Một số giải pháp nâng cao kĩ năng lắng nghe tích cực cho học sinh lớp 1
Bạn đang xem nội dung tài liệu Một số giải pháp nâng cao kĩ năng lắng nghe tích cực cho học sinh lớp 1, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút TẢI VỀ ở trên
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc THUYẾT MINH MÔ TẢ GIẢI PHÁP 1. Tên giải pháp: “Một số giải pháp nâng cao kĩ năng lắng nghe tích cực cho học sinh lớp 1.” 2. Ngày giải pháp được áp dụng lần đầu : 24/9/2020 3. Các thông tin cần bảo mật: không có. 4. Mô tả các giải pháp cũ thường làm: Trước đây, tôi đã áp dụng các giải pháp nâng cao kĩ năng lắng nghe cho học sinh như sau: 4.1.Xếp chỗ ngồi học sinh phù hợp: - Ưu điểm: Học sinh bé, nhút nhát được ngồi bàn trên, dễ quan sát phần trình bày trên bảng của giáo viên, của bạn. - Nhược điểm: + Một số học sinh lớn hơn nhưng nhút nhát phải ngồi phía cuối lớp, các em chưa mạnh dạn giao tiếp với bạn, giáo viên trong các giờ học. + Một số học sinh lớn, cá biệt ngồi dưới có thêm cơ hội làm việc riêng, chưa tìm được bạn phù hợp để chia sẻ, lắng nghe ý kiến của mình trong mọi hoạt động học tập. 4.2. Thu hút sự chú ý của học sinh trước khi vào bài học: - Ưu điểm: Học sinh hứng thú, lắng nghe với hiệu lệnh của giáo viên hơn trong học tập. - Nhược điểm: + Sau khi được chơi một trò chơi hay nghe kể một câu chuyện, các em cuốn hút vào câu chuyện và dư âm của câu chuyện vẫn còn sẽ là chủ đề bàn tán cho các em trong giờ học tiếp theo nên việc lắng nghe của các em hạn chế hơn. 4.3. Tạo sự giao tiếp bằng mắt: - Ưu điểm: Việc lắng nghe đạt hiệu quả, ta hiểu được suy nghĩ, mong muốn từ người nói qua giọng nói, nét mặt hay điệu bộ từ đó sẽ đưa ra những điều chỉnh phù hợp. - Nhược điểm: Đôi khi việc lắng nghe bằng cách quan sát chưa nắm bắt được đúng, được sâu sát suy nghĩ của người đối diện nên sự lắng nghe khi ấy chưa đem lại hiệu quả cao. 4.4. Sử dụng ngôn ngữ hình thể: - Ưu điểm: Bằng cử chỉ gập đầu, nét mặt hài lòng với người trình bày, ta tạo cho họ có cảm giác an tâm, tự tin trình bày tiếp suy nghĩ của bản thân. - Nhược điểm: Khi chưa hài lòng với ý kiến của người nói, ta có cử chỉ nhăn mặt, cúi xuống, sẽ tạo cho người nói lúng tứng, không tự tin trình bày tiếp. Khi áp dụng các giải pháp trên vào thực tế tôi thu được kết quả qua hai tuần học đầu tiên của lớp 1, dựa trên thực tế tiết dạy trong lớp, quan sát lớp tôi nhận thấy tỉ lệ học sinh lắng nghe tích cực đầu năm học 2020 - 2021 như sau: Kết quả khảo sát kĩ năng lắng nghe của học sinh: Tổng số Số lượng HS lắng nghe Số lượng Số lượng HS chưa lắng học sinh tích cực HS lắng nghe nghe 32 Số lượng Tỉ lệ Số lượng Tỉ lệ Số lượng Tỉ lệ 6 18,8% 13 40,6% 13 40,6% - Nhóm học sinh lắng nghe tích cực biểu hiện rõ ràng trong quá trình học tập. Các em hoàn toàn tập trung vào những gì mà bạn, giáo viên đang nói; Bạn, giáo viên đọc bài, các em đọc nhẩm theo; Biết chia sẻ, trao đổi tích cực