kĩ năng trong giao tiếp, chưa biết chào hỏi cô giáo và các bạn; Chưa biết trình bày nhu cầu về vệ sinh hoặc sức khỏe cá nhân. - Chưa tập trung chú ý còn nói chuyện và làm việc riêng trong giờ học; chưa tự thực hiện nhiệm vụ học tập. Qua quá trình quan sát các biểu hiện của học sinh, ghi chép và tổng hợp lại tôi thu được kết quả như sau: Biểu hiện Biểu hiện rõ nhưng chưa Biểu hiện và thường thường chưa rõ xuyên Nội dung đánh giá TSHS xuyên Tỉ lệ Tỉ lệ Tỉ lệ SL SL SL % % % Thực hiện nội quy 12 40 10 33,3 8 26,7 Kĩ năng tự phục vụ 14 46,7 9 30 7 23,3 Tập trung học tập 30 13 43,3 8 26,7 9 30 Mạnh dạn tự tin 12 40 11 36,7 3 23,3 Kĩ năng giao tiếp 13 43,3 9 30 8 26,7 7 Tôi có suy nghĩ rằng học sinh còn tồn tại những vấn đề trên là do nguyên nhân sau: - Bước vào lớp Một, các em bước vào một giai đoạn học tập hoàn toàn mới, chuyển từ hoạt động vui chơi sang học tập nên các em còn gặp nhiều khó khăn trong việc thực hiện nền nếp, nội quy và học cách học. - Kĩ năng giao tiếp còn hạn chế: nhút nhát, rụt rè, chưa biết chào hỏi và bày tỏ mong muốn. - Cô giáo và cha mẹ thường lo lắng rằng các em còn nhỏ chưa thể tự phục vụ, chưa thể tự thực hiện các nhiệm vụ học tập nên còn làm thay làm hộ các em. Chính vì vậy mà các em còn ỷ lại trông chờ vào cô giáo và bố mẹ. - Việc phát triển năng lực, phẩm chất và giáo dục kĩ năng sống cho các em chưa đạt hiệu quả cao. - Chưa thật sự phát huy được vai trò của gia đình đối với việc phát triển phẩm chất, năng lực học sinh. 3. Các biện pháp 3.1. Biện pháp 1: Rèn nền nếp cho học sinh bằng cách sử dụng hình ảnh trực quan Lớp học muốn có nền nếp tốt thì cần có nội quy và thực hiện theo đúng nội quy. Tôi dành thời gian cùng học sinh trao đổi, thống nhất đưa ra những nội quy của lớp như: Đi học đúng giờ; tập trung, chú ý học bài; nói lời hay; trang phục gọn gàng, sạch sẽ, đúng quy định; đội mũ bảo hiểm khi ngồi trên xe máy; đỗ xe đúng quy định tại cổng trường, nghỉ học cần xin phép; có đầy đủ đồ dùng và sách vở khi đến lớp; giữ vệ sinh chung; không ăn quà vặt khi ở trường; yêu thương, đoàn kết, giúp đỡ nhau; không chơi trò chơi nguy hiểm, ... Với cách làm này học sinh được tự mình xây dựng nội quy, các em hứng thú khi thực hiện những gì mình đặt ra thay vì cô giáo đưa ra và các em thực hiện như trước đây. 8 Nội quy lớp học Bên cạnh đó, tôi còn sử dụng các quy ước, quy chuẩn để giúp các em thực hiện tốt nền nếp hơn. Tôi chia lớp thành các góc, các khu vực. Sau đó kẻ vạch giới hạn, đánh số, đánh dấu mã màu, dán ảnh mẫu để học sinh nắm được chuẩn mực của từng góc đó để thực hiện. Ví dụ: - Đánh dấu chân bàn, giá đặt bình nước, vị trí để ghế đỏ, chổi, xô nước, thùng rác để học sinh kê, đặt và cất đúng vị trí. - Đánh dấu mã màu với cốc uống nước của nam và của nữ, vị trí đặt sách, truyện, công tắc quạt và bóng điện. - Đánh số với cốc uống nước của từng học sinh và vị trí treo mũ của từng tổ. - Dán ảnh ở mắc áo, tủ đồ dùng, vị trí để dụng cụ vệ sinh và góc trò chơi. 9 Đánh dấu vị trí chân bàn để học sinh dễ dàng kê đúng vị trí Học sinh nhìn vào hình ảnh để sắp xếp đồ chơi đúng vị trí Học sinh tự biết lấy và để cốc đúng vị trí theo số và mã màu 10 Vị trí để dồ dùng cá nhân Sau một thời gian ngắn áp dụng biện pháp, lớp tôi không còn học sinh đi học muộn hay vi phạm nội quy, lớp học luôn ngăn nắp, gọn gàng. Không chỉ ở lớp mà ở nhà các em cũng đã tự biết sắp xếp góc học tập và vệ sinh nhà cửa giúp bố mẹ, ... Điều đó cho