Một số biện pháp xây dựng và phát triển các kĩ năng tự học của học sinh lớp 4

pdf28 trang | Chia sẻ: Chan Chan | Ngày: 10/02/2026 | Lượt xem: 5 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Một số biện pháp xây dựng và phát triển các kĩ năng tự học của học sinh lớp 4, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút TẢI VỀ ở trên
 1 
 PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO YÊN THẾ 
 TRƯỜNG TIỂU HỌC TÂN SỎI 
 BIỆN PHÁP 
 MỘT SỐ BIỆN PHÁP XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN 
 CÁC KỸ NĂNG TỰ HỌC CỦA HỌC SINH LỚP 4 
 Họ và tên: Nguyễn Thị Giang 
 Đơn vị: Trường Tiểu học Tân Sỏi, huyện Yên Thế. 
XÁC NHẬN CỦA NHÀ TRƯỜNG 
 HIỆU TRƯỞNG NGƯỜI VIẾT 
 Lê Thu Hường 
 Nguyễn Thị Giang 
 Tân Sỏi, năm 2024 
 2 
 MỤC LỤC 
 Tên đề mục Trang 
 Phần I: Mở đầu 2 
1. Lý do chọn biện pháp 2 
2. Mục đích nghiên cứu. 2 
3. Nhiệm vụ nghiên cứu. 3 
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu. 3 
5. Phương pháp nghiên cứu. 4 
Phần II. Nội dung nghiên cứu 4 
1. Cơ sở lý luận 4 
2. Cơ sở thực tiễn 5 
 3 .Các biện pháp 7 
Phần III. Kết quả và ứng dụng 25 
1. Kết quả đạt được 25 
 2. Ứng dụng 25 
Phần IV. Kết luận và kiến nghị 26 
1. Kết luận 26 
 Tài liệu tham khảo 27 
 2 
 I. PHẦN MỞ ĐẦU 
 1. Lí do chọn biện pháp 
 Đối với học sinh tiểu học, việc phát triển các năng lực cơ bản trong học 
tập và sinh hoạt có ý nghĩa rất quan trọng, nó ảnh hưởng đến quá trình hình 
thành và phát triển những kĩ năng, năng lực, nhân cách của các em sau này. 
Trong đó kỹ năng tự học là một kỹ năng quan trọng nhất bởi vậy tôi xây dựng 
biện pháp này dựa trên các lí do sau: 
 Xuất phát từ yêu cầu đổi mới chương trình giáo dục phổ thông 2018 và 
đổi mới phương pháp dạy học nhằm hình thành phát triển các kĩ năng, năng 
lực, phẩm chất giúp các em khám phá khả năng của bản thân. 
 Xuất phát từ thực trạng năng lực tự học của một số học sinh còn hạn chế 
khi vận dụng lý thuyết vào các bài tập đôi khi còn máy móc, dập khuôn nên 
khi giao nhiệm vụ cho học sinh tự học gặp các dạng bài khác, hay các tình 
huống có vấn đề các em còn lúng túng chưa có thói quen tư duy để giải quyết. 
 Xuất phát từ việc một số học sinh chưa xác định được mục tiêu học tập, 
chưa có kế hoạch học tập cụ thể. Học sinh còn lúng túng khi thực hiện các 
nhiệm vụ học tập chưa phát huy được tính chủ động, tích cực của học sinh, 
chưa tạo hứng thú cho học sinh trong học tập. 
 Ngoài ra, học sinh trong các tiết thực hành, luyện tập yêu cầu việc tự học, 
tự khám nhiều hơn nhưng các em vẫn còn lúng túng khi tự học. Một số học sinh 
chưa có thói quen làm việc cá nhân, nhóm để tự học, tự giải quyết vấn đề. Hay 
khi rèn luyện kỹ năng thường bị lặp đi lặp lại và chủ yếu nhằm vào các học sinh 
mạnh dạn, năng khiếu đã được bộc lộ sẵn. 
 Từ lí do trên tôi lựa chọn nghiên cứu biện pháp “Một số biện pháp xây 
dựng và phát triển các kĩ năng tự học của học sinh lớp 4” với hy vọng góp 
phần nâng cao kĩ năng tự học và tạo thói quen học tập cho học sinh lớp 4. 