với bạn, giáp viên. Sau mỗi hoạt động học, các em nắm chắc kiến thức đã học, hiệu quả học tập được nâng cao. - Nhóm học sinh thứ hai, học sinh lắng nghe bước đầu cũng đã biết trao đổi, trình bày ý kiến cá nhân về kiến thức với bạn, giáo viên. - Nhóm học sinh thứ ba, học sinh chưa tập trung lắng nghe là nhóm học sinh chiếm đa số trong số học sinh của lớp. Trong quá trình học, các em cần được nhắc lại nhiều lần mới có thể trình bày, trao đổi ý kiến với bạn; nội dung trao đổi còn chưa trọng tâm; khó khăn, sử dụng không nhất quán việc sử dụng hệ thống tín hiệu, kí hiệu trong lớp cùng các bạn, ... 5. Sự cần thiết phải áp dụng giải pháp: Nghị quyết số 29-NQ/TW Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo theo hướng: từ tiếp cận nội dung sang tiếp cận năng lực người học. Học tập cộng tác là một trong những giải pháp hữu hiệu để thực hiện nhiệm vụ trên. Và muốn học tập cộng tác tốt thì việc trước hết phải đề cập đến kĩ năng lắng nghe tích cực của học sinh. Trên thực tế hiện nay, nhiều giáo viên thực sự muốn học sinh của mình học tập cộng tác nhưng vẫn gặp khó khăn, loay hoay không biết làm sao cho các em có thể nghiêm túc lắng nghe lời chia sẻ của bạn, nhất là ở khối lớp 1. Là một giáo viên chủ nhiệm và thực dạy ở khối lớp 1 được nhiều năm, đầu năm học 2020 - 2021, tôi được phân công thực dạy các em học sinh lớp 1B. Tôi nghĩ rằng, các em bé sẽ rất ngoan, chăm chú nghe tôi giảng từng câu chữ trên bục giảng. Nhưng không! Các em yên lặng khoảng 10 phút, rồi mỗi em một tư thế. Tôi thấy thật sự, những buổi đầu với các em bé lớp 1 không hề dễ. Và càng khó khăn hơn khi muốn các em thật sự lắng nghe, phối hợp với cô trong các hoạt động học. Bởi vậy, tôi mạnh dạn đưa ra “ Một số giải pháp nâng cao khả năng lắng nghe tích cực cho học sinh lớp 1” mong rằng các biện pháp của tôi góp thêm phần nhỏ cho các thầy cô chủ nhiệm trong quá trình giúp học sinh lớp 1 có thêm hành trang phát triển phẩm chất năng lực của các em. 6. Mục đích của giải pháp: Mục đích nghiên cứu của giải pháp là tìm ra phương pháp, cách thức tổ chức phong phú để có thể cuốn hút các em trong học tập, giao tiếp. Kĩ năng này là một trong rất nhiều kĩ năng các em được rèn luyện. Qua đó, giáo dục các em có ý thức lắng nghe khi giao tiếp. 7. Nội dung: 7.1. Thuyết minh giải pháp mới hoặc cải tiến - Nội dung: 7.1. Giải pháp thứ nhất: Xây dựng tình cảm thầy trò từ buổi học đầu tiên Các em mới được bước chân lần đầu tiên sang cổng trường cấp 1, tất cả đều lạ lẫm. Ngôi trường mới, lớp học mới, bạn bè mới và nhất là cô giáo mới – người sẽ đồng hành cùng trẻ nhỏ trong cả một thời gian dài. Đối với trẻ lúc này, các em rất hào hứng, thích thú. Vậy để trẻ nhỏ có ấn tượng tốt thì người giáo viên chủ nhiệm cần tạo được một hình tượng ban đầu tốt, ấm áp, gần gũi yêu thương. Đơn giản như: - Nụ cười tươi là cách thể hiện tốt nhất trong lần gặp đầu tiên chào đón các em vào lớp. - Một