thấy ý thức tự giác, tự phục vụ của các em đã được phát huy. 11 3.2. Biện pháp 2: Phát huy vai trò của Ban cán sự lớp Ban cán sự có vai trò lớn trong lớp học, trực tiếp quản lí, nắm mọi hoạt động của lớp, trực tiếp tham gia vào các phong trào hoạt động của lớp và Đội đề ra. Chính vì vậy, phát uy vai trò của Ban cán sự lớp là một việc làm quan trọng và cần thiết. Ngay sau khi nhận lớp, tôi giúp học sinh hiểu Ban cán sự là các bạn đại diện cho học sinh trong lớp đảm nhận trách nhiệm quản lý lớp học, Ban cán sự được thành lập là vì học sinh. Tôi hướng dẫn các em tự thực hiện các nhiệm vụ của mình bằng cách: - Phân công công việc cụ thể cho từng thành viên trong Ban cán sự. Ví dụ: + Lớp trưởng: Phụ trách chung, điều khiển các hoạt động của lớp, theo dõi việc thực hiện các nhiệm vụ học tập và rèn luyện của các bạn trong lớp, chủ trì tiết sinh hoạt cuối tuần. + Lớp phó học tập: Phụ trách theo dõi nền nếp học tập chung; nhắc nhở, động viên và giúp đỡ các bạn gặp khó khăn trong việc học bài, làm bài. + Lớp phó văn thể - vệ sinh: Phụ trách việc đôn đốc nhắc nhở các thành viên trong lớp vệ sinh lớp học, công trình măng non trước giờ vào lớp; xếp hàng nhanh nhẹn, tập nghiêm túc khi tham gia múa hát tập thể; cho lớp hát đầu giờ. - Những buổi đầu, tôi luôn luôn đến lớp sớm hơn để quan sát, theo dõi Ban cán sự làm việc. Em nào làm tốt thì tôi khen ngợi và động viên em tiếp tục phát huy. Em chưa biết cách làm tôi làm mẫu, hướng dẫn các em từng lời nói, việc làm cụ thể để các em hiểu rõ hơn về công việc của mình. - Dựa vào việc duy trì tiết Sinh hoạt lớp, qua báo cáo của từng em, tôi nắm được khả năng quản lí lớp của các em cũng như hoạt động của lớp. Từ đó có điều chỉnh, bổ sung, hướng dẫn để các em trong Ban cán sự dần làm tốt công việc của mình. 12 - Cuối mỗi tháng, tôi tổ chức họp Ban cán sự để tổng kết các mặt làm được của lớp, động viên khen ngợi những việc các em đã làm tốt, đồng thời chỉ rõ những thiếu sót và hướng dẫn các em cách khắc phục. Để nâng cao khả năng tự chủ, tự quản của các em, tôi cho các em bầu Ban cán sự 2 lần/ năm vào đầu năm học và đầu học kì 2 để các em mạnh dạn tự tin, có khả năng quản lý lớp tham gia ứng cử và có thể lựa chọn được những em ưu tú nhất đứng ra quản lý các hoạt động của lớp. Sau một thời gian hoạt động, tôi nhận thấy nề nếp tự quản của lớp tiến bộ rõ rệt. Đặc biệt là năng lực tự chủ được phát huy rất tốt. Các em tự đôn đốc nhắc nhở nhau thực hiện tốt các nội quy, quy định, các nhiệm vụ đã được phân công như: đi học đúng giờ; trang phục đúng quy định; vệ sinh lớp và công trình măng non sạch sẽ; bàn ghế, sách vở và các góc trong lớp luôn ngay ngắn gọn gàng; tự chủ trì được tiết sinh hoạt lớp, tự giác tập trung trong giờ học hơn; duy trì truy bài hiệu quả mà không cần cô giáo nhắc nhở, ... Ban cán sự duy trì giờ truy bài 13 3.3. Biện pháp 3: Rèn kĩ năng giao tiếp cho học sinh qua quy tắc “4 Xin” Để rèn cho các em những kĩ năng giao tiếp hằng ngày trong những tình huống cụ thể như: biết chào hỏi khi gặp thầy cô, người lớn và các bạn; biết xin phép thầy cô hoặc ông bà, cha mẹ khi mình muốn làm việc gì; biết xin lỗi khi bản thân đã làm việc gì đó không nên, không phải với người khác; biết cảm ơn khi nhận được quà hoặc sự giúp đỡ của người khác với mình, tôi sử dụng quy tắc “4 Xin” đó là: “xin chào”, xin lỗi”, “xin cảm ơn” và “xin phép”. Qua việc vận dụng quy tắc vào những tình huống thực tế hằng ngày cũng như