 2. Mục đích nghiên cứu 
 Đứng trước tình hình học sinh chưa biết tự học. Tôi mong muốn làm 
sao tìm ra nguyên nhân từ đó có các biện pháp khắc phục giúp học sinh thấy 
 3 
được việc tự học tập thực sự là cần thiết, thầy cô chỉ là người hỗ trợ để học sinh 
hoàn thành nhiệm vụ học tập. 
 Học sinh có kĩ năng tự học có thể hoàn toàn tự chủ, hình thành nên cách 
học và tính tự giác, tích cực trong học tập, tự mình quyết định việc lựa chọn mục 
tiêu, nội dung, phương pháp, hình thức, phương tiện cho hoạt động học tập; tự 
mình lập kế hoạch và thực hiện kế hoạch học tập; tự mình kiểm tra, đánh giá, 
điều chỉnh việc học tập của mình. 
 Học sinh sẽ có khả năng tự học, tự giải quyết vấn đề linh hoạt, phù hợp. 
 Biện pháp phát triển kĩ năng tự học, tự giải quyết vấn đề cho học sinh 
còn nhằm mục đích để giáo viên phối hợp với cá nhân và tập thể học sinh, cùng 
với các lực lượng giáo dục khác để hướng dẫn học sinh thực hiện thuần thục 
các kĩ năng tự học một cách tự giác, tích cực để đạt mục đích học tập như một 
thói quen. Góp phần phát triển năng lực, phẩm chất của học sinh một cách toàn 
diện, đáp ứng yêu cầu đổi mới chương trình Giáo dục phổ thông 2018. 
 3. Nhiệm vụ nghiên cứu 
 Để học sinh xây dựng được các kĩ năng tự học, tự giải quyết vấn đề, các 
giải pháp tập trung nghiên cứu: 
 - Mục đích yêu cầu, mục tiêu, đích đến của việc tự học. 
 - Về thực trạng, nguyên nhân về việc tự học để từ đó tìm ra các giải pháp 
phù hợp với từng đối tượng học sinh. 
 - Các giải pháp nhằm rèn cho học sinh các kĩ năng tự học, tự giải quyết 
vấn đề để hoàn thành tốt mục tiêu học tập. 
 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 
 Đối tượng nghiên cứu: Một số giải pháp dạy học tích cực giúp học sinh 
lớp 4 năng cao kĩ năng tự học, tự giải quyết vấn đề. 
 Phạm vi nghiên cứu: 
 + Phạm vi về quy mô: Các giải pháp dạy học tích cực, phương pháp giảng 
dạy hiệu quả và tạo cơ hội cho học sinh thực hành nhiều hơn. 
 + Phạm vi về thời gian: Từ tháng 9 năm 2021 đến tháng 5 năm 2022 
 4 
 + Phạm vi về đối tượng: Học sinh lớp 4 nơi đơn vị tôi đang công tác. 
 5. Phương pháp nghiên cứu 
 Để thực hiện tốt các giải pháp này tôi đã sử dụng một số phương pháp sau: 
 - Phương pháp điều tra: Đọc, phân tích các tài liệu có liên quan có liên 
quan đến khả năng tự học của học sinh. 
 - Phương pháp quan sát: Quan sát, thu thập thông tin về khả năng của từng 
của học sinh. Từ đó phân tích, tổng hợp số liệu đưa ra các giải pháp cụ thể. 
 - Ứng dụng sơ đồ tư duy: Sử dụng sơ đồ tư duy xây dựng kĩ năng học tập 
cho học sinh. 
 - Phương pháp thực hành: Vận dụng việc dạy học trải nghiệm STEM, dạy 
học theo nhóm, . Tạo hứng thú học tập cho học sinh. 
 II. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 
 1. Cơ sở lí luận 
 Khả năng tự học là một kỹ năng rất quan trọng mà không chỉ học sinh 
mà tất cả mọi người cần phải trang bị cho bản thân. Học sinh ngày nay không 
chỉ nắm được các kiến thức cơ bản từ các thầy, cô giáo, mà còn phải biết cách 
tự học thông qua việc tìm hiểu, nắm bắt thông tin, xử lí thông tin, thực hành 
và áp dụng kiến thức vào thực tế cuộc sống. 
 Phương pháp giáo dục học sinh về kỹ năng tự học không chỉ giúp học 
sinh có khả nắm bắt kiến thức một cách tự nhiên nhất mà còn là bước đệm 
quan trọng để hình thành khả năng tự chủ, tự giải quyết các vấn đề liên quan. 