cái nắm tay ấm áp dắt em vào lớp. - Một câu chào dễ thương với hành động nhỏ - xoa đầu, vuốt tóc, cái ôm vai nhẹ nhàng. - Vào lớp, giành tiết học đầu trò chuyện, làm quen, cô kể chuyện cho trò nghe – bộc lộ qua lời nói, cử chỉ, cảm xúc trên khuôn mặt; giới thiệu về cô, hỏi han, trò chuyện về gia đình, bản thân, việc học trước đây của trẻ, ... - Giờ ra chơi, cô ngồi chơi gần gũi với trẻ, chải đầu, buộc tóc, chỉnh chu quần áo cho trẻ, ... - Học sinh có vấn đề cần giải quyết( như: bị bạn chêu chọc, lấy đồ; đau đầu, đau bụng; chưa hiểu bài; ...), giáo viên chủ nhiệm là người cần giải quyết, hỏi han cụ thể, ân cần, không quát mắng, không tỏ thái độ khó chịu, ... Cứ như vậy, khoảng cách giữa cô và trò rút ngắn lại, trò sẽ cảm nhận được “hơi ấm” từ cô giành cho. Như vậy, trẻ sẽ thấy thích được đến trường, đến lớp với cô. Ngoài giáo viên ra, các em đến trường còn có tình cảm bạn bè. Trẻ đến trường không có bạn, trẻ học với ai, trẻ chơi cùng ai, trò chuyện cùng ai, ... Vậy, mối quan hệ bạn bè là mối quan hệ cần thiết không thể thiếu. 7.2. Giải pháp thứ hai: Sự ấm áp, an toàn, yêu thương, đoàn kết trong lớp học Đứa trẻ 6 tuổi không còn là đứa trẻ nhưng đó cũng chưa phải là lứa tuổi mà các em tự chủ được mọi việc. Bởi vậy, khi bước chân vào lớp 1, muốn các em lắng nghe tích cực, phối hợp với giáo viên, với bạn trong quá trình học thì trước tiên phải tạo cho các em một không gian lớp học thoải mái, ấm áp. Các em cần tìm thấy, cảm nhận thấy tình yêu thương, gần gũi từ phía bạn bè. Vậy, giáo viên chủ nhiệm hướng dẫn học sinh cách học, cách chơi. - Học sinh vừa học, vừa chơi cùng nhau trong giờ học, giờ chơi. Ví dụ: Chơi trò chơi“ Kết bạn”; “ Mèo đuổi chuột”; Hát – biểu bài “ Làm quen”; - Trong giờ học, giáo viên đưa ra những câu hỏi gợi mở, tạo cơ hội cho học sinh trả lời, chia sẻ với bạn. Khen và khuyến khích ngay học sinh mạnh dạn, tự tin đứng lên chia sẻ ý kiến với bạn của mình. - Tạo cơ hội cho các em cùng tham gia hoạt động chung của nhóm (2 - 4 em chăm sóc một cây cảnh, 4 - 6 em phụ trách một ban hoạt động trong lớp, ...) 7.3. Giải pháp thứ ba: Sắp xếp chỗ ngồi phù hợp Trong lớp có nhiều vị trí ngồi khác nhau, nhưng mỗi em một tính cách khác nhau nên nghệ thuật của người giáo viên chủ nhiệm ở đây là xếp sắp chỗ ngồi sao cho phù hợp với đặc điểm tâm sinh lí của riêng từng em.( Em nhút nhát – ngồi gần bạn biết quan tâm, chia sẻ, giúp đỡ; Bạn cá tính, năng động – ngồi gần vị trí bàn đầu, giáo viên dễ nhắc nhở, ...) Tuy nhiên không thể lựa được tất cả nhưng cũng ở mức độ tương đối nhất có thể. Khi các em có được vị trí phù hợp, các em sẽ an tâm, chú ý tham gia vào các hoạt động học tập. 7.4. Giải pháp thứ bốn: Tạo sự lặng yên cần thiết - Trẻ mới vào lớp 1, giáo viên chủ nhiệm là nguồi mà trẻ tiếp xúc đầu tiên, thường xuyên nhất, vậy giáo viên cần gần gũi, yêu thương nhưng không có nghĩa là cho các em thoải mái, tự do