lồng ghép vào nội dung các bài giảng, “4 Xin” dần trở nên gần gũi và quen thuộc với các em. Học sinh đã chủ động, mạnh dạn, tự tin chào hỏi, cảm ơn, xin lỗi, xin phép và bày tỏ mong muốn cá nhân của mình. Quy tắc “4 Xin” 3.4. Biện pháp 4: Động viên, khen ngợi học sinh theo thông tư 27 Với học sinh lớp 1, các em thay đổi môi trường học tập hoàn toàn, những ngày đầu đến trường là những ngày khó khăn nhất đối với các em. Thầy cô mới, bạn mới, trường mới,...tất cả mọi thứ đều xa lạ với các em. Nếu ấn tượng của những buổi đầu đi học đã làm các em lo lắng thì các em sẽ sợ sệt, không muốn đến trường, đến lớp và hiệu quả giáo dục sẽ không cao. Hiểu được điều đó, ngay từ buổi đầu nhận lớp, tôi dành thời gian để trao đổi, trò chuyện với các em như những người 14 thân để tạo sự gần gũi cũng như niềm tin đối với cô giáo và nhà trường; giúp các em biết sự cần thiết của việc đến trường, vai trò của các em đối với lớp học và trường học,... Cùng với việc đổi mới phương pháp dạy học, tôi cũng đổi mới cách giao tiếp với học trò. Muốn học sinh thân thiện với mình thì người giáo viên phải tạo sự thân thiện với học sinh trước. Thường xuyên gần gũi, lắng nghe tâm tư, nguyện vọng hoặc chia sẻ với các em niềm vui, nỗi buồn; luôn thể hiện sự ân cần, quan tâm với tất cả học sinh, không phân biệt đối xử, không quát mắng làm các em có cảm giác bị ghét bỏ. Luôn tạo không khí lớp học vui vẻ, thoải mái bằng cách đan xen một số trò chơi hoặc câu đố liên quan đến bài học. Ví dụ: Khi giải các bài toán điền số, điền dấu hoặc đúng sai, tôi kết hợp tổ chức cho học sinh chơi các trò chơi như hái quả, ô cửa bí mật, .... Tuy chỉ mất một chút thời gian nhưng đã tạo cho lớp học những giây phút thoải mái học mà chơi. Không tiếc những lời khen ngợi với các em dù là những thành công nhỏ nhất mà các em làm được. Một lời khen có hiệu quả giáo dục gấp nhiều lần so với những lời chỉ trích, chê bai. Đặc biệt là với học sinh chậm tiến thì lời động viên, khen ngợi như là liều thuốc tinh thần giúp các em hứng khởi, tự tin. Trong học tập, sự cần cù có phần bù đắp cho sự thông minh. Nếu khen ngợi, động viên kịp thời sẽ giúp học sinh ham thích và dẫn tới chăm chỉ trong học tập, hiệu quả học tập sẽ cao hơn. Ví dụ: tôi động viên các em : Cô vui vì em đã có cố gắng hơn ngày hôm qua, cô tin em là một bạn nhỏ thông minh, chỉ cần em chăm chỉ học tập, em sẽ làm được; Thật tuyệt! em hãy phát huy mỗi ngày nhé; Cô luôn tin tưởng vào khả năng của em, cô mong sẽ sớm thấy em tiến bộ hơn nữa; 15 Học sinh rất phấn khởi, tự tin khi được động viên, khen ngợi 3.5. Biện pháp 5: Xây dựng thói quen học tập có nền nếp Lớp tôi chủ nhiệm cũng còn một vài em nhút nhát, chưa mạnh dạn hòa đồng với bạn bè trong lớp. Ngay từ khi tìm hiểu thông tin cơ bản về các em, biết được 16 điều đó tôi đã tiến hành thành lập các đôi bạn cùng tiến để giúp đỡ nhau học tập và trong mọi hoạt động khi ở trường. Đôi bạn cùng tiến được thay đổi khi thấy cần thiết. Tôi hướng dẫn học sinh học tập theo 3 bước đó là làm việc cá nhân – làm việc trong nhóm – trình bày trước lớp và áp dụng hình thức này trong các giờ học để các em có thể giúp đỡ, hỗ trợ lẫn nhau khám phá kiến thức và để các em chủ động, mạnh dạn, tự tin trao đổi với nhau hơn. Các đôi bạn hỗ trợ nhau cùng học 3.6. Biện pháp 6: Tích cực phối hợp với phụ huynh trong việc dạy học, giáo dục học sinh. Nhận thấy tầm quan trọng của gia đình đối với học sinh, ngay trong buổi họp