Học sinh biết cách tự học và phát triển bản thân mới có thể phát triển đáp ứng 
với nhu cầu của xã hội. Tự học trở thành một thói quen trong suốt cuộc đời 
của mỗi con người chúng ta. 
 Với sự hỗ trợ của giáo viên và nhà trường, phụ huynh học sinh chúng ta 
có thể đảm bảo rằng học sinh sẽ không chỉ ra trường với kiến thức được nhà 
trường trang bị mà còn với khả năng tự học, sẵn sàng đối mặt với mọi thách 
thức và khám phá sự phát triển bản thân không giới hạn. 
 5 
 Để giáo dục học sinh về kỹ năng tự học, chúng ta cần áp dụng một 
phương pháp giảng dạy hiệu quả và tạo cơ hội cho học sinh của chúng ta thực 
hành nhiều hơn. 
 Qua đó chúng ta hiểu được tầm quan trọng của việc giáo dục học sinh 
về kỹ năng tự học và cách thực hiện điều này thông qua một phương pháp 
giảng dạy hiệu quả. 
2. Cơ sở thực tiễn 
 2.1. Thực trạng về kỹ năng tự học của học sinh lớp 4. 
 2.1.1. Thuận lợi 
 Nhà trường luôn quan tâm, chỉ đạo thực hiện công tác chuyên môn có 
hiệu quả, nâng cao tay nghề cho giáo viên. 
 Nhà trường, tổ chuyên môn đã tổ chức chuyên đề dạy học theo phương 
pháp dạy học trải nghiệm, theo Nghiên cứu bài học định hướng phát triển 
năng lực học sinh. 
 Giáo viên đều được trang bị đầy đủ sách giáo khoa, sách giáo viên, 
sách tham khảo, . Đội ngũ giáo viên có năng lực, yêu nghề đã áp dụng 
phương pháp dạy học phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh 
linh hoạt và hiệu quả. 
 Ở tại các lớp học đã được trang bị phương tiện dạy học đầy đủ như ti 
vi, mạng internet, ... để hỗ trợ học sinh trong quá trình học tập. 
 Học sinh lớp 4 đã lớn hơn các em lớp dưới nên khả năng nhận thức, 
nhận nhiệm vụ tương đối nhanh và hiệu quả. 
 2.1.2. Khó khăn 
 Từ năm học 2021 - 2022 đến nay tôi được Ban giám hiệu nhà trường 
phân công giảng dạy và chủ nhiệm lớp 4. Thực tế qua giảng dạy tôi nhận thấy: 
 Học sinh tiểu học nói chung, học sinh lớp 4 nói riêng các em chỉ nắm vững 
về lý thuyết nhưng kĩ năng tự giải quyết vấn đề đôi khi còn gặp khó khăn, nhất 
là kĩ năng tự học. Đặc biệt là những học sinh lớp 4 một số em kĩ năng tự học 
còn hạn chế, các em phải nhờ đến sự hỗ trợ giúp đỡ của người lớn rất nhiều 
 6 
mới hoàn thành nhiệm vụ học tập. Khi giao cho các em tự suy nghĩ và giải 
quyết vấn đề thì các em lúng túng, thậm chí không thể giải quyết được cho dù 
có những vấn đề rất gần gũi với các em. Nguyên nhân chính là do các em chưa 
biết cách tự học, chưa biết nghiên cứu và tìm hiểu kiến thức cho riêng mình. 
 Về phía phụ huynh: Nuôi dạy con cái là một điều khó khăn. Dạy gì? 
Dạy như thế nào là đúng cách, đúng mức? Thật không phải dễ. Đa số phụ 
huynh rất quan tâm đến các con nhưng biết cách đồng hành học tập cùng con, 
tạo cho các con thói quen tự học còn gặp khó khăn. Phụ huynh tuổi trẻ chủ 
yếu đi làm xa, đi làm công ty nên thời gian dành cho các con là không nhiều. 
Trong thời gian các con học tập ở nhà một số phụ huynh lại chưa biết cách 
phối hợp hướng dẫn con tự học. 
 Qua khảo sát điều tra thì vẫn còn một số học sinh không gian tự học tại 
nhà chưa đảm bảo như gia đình có đông người vào ra, trò chuyện nên sự chú 
ý của các em cũng bị phân tán việc tự học cũng kém hiệu quả. 