nói chuyện, đùa nghịch khi đang trong lớp học bài. Mà phải tập dần thói quen biết chia sẻ, biết lắng nghe, im lặng, tôn trọng người khác khi đang nói. Vậy làm thế nào để trẻ biết lắng nghe tích cực? - Lặng yên không phải ta cứ quát nạt, yêu cầu học sinh im lặng trong thời gian ta muốn “điều này là không thể!” - Lặng yên cần thiết coi như điểm lắng, điểm bắt đầu của một hoạt động. Đôi khi một chút lặng yên giúp học sinh tập chung hơn trong quá trình học tập. Để học sinh lặng yên không phải là vấn đề đơn giản, mà ta phải tập cho các em. - Ta có thể tạo thói quen hàng ngày cho học sinh vừa kết hợp lệnh bằng lời nói và ngôn ngữ cơ thể của giáo viên. Giáo viên thể hiện thái độ nghiêm túc, quan trọng cần thiết lặng yên: + Lặng yên 1 phút theo yêu cầu. + Thi lặng yên + Lặng yên nghe tiếng gió, tiếng nói thầm + Lặng yên quan sát hoặc tìm hiểu một nội dung. + Lặng yên nghe bạn chia sẻ. + Khi có biểu hiện không lắng nghe tích cực ở trong lớp, khi đó giáo viên sẽ là người lặng yên, ngừng lại tất cả hoạt động giảng dạy. Như vậy học sinh sẽ hiểu và tạo được thói quen cho bản thân là khi cô nói, cả lớp cần phải lắng nghe. Các em phải lắng nghe một cách tích cực nhưng chưa thực sự hiểu lắng nghe như vậy để làm gì? Tại sao cô lại cứ yêu cầu các bạn phải rèn cách lắng nghe khi người khác nói? Vậy để học sinh hiểu sâu thì người giáo viên cần xây dựng cho các em mục đích nghe rõ ràng, hiểu tác dụng của việc rèn kĩ năng lắng nghe tích cực 7.5. Giải pháp thứ năm: Xây dựng mục đích nghe cho học sinh - Trong học tập hay trong bất cứ lĩnh vực nào khác của đời sống, một hoạt động nào đó của chúng ta muốn có kết quả cuối cùng thì phải có mục đích rõ ràng. Lắng nghe tích cực cũng như vậy. Các em lớp 1, chưa hiểu được tầm quan trọng của việc nghe cô giáo và các bạn chia sẻ trong giờ học để làm gì nên các em có thái độ chưa tích cực khi tham gia học. Muốn học sinh lắng nghe một cách tích cực, phản hồi tích cực với các thông tin nghe được thì phải giúp các em xác định được mục đích nghe của mình. Vậy giáo viên cần phải làm gì? - Khi giao tiếp với học sinh, lời nói của giáo viên cần chậm dãi, sử dụng ngôn ngữ dễ hiểu, đơn giản. - Hướng dẫn học sinh cách nghe. Việc này thực hiện phải thường xuyên, mỗi ngày xây dựng cho các em một chút kĩ năng tới một lúc nào đó học sinh sẽ tự xây dựng cho mình được mục đích nghe, khi đó năng lực của các em đã phát triển. Có thể giúp học sinh xây dựng mục đích nghe dưới hình thức câu hỏi. Ví dụ : Khi các em nghe bạn đọc bài. Giáo viên cần hướng dẫn học sinh lắng nghe tích cực để tham gia với bạn: Bạn đọc có gì em học được? Bạn đọc đã đúng chưa?Ngắt nghỉ thế nào? Diễn cảm chưa Em cần sửa gì cho bạn?... 7.6. Giải pháp thứ sáu: Nói một lần – Làm tỉ mỉ Khi các em đã quen lớp, quen thầy cô, các bạn, cần tạo thói quen tập chung lắng nghe nhiều hơn cho học sinh. Không chỉ lắng nghe tích cực với bạn trong quá trình học, thảo