Rèn kĩ năng viết văn tả người cho học sinh lớp 5

pdf29 trang | Chia sẻ: Chan Chan | Ngày: 10/02/2026 | Lượt xem: 4 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Rèn kĩ năng viết văn tả người cho học sinh lớp 5, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút TẢI VỀ ở trên
 1 
 UBND HUYỆN YÊN THẾ 
 TRƢỜNG TIỂU HỌC HỒNG KỲ 
 BÁO CÁO BIỆN PHÁP THAM GIA HỘI THI 
 GIÁO VIÊN DẠY GIỎI CẤP HUYỆN CHU KỲ 2024-2026 
Tên biện pháp: Rèn kĩ năng viết văn tả người cho học sinh lớp 5. 
 Họ và tên: Đồng Thị Hảo 
 Môn giảng dạy: Văn hóa 
 Trình độ chuyên môn: Đại học 
 Chức vụ: Tổ trƣởng tổ 4+5 
 Đơn vị công tác: Trƣờng Tiểu học Hồng Kỳ. 
 TÁC GIẢ XÁC NHẬN CỦA NHÀ TRƢỜNG 
 (Kí, ghi rõ họ tên) ( Kí tên, đóng dấu) 
 Đồng Thị Hảo Nguyễn Đức Hải 
 Hồng Kỳ, tháng 4 năm 2025 
 2 
 KẾT QUẢ ĐÁNH GIÁ NHẬN XÉT CỦA NHÀ TRƢỜNG 
 Biện pháp: Rèn kỹ năng viết văn tả người cho học sinh lớp 5 có nội dung phù 
 hợp với đối tượng học sinh, nâng cao được chất lượng dạy học. 
 THỦ TRƢỞNG ĐƠN VỊ 
 (ký và đóng dấu) 
 Nguyễn Đức Hải 
 ĐÁNH GIÁ, NHẬN XÉT, CỦA BAN GIÁM KHẢO 
 . 
 GIÁM KHẢO 
 (ký, ghi rõ họ tên) 
 3 
 MỤC LỤC 
TT Nội dung Trang 
 1 Mục lục 2 
 2 I. PHẦN MỞ ĐẦU 2 
 3 1. Lý do chọn đề tài 2 
 4 2. Mục đích nghiên cứu 3 
 5 3. Nhiệm vụ nghiên cứu 3 
 6 4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 3 
 7 5. Phương pháp nghiên cứu 3 
 8 II. PHẦN NỘI DUNG 3 
 9 1. Cơ sở lý luận 3 
 10 2. Cơ sở thực tiễn 4 
 11 2.1. Thực trạng 4 
 12 2.2. Kết quả hạn chế bất cập và nguyên nhân 5 
 13 3. Các biện pháp thực hiện 7 
 14 3.1. Biện pháp: Tạo hứng thú, động lực học tập cho học sinh 7 
 3.2. Biện pháp: Rèn cho học sinh kĩ năng quan sát và chọn lọc 
 15 8 
 chi tiết 
 3.3. Biện pháp: Rèn kĩ năng lập dàn bài chi tiết cho bài văn 
 16 11 
 miêu tả người bằng cách sử dụng sơ đồ tư duy 
 17 3. 4. Biện pháp: Tích hợp mở rộng vốn từ cho học sinh 13 
 18 3.5. Biện pháp: Tăng cường tổ chức hoạt động trải nghiệm 15 
 19 3.6. Biện pháp: Vận dụng hình thức học cộng tác nhóm 17 
 20 III. KẾT QUẢ VÀ ỨNG DỤNG 20 
 21 1. Kết quả 20 
 22 2. Ứng dụng 22 
 23 IV. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 22 
 24 1. Kết luận 22 
 25 2. Kiến nghị 24 
 26 3. Cam kết 24 
 27 V. TÀI LIỆU THAM KHẢO 25 
 4 
 I. PHẦN MỞ ĐẦU 
1. Lý do chọn biện pháp. 
 Trong chương trình Giáo dục phổ thông 2018, phân môn Tập làm văn đóng 
vai trò rất quan trọng trong việc hình thành và phát triển năng lực ngôn ngữ, tư 
duy và nhân cách của học sinh. 
 Trong chương trình Tiếng Việt lớp 5, văn tả người là một nội dung trọng 
tâm, góp phần hình thành năng lực quan sát, tưởng tượng và diễn đạt ngôn ngữ 
cho học sinh. Đây cũng là bước đệm để các em chuẩn bị tốt hơn cho dạng văn 
miêu tả nói chung trong chương trình THCS sau này. 