 Về phía học sinh: Một số các em chưa có thói quen tự tìm hiểu thông tin và 
tự tư duy, có thái độ trông chờ, ỷ lại chờ đợi sự hướng dẫn từ thầy, cô giáo. Tôi 
thường thấy đa số học sinh không tự làm bài khi giáo viên chưa giảng, chưa 
hướng dẫn cụ thể. Do đó, các em không tự suy nghĩ, không tự học được. 
 Hầu hết các em học chỉ để hoàn thành một nhiệm vụ nào đó của giáo 
viên hay cha mẹ giao cho mà không hiểu rằng học nhằm vào việc thay đổi 
chính bản thân mình, nhằm hình thành kĩ năng, thói quen tự học phát triển các 
năng lực cho bản thân. 
 Bản thân tôi là một giáo viên chủ nhiệm, tôi ý thức được vai trò quan 
trọng của mình trong việc xây dựng và phát triển các năng lực, phẩm chất 
trong đó kỹ năng tự học. Nhưng làm thế nào để kích thích hứng thú tự học ở 
các em? Các em cần có phương pháp, kĩ năng tự học nào? Để tự học các em 
cần những điều kiện vật chất nào? Cách thực hiện ra sao? Cùng với đổi mới 
cách dạy học, đáp ứng việc đổi mới đánh giá học sinh theo Số: 27/2020/TT-
BGDĐT về Quy định đánh giá học sinh tiểu học của Bộ Giáo dục và Đào tạo: 
 7 
Đánh giá quá trình học tập, sự tiến bộ và kết quả học tập của học sinh đáp ứng 
yêu cầu cần đạt của từng môn học. Đánh giá sự hình thành và phát triển phẩm 
chất, năng lực của học sinh giúp học sinh có khả năng tự đánh giá, tham gia 
đánh giá; tự học, tự điều chỉnh cách học; giao tiếp, hợp tác; có hứng thú học 
tập và rèn luyện để tiến bộ. 
 Trước khi áp dụng các phương pháp đầu năm tôi khảo sát về khả năng 
tự học của các em như sau: 
 Tổng số/tỉ lệ 
 Số Có khả % Khả năng % Chưa có % 
 Năm học 
 HS năng tự tự học hạn khả năng 
 học chế tự học 
 2021 - 2022 30 8 26,7 15 50 7 23,3 
 Nhìn vào bảng số liệu trên có thể thấy số lượng khả năng tự học hạn 
chế và chưa có khả năng tự học học còn cao. Điều đó khiến cho tôi rất băn 
khoăn và trăn trở. Để khắc phục những khó khăn mà học sinh gặp phải, để 
hình thành và phát triển kỹ năng tự học cho học sinh lớp 4 cần thiết phải có 
những giải pháp phù hợp, thực tế, học sinh dễ dàng tiếp nhận trong quá trình 
dạy và học nhằm phát huy các năng lực, phẩm chất cho học sinh. Trong quá 
trình giảng dạy tôi áp dụng các giải pháp sau: 
3. Các biện pháp 
* Biện pháp 1: Thay đổi linh hoạt các hình thức hoạt động học tập tạo cơ 
hội cho học sinh tự học, tự giải quyết vấn đề 
 Thay vì như trước đây tôi thường hướng dẫn cho học sinh hiểu bài rồi 
giao bài cho các em làm thì giờ đây tôi dần hình thành và rèn luyện cho học 
sinh thói quen tự học thông qua việc đưa ra các thắc mắc về bài học và vấn đề 
khác trong xã hội, tự nhiên. Để thực hiện tốt biện pháp này tôi hướng tới việc 
dạy học dựa trên tình huống thực tế hay còn gọi là cách dạy học giải quyết 
vấn đề. Với các nội dung trong sách giáo khoa giáo viên cần phải tự tìm xem 
nội dung đó có ứng dụng với thực tế được hay không? Từ các ứng dụng thực 
 8 
tế đó biến thành tình huống để vào bài kích thích sự tò mò của học sinh muốn 
khám phá, tìm hiểu. Học sinh tìm cách để giải quyết các thắc mắc khi tự tìm 
hiểu các kiến thức đã có, qua tài liệu, sách báo, tạp chí, phương tiện thông tin, 
mạng internet, qua cô giáo, người lớn, bạn bè. 