luận, trao đổi, chia sẻ. Mà cần lắng nghe tích cực với lời giáo viên nói. Khi giao một nhiệm vụ, giáo viên nói rõ ràng 1 lần không nhắc lại. Sau đó phân tích, thực hiện nhiệm vụ theo từng bước cụ thể. Tránh sự ỷ lại trông chờ của học sinh, tạo thói quen xấu (Cô nói lần 1 không cần nghe vì cô còn nói lại lần 2,3 ). Những học sinh không thực hiện kịp thời cần nhắc nhở và yêu cầu nhắc lại lệnh của giáo viên. Như vậy, một vài lần, học sinh có thói quen lắng nghe ngay khi giáo viên nói lần đầu tiên. 7.7. Giải pháp thứ bảy: Lắng nghe, thấu hiểu học sinh Trong giờ học, học sinh thường có xu hướng thích nói nhiều hơn và tranh nhau phát biểu ý kiến thay vì quan tâm lắng nghe ý kiến của các bạn khác. Để giúp cho học sinh hình thành thói quen chăm chú lắng nghe ý kiến của người khác, chính giáo viên cần rèn luyện việc đón nhận ý kiến và cảm xúc của từng học sinh ở mọi thời điểm. Điều này nghe có vẻ dễ nhưng thực ra rất khó thực hiện vì giáo viên vốn đã quen với việc thuyết trình, giảng giải nhiều, sợ học sinh khó nhận ra vấn đề mà cô muốn nói. Nếu học sinh thì thầm với bạn bè của các em thì giáo viên sẽ nghiêm khắc nhắc nhở: “Các bạn trật tự!” hoặc “Em hãy lắng nghe bạn muốn nói với chúng ta điều lí thú gì? ”. Hơn nữa, hầu hết các giáo viên đều rất giỏi giả vờ lắng nghe học sinh nhưng thật ra họ không nghe cẩn thận chút nào. Ví dụ: Giáo viên thường nói “Em còn ý kiến gì nữa không?” và “Được rồi. Xin mời ý kiến tiếp theo?” Thật đáng tiếc là những câu nói này thường chấm dứt dòng suy nghĩ cũng như việc học của học sinh. Khi giáo viên nói “Em còn ý kiến gì nữa không?” học sinh không thể tiếp tục bày tỏ ý kiến của mình. Thêm vào đó, giáo viên thường cố tóm tắt các ý kiến của học sinh qua câu nói: “ Ý em muốn nói là , phải không?” Sự tóm tắt này thường dựa trên ý diễn giải của riêng giáo viên, không phải dựa trên ý kiến phát biểu của học sinh. Cách nói này cũng cản trở học sinh tiếp tục suy nghĩ và bày tỏ ý kiến. Nếu giáo viên còn giữ thái độ như thế đối với học sinh thì học sinh sẽ thôi không phát biểu ý kiến riêng của mình nữa mà lúc nào cũng chỉ giữ im lặng hoặc tìm cơ hội giãi bày nhỏ với bạn bên cạnh mình. Thay vào đó, giáo viên nên nói: “Em nói là B. Em có thể giải thích thêm về điều này cho cả lớp hiểu không?”, hay “Em nghĩ thế nào về điều này?” và “Nếu điều này là B, em nghĩ thế nào?”. Những cụm từ này khuyến khích học sinh giải thích và phát biểu ý kiến nhiều hơn. Thái độ như vậy từ phía giáo viên có ảnh hưởng tích cực đến học sinh . Các em dần lắng nghe ý kiến của bạn mình, suy nghĩ sâu về những ý kiến đó, và cảm thấy dễ dàng khi trình bày ý kiến trên lớp. Sau đó, sự chấp nhận và lòng tin sẽ được củng cố giữa các học sinh với nhau, và giữa học sinh với giáo viên . 