phụ huynh đầu năm tôi đã dành thời gian hướng dẫn phụ huynh cách dạy con tự 17 học. Tôi lập nhóm zalo để bên cạnh mục đích trao đổi với phụ huynh về tình hình học tập của học sinh, các phong trào hoạt động của lớp, tôi còn thường xuyên trao đổi với phụ huynh những biểu hiện về năng lực và phẩm chất của các em,... phụ huynh đã phối hợp và có những phản hồi tích cực. Việc phối kết hợp chặt chẽ với phụ huynh đã giúp cho quá trình phát huy năng lực, phẩm chất đạt hiệu quả cao hơn. III. KẾT QUẢ VÀ ỨNG DỤNG Qua thời gian tiến hành áp dụng giải pháp vào thực tế, tôi thấy các em mạnh dạn, tự tin, tự giác trong học tập, trong giao tiếp và trong các động, tôi thấy vui mừng và tin tưởng vào những gì mình đã làm. Kết quả đạt được trong năm học vừa qua cụ thể như sau: 18 Biểu hiện Biểu hiện rõ nhưng chưa Biểu hiện và thường thường chưa rõ Nội dung đánh giá TSHS xuyên xuyên Tỉ lệ Tỉ lệ Tỉ lệ SL SL SL % % % Thực hiện nội quy 24 80 6 20 0 0 Kĩ năng tự phục vụ 25 83,3 5 16,7 0 0 Tập trung học tập 30 24 80 6 20 0 0 Mạnh dạn tự tin 26 86,7 4 13,3 0 0 Kĩ năng giao tiếp 24 80 6 20 0 0 Nhờ việc áp dụng những giải pháp này, không chỉ chất lượng về kiến thức kĩ năng các môn học mà cả năng lực phẩm chất cũng được nâng lên rõ rệt. Đây là kết quả cho sự nỗ lực cố gắng rèn luyện của cả cô và trò lớp tôi. IV. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ "Một số biện pháp phát huy năng lực tự chủ, tự học cho học sinh lớp 1" áp dụng vào thực tế đã mang lại hiệu quả rõ rệt, từng bước thực hiện được mục tiêu, yêu cầu của chương trình giáo dục phổ thông 2018. Giải pháp được áp dụng đã phát huy được tính tích cực, chủ động cho học sinh; tạo thêm cơ hội để học sinh hình thành và phát triển năng lực cốt lõi, phẩm chất chủ yếu để ngày càng hoàn thiện bản thân. Qua thực tiễn áp dụng giải pháp, tôi rút ra được một số kinh nghiệm như sau: - Rèn thói quen để phát huy năng lực, phẩm chất cho các em là cả một quá trình, không được nôn nóng, vội vàng. Cần tỉ mỉ, cụ thể. Làm đến đâu chắc đến đó, củng cố và thực hành hằng ngày. - Rèn cho học sinh thói quen tích cực, tự giác cả ở trường và ở nhà. 19 - Tạo hứng thú trong học tập cho học sinh là việc làm vô cùng quan trọng. Vì vậy, trong mỗi tiết học, mỗi hoạt động cần tạo không khí lớp học thoải mái, vui vẻ. Kịp thời động viên, khích lệ những cố gắng, sự tiến bộ của học sinh. - Phối hợp chặt chẽ với gia đình học sinh giúp cho việc tiến hành và thực hiện các hoạt động, đặc biệt là hoạt động học viết đạt hiệu quả cao. Vì vậy, thường xuyên trao đổi, chia sẻ với phụ huynh sẽ giúp học sinh viết chữ tiến bộ, tự tin, tự giác hơn. Qua quá trình áp dụng vào thực tế làm công tác chủ nhiệm, tôi thấy "Một số biện pháp phát huy tính tích cực, chủ động cho học sinh lớp 1" đã đạt được hiệu quả thiết thực. Vì vậy, tôi mong muốn Nhà trường tổ chức các buổi sinh hoạt chuyên môn, hội thảo về phát triển phẩm chất, năng lực của học sinh nói chung và học sinh lớp 1 nói riêng để chúng tôi được trao đổi, học hỏi kinh nghiệm để chất lượng của học sinh được nâng cao hơn nữa. TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Từ điển Tiếng Việt (1990), nhà xuất bản Hà Nội. 2. Phạm Minh Hạc (1996), Tâm lí học, NXB. Giáo dục 3. Nguyển Sinh Huy (1997), Giáo dục học, NXB Giáo dục 4. Nguyễn Đức Hoành (2006), Chuyên đề : Một số Phương pháp và Hình thức tổ chức dạy học
File đính kèm:
mot_so_bien_phap_de_phat_huy_nang_luc_tu_chu_tu_hoc_cho_hoc.pdf