 Học sinh khám phá kiến thức thông qua tìm hiểu sách báo 
 Nếu như trước đây giáo viên thường chỉ tiếp cần từ khía cạnh mà thôi vì 
chỉ sợ học sinh không hiểu được các khái niệm, không học được các công 
thức và mình dành rất nhiều thời gian để hướng dẫn giúp học sinh hiểu. Học 
sinh đôi khi học những khái niệm đó mà không biết tại sao mình phải học, 
nên việc học rất là vất vả. điều đó cũng khiến các em không định hướng được 
việc học của mình nên các em chưa thực sự hứng thú học tập. Còn đối với 
việc dạy học phát triển năng lực học sinh thì giáo viên không chỉ tiếp cận về 
mặt nội dung mà cần phải thông qua những kiến thức thực tế, thông qua việc 
các em được tự học, tự mình khám phá, tự tìm ra tình huống có vấn đề và 
cùng nhau giải quyết vấn đề. Không những vậy tôi luôn tạo cơ hội cho học 
sinh phát triển cho các em kĩ năng quan sát, hình thành thói quen đặt câu hỏi 
trước sự việc quan sát được, . Gây hứng thú từ cách đặt vấn đề của giáo 
viên, đó cũng là giao nhiệm vụ cho các em. Có những vấn đề các em chưa 
 9 
biết, chưa thích thú nhưng khi thấy giáo viên đặt vấn đề cuốn hút làm cho các 
em tự có nhu cầu tìm hiểu để khám phá nó. 
 Trong quá trình tự học giáo viên cần đảm bảo học sinh gặp khó khăn cần 
trợ giúp là được trợ giúp kịp thời. Khi tự học tại lớp nhất là các tiết luyện tập, 
ôn tập, làm bài tập, . Khi giao nhiệm vụ cho học sinh giáo viên cần dành 
cho các em thời gian tìm hiểu yêu cầu, nhiệm vụ đưa ra hướng giải quyết vấn 
đề, giáo viên cần dành đủ thời gian cho học sinh tư duy, trao đổi với bạn, hoặc 
tra cứu thông tin chủ động giải quyết vấn đề. Giáo viên chỉ là trợ giúp khi 
thực sự cần thiết tránh việc làm giúp học sinh sẽ khiến các em có thói quen ỉ 
lại. Nghĩa là luôn theo dõi nhưng giáo viên hình thành cho học sinh kỹ năng 
tự chủ cho các em trong khi tự học. 
 Hỗ trợ học sinh làm bài khi thực sự cần thiết 
 Khi được giao và thực hiện nhiệm vụ học tập tôi luôn chú ý quan sát quá 
trình tự học, tự giải quyết vấn đề của học sinh. Với việc làm này tôi dễ dàng 
nắm bắt năng lực, khả năng của từng học sinh đối với môn học. Điều này rất 
quan trọng vì nó giúp tôi có cơ sở để phát triển năng lực tự học cho học sinh. 
 10 
Ví dụ: Học sinh có tư duy tốt về giải toán thì trong khi tổ chức luyện tập được 
giao thêm bài nâng cao hơn thách thức được tư duy của các em từ đó giúp em 
say mê với toán học. Hay học sinh đọc diễn cảm tốt thì tôi sẽ tạo cơ hội cho 
em phát triển như đọc mẫu trong các bài đọc hay dẫn chương trình, giúp 
các em phát triển các năng lực của bản thân. 
 Học sinh dẫn chương trình trong hoạt động trò chơi học tập 
 Để học sinh phát triển được kỹ năng tự học thì việc động viên khích lệ 
cũng là một việc làm không thể thiếu. Tôi luôn dành cho các em lời khen, lời 
động viên cho các em dù là những tiến bộ nhỏ nhất, đặc biệt là những học 
sinh có kỹ năng tự học còn hạn chế. Tôi nhận thấy rằng với việc làm này giúp 
các em sẽ tự tin hơn, tự hào hơn về những cố gắng của bản thân mình. Từ đó 
các em sẽ mạnh dạn, chủ động khi tự học. 
 Ngoài ra, hang ngày tôi luôn tạo học sinh thói quen tự đánh giá lại việc làm 
của mình, của bạn. Khi hoàn thành một nhiệm vụ học tập, học sinh tự đánh giá 
kết quả và tự rà soát được mức độ hoàn thành so với tiêu chí hay kết quả nhiệm 
vụ. Từ đó tìm ra nguyên nhân dẫn đến cái gì mình chưa làm được và làm được 
theo yêu cầu để từ đó có hướng phát huy hoặc khắc phục. Các em sẽ tự đánh giá 
 11 
được năng lực học tập của bản thân. Để quá trình tự kiểm tra, đánh giá được hiệu 
quả, giáo viên cần tạo cho các em thói quen đưa ra các thắc mắc và cách mà các 
em giải quyết thắc mắc đó từ bản thân mình, phối hợp trong nhóm bạn. 