7.8. Giải pháp thứ tám: Xây dựng nội dung học tập phù hợp, hấp dẫn với học sinh Có thể nói lắng nghe một cách tích cực xuất phát từ nhu cầu của chính bản thân học sinh mà không giáo viên nào có thể ép buộc được. Vì vậy muốn học sinh lắng nghe tích cực, hiệu quả thì người giáo viên cần xây dựng nội dung học tập có vấn đề, vừa sức; câu chữ đưa ra phải “ có giá trị” đối với học sinh, tránh mang lại nhiều câu từ sáo rỗng, làm học sinh khó hiểu, loãng phần kiến thức chính. Để làm được điều này chính bản thân mỗi giáo viên ngoài việc hiểu rõ học sinh cần thực sự có tâm huyết. Bỏ trí lực của mình vào thiết kế bài giảng vừa sức lại vừa cuốn hút học sinh. - Kết quả khi thực hiện giải pháp: Bảng số liệu học sinh lắng nghe trước khi áp dụng các giải pháp trên: SL Thời gian Số lượng HS lắng Số lượng HS lắng Số lượng HS chưa HS nghe tích cực nghe lắng nghe Số lượng Tỉ lệ Số lượng Tỉ lệ Số lượng Tỉ lệ Trước khi 6 18,8% 13 40,6% 13 40,6% áp dụng 32 Sau khi áp 25 78,1% 5 15,6% 2 6,3% dụng Qua bảng số liệu, tôi nhận thấy: - Học sinh có sự tập trung cao, hứng thú với những gì mà giáo viên, bạn trao đổi trong hạt động học, giao tiếp. - Các em biết lắng nghe tích cực, lắng nghe, tiếp nhận thông tin từ người đem thông tin đến cho mình, có sự phản hồi nhanh, trao đổi thông tin lại với người nói. Các em có ý thức và nhận thấy được tầm quan trọng của việc lắng nghe tích cực. - Số lượng học sinh lắng nghe tích cực tăng lên nhiều, đồng thời số lượng học sinh chưa tập trung còn ít, hầu như không còn. 7.2. Thuyết minh về phạm vi áp dụng giải pháp Phạm vi nghiên cứu: học sinh lớp 1, trường tiểu học An Thượng. 7.3. Thuyết minh về lợi ích kinh tế, xã hội của giải pháp : - Sau khi áp dụng các giải pháp trên, tôi nhận thấy có nhiều tác dụng khả quan, giúp học sinh học tích cực hơn, biết trao đổi tương tác, các em mạnh dạn, tự tin chia sẻ, trao đổi những thông tin nhận được qua các hoạt động học, qua giao tiếp với giáo viên, bạn nhiều hơn hay qua những hoạt động tập thể. Học sinh có phần chủ động, tự tin hơn. Các em chăm chú lắng nghe, có phản hồi tích cực theo ý kiến, suy nghĩ của bản thân mình tới thông tin người nói mang lại. Trong cuộc sống, các em cũng biết trao đổi thông tin, có phản hồi tới những thông tin mình nhận được. Các em không còn biểu hiện “ vô cảm” với người nói, người truyền thông tin. Qua trao đổi, trước kia, các em có thể trật tự nghe nhưng khi hỏi đến các em không biết người nói đang nói gì thì bây giờ, các em đưa ra được nhận định của bản thân về vấn đề dược đề cập đến trong cuộc hội thoại giao tiếp. Vậy, từ đó tôi thấy các em mạnh dạn, tự tin khẳng định được bản thân. Tuy vậy nhưng tôi vẫn còn thấy chưa đủ để cuốn hút các em trong tất cả các hoạt động học, giao tiếp. Tôi còn nhiều điều băn khoăn và cần chia sẻ, giúp đỡ . Rất mong sự chia sẻ, góp ý của các đồng nghiệp để bản thuyết minh của tôi được hoàn thiện hơn. XÁC NHẬN CỦA CƠ QUAN, ĐƠN VỊ Tác giả sáng kiến (Chữ ký, họ và tên) Vũ Thị Viên
File đính kèm:
mot_so_giai_phap_nang_cao_ki_nang_lang_nghe_tich_cuc_cho_hoc.docx