 Học sinh trao đổi kết quả học tập 
 Để hình thành thói quen tự học cho học sinh, đảm bảo cho học sinh đủ 
kiến thức, kỹ năng môn học cần thiết; động viên tạo cho các em kỹ năng kiên 
nhẫn trong học tập. Kiên trì không được bỏ nếu nhiệm vụ học tập khó khăn. 
Bên cạnh đó bản thân tôi luôn đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát 
huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh. Giờ dạy học trên lớp phải 
là giờ mà hoạt động học của học sinh giáo viên chỉ là người tạo cho các em có 
hứng thú học tập, có nhu cầu khám phá, phản biện và biết giải quyết vấn đề. 
 * Biện pháp 2: Xây dựng phát triển kĩ năng tự học thông qua các tiết học 
luyện tập, củng cố. 
 Các tiết học luyện tập củng cố là một trong những tiết học mà ở đó các 
em phát huy được năng lực tự học nhiều nhất. Để phát huy hiệu quả trong các 
tiết dạy luyện tập hay ôn tập tôi sẽ xác định kiến thức cũ có liên quan cần 
củng cố, khắc sâu. Từ đó cần rèn cho học sinh có kỹ năng tự học cần thiết. 
 12 
 Chọn bài tập (số lượng và nội dung) phù hợp với quy luật từ dễ đến khó, 
đơn giản đến phức tạp, phù hợp với đối tượng học sinh và yêu cầu cuộc sống. 
 Các bài tập đưa ra tình huống “Có vấn đề” để kích thích tư duy học 
sinh tìm cách giải quyết vấn đề đó. Nếu vấn đề cần có sự trợ giúp hay phối 
hợp thì cần dành thời gian và tạo thói quen cho học sinh phối hợp để giải 
quyết vấn đề của bài học. 
 Học sinh trao đổi giải quyết vấn đề 
 Xây dựng cho học sinh thói quen lập luận, trình bày lời giải, tìm lời 
giải ngắn gọn, khoa học nhất, phát huy tư duy độc lập, sáng tạo của học sinh. 
Tập cho học sinh thói quen tự học từ cá nhân đến nhóm, trình bày trước lớp, 
chia sẻ. Sau mỗi tiết học cho học sinh tự rút ra nhận xét về quá trình hoàn 
thiện kiến thức và phải mở ra được kiến thức mới cần tìm hiểu, nghiên cứu. 
 Ngoài ra, tôi thường xuyên thay đổi hình thức luyện tập của học sinh ở 
nhà thông qua các trò chơi học tập trên các trang như My Quizzi.com, 
Olm.vn, ... sau mỗi tuần học. Qua đó tôi cũng có thể dễ dàng nắm được mức 
độ tự học của học sinh. 
 13 
 Xây dựng bài tập trên Quizzi.com 
 Xây dựng các bài luyện tập trên olm.vn 
* Biện pháp 3: Hướng dẫn học sinh lập nhật ký học tập - xây dựng kế 
hoạch tự học: 
 Học tập cũng phải mang có mục tiêu, kế hoạch cụ thể. Điều đó giúp học 
sinh học tập chủ động hơn, học tập có tính khoa học hơn, Với biện pháp này 
 14 
giáo viên cần định hướng cho học sinh xây dựng kế hoạch học tập, đánh giá 
kết quả của mục tiêu đã đề ra như xác định mục tiêu chung (mục tiêu dài hạn), 
mục tiêu riêng (các mục tiêu ngắn hạn). Vậy, ai là người đánh giá quá trình 
học của các em? - Đó là giáo viên, là bạn bè, là phụ huynh. Nhưng quan trọng 
hơn đó là chính bản thân các em. Bởi vì các em chính là người tham gia quá 
trình tự học. Khi các em biết đánh giá chính bản thân những gì đạt được và 
chưa đạt được so với mục tiêu ban đầu đã đề ra, từ đó các em sẽ tự điều chỉnh 
mình để đưa ra kế hoạch phù hợp. Để đạt hiệu quả tốt nhất tôi cho học sinh 
viết “Nhật ký học tập”. Việc làm này có nhiều em rất thích bởi vì các em đó 
có sự tự tin. Nhưng nhiều em ban đầu rất sợ viết vì trong đó có nêu cả những 
việc chưa làm được của chính mình rồi từ đó khắc phục. Sau một thời gian, 
các em biết cách ghi và có nhiều tiến bộ. Các em biết mình còn thiếu kiến 
thức nào rồi tìm cách học lại kiến thức đó. Khi đến trường, các em tự tin hơn, 
không phải thụ động như trước mà chủ động tiếp thu kiến thức và thực hành. 
 Học sinh chia sẻ điều mình học được trong tuần 
 15 
 Tôi tạo cho học sinh thói quen viết nhật ký hàng ngày. Cuối mỗi tuần, các 
em có thể tự đánh giá hoặc đưa cho cha mẹ, cô giáo đánh giá ( nếu cần). Những 
lời nhận xét ngắn gọn nhưng rõ ràng, đúng trọng tâm vấn đề có tác dụng rất lớn 
giúp các em tự điều chỉnh việc tự học của mình để phù hợp với khả năng của 
bản thân. Trong nhiều năm dạy học, tôi thấy: ghi nhận xét và lời động viên ra 
giấy để các em đọc có tác dụng và hiệu quả hơn lời nói trực tiếp. Các em vui 
mừng trao cho nhau đọc những lời nhận xét, kể cả những em làm tốt hay chưa 
làm tốt. Cả hai đều có tác dụng tốt, tạo động lực cho các em phấn đấu. 
 Trang nhật ký học tập của học sinh 
 Hướng dẫn các em lập thời gian biểu để hoàn thành bài tập, đọc bài 
trong sách giáo khoa và giao nghiên cứu nội dung mới, các bài tập cho phát 
triển năng lực. Có nghĩa là từ xây dựng thời gian biểu buổi học, trong ngày, 
vài ngày, cả tuần và cũng có thể lâu hơn. Hướng cho các em lựa chọn, ưu tiên 
cho từng công việc, việc nào làm trước, việc nào làm sau trong một khung 
thời gian ngắn hạn và dài hạn. Đối với học sinh tiểu học, học sinh càng nhỏ 
thì giáo viên phải giao việc càng cụ thể, chi tiết, ngắn hạn, phù hợp năng lực 
giúp các em tự hoàn thành được công việc một cách thoải mái. Mức độ yêu 
 16 
cầu tự học để hoàn thành công việc học tập được nâng dần độ khó để phát huy 
được năng lực và tạo hứng thú khám phá cho các em. 
 Qua việc làm làm này tôi thấy học sinh tập khoa học hơn, chuẩn bị bài 
tốt hơn khi tới lớp nên hiệu quả bài học cũng được nâng lên đáng kể. Từ đó kĩ 
năng tự học của học sinh cũng được nâng lên. 
 * Biện pháp 4: Hướng dẫn cách tự học “ Bí quyết giúp học sinh nhớ lâu”. 
 Mỗi môn học có những yêu cầu riêng và cần phải có cách học riêng thì 
mới có hiệu quả. Muốn học sinh nhớ lâu thì thầy cô cần để cho học sinh tự 
mình xử lí thông tin. Thay vì trước đây tôi cho học sinh sẵn một tập đề cương, 
công thức để học sinh cần trả lời hết tất cả các câu hỏi và các đáp án để học 
sinh đọc thuộc nhưng thật ra cái “chỉ cần để thuộc đó” thì nó không làm cho 
các con nhớ sâu. Ví dụ: Hôm trước, học sinh làm bài kiểm tra học sinh có thể 
nhớ nhưng hôm sau là não của mình đã trắng trơn ngay, học sinh đã quên 
sạch sành sanh. Vậy, thay vào đó để cho học sinh nhớ lâu tôi để cho học sinh 
tự mình xử lí thông tin, tự mình tìm ra câu trả lời cho mỗi một câu hỏi. Sau đó 
học sinh trình bày lại cho các thầy cô câu trả lời của mình. Học sinh sẽ là 
người bổ trợ kiến thức cho nhau và đưa ra đáp án cuối cùng. Với cách học này 
các con không chỉ nhớ bài mà còn ghi sâu được bản chất của vấn đề. 
 Học sinh hào hứng chia sẻ trước lớp 
 17 
 Một số những hoạt động giúp học sinh tự mình xử lí thông tin để học 
sinh tự học và nhớ lâu tôi đã thực hiện nữa đó là: Cho học vẽ sơ đồ tư duy, 
điền các từ còn thiếu vào chỗ trống, nối cột A với cột B, lập bảng so sánh, vẽ 
biểu đồ, Tất cả các hoạt động này giúp học sinh có cơ hội để xử lí thông 
tin, có cơ hội gia tăng các kĩ năng của bản thân cũng như là cơ hội để vượt 
qua giới hạn của não bộ, để gia tăng hiệu quả ghi nhớ. Từ đó các e sẽ tự học 
và vận dụng một cách thành thạo. 
 Sản phẩm sơ đồ tư duy của học sinh 
 18 
 * Biện pháp 5: Tổ chức hoạt động nhóm trong lớp học linh hoạt, kết 
 nối các học sinh với nhau 
 Trong một lớp học nào thì cũng đều có học sinh với nhiều mức độ phân 
hóa khác nhau sẽ có những bạn năng lực hạn chế, có bạn có khả năng nhận thức 
tốt hơn. Bởi vậy khi giao nhiệm vụ để xây dựng kĩ năng tự học cho học sinh 
trong một tiết học sẽ trở lên khó khăn vì cùng một nhiệm vụ không thể giao cho 
nhiều đối tượng học sinh đều làm tốt. Đương nhiên sẽ xảy ra tình trạng là nhiệm 
vụ đòi hỏi các bạn có khả năng làm được thì bạn chậm sẽ không thực hiện được. 
Ngược lại, nếu giao nhiệm vụ đơn giản thì các bạn có năng lực tốt cảm thấy điều 
đó rất là dễ và các bạn sẽ cảm thấy chán. Vậy thì có rất nhiều cách tôi đã sử dụng 
để khắc phục tình trạng này. Ví dụ như chúng ta có thể tổ chức ra các hoạt động 
học tập mà trong đó mình sẽ sử dụng các bạn làm tốt để hỗ trợ, giúp đỡ thêm các 
bạn chậm. 
 Học sinh tham gia làm việc trong nhóm 
 Sử dụng hình thức hoạt động nhóm, lẩu băng truyền, cho hoạt động cặp đôi 
có một bạn có năng lực tốt một bạn chậm, chia nhóm theo trình độ học sinh. 
 19 
Hoặc là nhóm hỗn hợp bao gồm có tất cả các đối tượng học sinh và nhiệm vụ 
của các bạn có năng lực nổi trội trong nhóm sẽ hỗ trợ cho các bạn chậm hơn để 
làm sao cho cả nhóm của mình đều có thể thực hiện được các nhiệm vụ học tập. 
 Học sinh chủ động khi tham gia các hoạt động nhóm 
 Ngoài ra, giáo viên có thể sử dụng kỹ thuật như là “ cô cho các con 5 phút 
để làm nhiệm vụ này và sau 5 phút cô sẽ gọi ngẫu nhiên một bạn lên bảng để 
trình bày kết quả, để báo cáo và kết quả của bạn sẽ tính cho cả nhóm”. Như vậy 
thì các bạn có năng lực tốt khi mà ở trong các nhóm đó cũng sẽ có động lực để 
hỗ trợ các bạn khác, bởi vì tí nữa cô gọi mà các bạn có năng lực kém hơn trả lời 
mà kết quả của mình bằng các bạn đó thì các bạn có khả năng làm tốt sẽ không 
đồng ý như vậy. Nên các con sẽ có một cái lí do để hỗ các bạn. Với cách làm này 
giáo viên không chỉ phát triển ở học sinh kỹ năng tự học mà còn phát triển ở học 
sinh năng lực lãnh đạo là một năng lực rất quan trọng trong tương lai. Những 
học sinh đó sẽ như những cánh tay nối dài của giáo viên thay vì trước đây một 
mình giáo viên làm thì nay đã có rất nhiều bạn khác hỗ trợ mình rồi và mỗi một 
em dù bạn nhanh hay bạn chậm đều có cơ hội phát triển so với chính mình. 

File đính kèm:

  • pdfmot_so_bien_phap_xay_dung_va_phat_trien_cac_ki_nang_tu_hoc_c.pdf
Bài giảng liên quan