 Thể loại văn tả người giúp các em biết dùng từ ngữ, hình ảnh lời văn sinh 
động để tả lại hình dáng, tính tình và hoạt động của con người. Qua quan sát để 
miêu tả, tình cảm gắn bó và yêu mến con người của các em nảy nở, tư duy hình 
tượng cũng được rèn luyện nhờ vận dụng các biện pháp tu từ khi tả người. Nói 
cách khác, văn tả người không chỉ đơn thuần giúp học sinh biết cảm thụ văn 
học, biết dùng từ ngữ để vẽ lên một con người như thực mà còn hình thành ở các 
em tình cảm yêu thương con người, yêu cái thiện, yêu cuộc sống. Nó góp phần 
bổ sung kiến thức, rèn luyện tư duy và hình thành nhân cách cho học sinh. 
 Mục đích, tầm quan trọng là như vậy, nhưng thực tiễn hiện nay rất hiếm 
gặp những bài văn hay, ấn tượng. Phần lớn bài văn của các em chung chung. 
Khá hơn chút nữa là sự đủ ý nhưng mang tính liệt kê, giống văn mẫu, thiếu sự 
sáng tạo. 
 Vậy nên vấn đề đặt ra là làm thế nào để học sinh có được bài văn hay, 
phát huy được vốn sống, vốn hiểu biết của các em. Có lẽ đây là vấn đề mà nhiều 
giáo viên trăn trở, muốn tìm những giải pháp thích hợp tháo gỡ được tình trạng 
trên. Xuất phát từ lý do đó, với mong muốn giúp học sinh có kỹ năng viết văn tả 
người, tôi đã mạnh dạn tiến hành thực nghiệm: “Biện pháp rèn kĩ năng viết văn 
tả người cho học sinh lớp 5”. 
2. Mục đích nghiên cứu. 
 - Giúp học sinh hiểu rõ đặc điểm của văn tả người, phân biệt được sự khác 
 5 
biệt giữa văn tả người và các kiểu bài văn khác. 
 - Nâng cao chất lượng môn Tiếng Việt lớp 5. 
3. Nhiệm vụ nghiên cứu. 
 - Khảo sát thực tế chất lượng viết văn miêu tả, kiểu bài tả người của học 
sinh. Từ đó đánh giá được khả năng viết văn của các em. 
 - Đề ra các biện pháp cụ thể góp phần rèn kĩ năng viết văn tả người cho học 
sinh lớp 5. 
4. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu. 
 - Đối tượng nghiên cứu: Một số biện pháp rèn kĩ năng viết văn tả người 
cho học sinh lớp 5. 
 - Phạm vi nghiên cứu: Học sinh lớp 5A, học sinh khối 5 trong trường. 
 - Thời gian nghiên cứu: Tháng 9 năm 2024 đến tháng 4 năm 2025. 
5. Phƣơng pháp nghiên cứu: 
 - Phương pháp quan sát, khảo sát. 
 - Phương pháp phân tích. 
 - Phương pháp tổng hợp. 
 - Phương pháp thực nghiệm. 
 II. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 
1. Cơ sở lý luận. 
 Chương trình Giáo dục phổ thông 2018 được xây dựng theo định hướng 
phát triển phẩm chất và năng lực học sinh. Trong đó, môn Tiếng Việt ở cấp Tiểu 
học thuộc lĩnh vực giáo dục ngôn ngữ, có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc 
hình thành năng lực giao tiếp và năng lực ngôn ngữ cho học sinh thông qua bốn 
kỹ năng: nghe, nói, đọc và viết. 
 Ở lớp 5, học sinh được yêu cầu phát triển năng lực viết ở mức độ cao hơn, cụ 
thể là viết được các đoạn văn, bài văn thể hiện được nội dung, cảm xúc, thái độ 
phù hợp với đối tượng và mục đích giao tiếp. Đối với văn tả người, học sinh cần: 
 - Biết quan sát, lựa chọn chi tiết đặc sắc; 
 - Biết tổ chức bố cục bài viết hợp lý; 
 6 
 - Biết sử dụng ngôn ngữ giàu hình ảnh, cảm xúc; 
 - Biết thể hiện được cảm nhận, tình cảm của mình đối với người được tả. 
 Chương trình GDPT 2018 cũng nhấn mạnh đến việc tăng cường thực hành, 
trải nghiệm, phát triển năng lực tự học, năng lực giao tiếp, hợp tác và năng lực 
giải quyết vấn đề cho học sinh thông qua các hoạt động học tập tích cực. Do đó, 
việc rèn kỹ năng viết văn tả người không thể dừng lại ở việc cung cấp khuôn 
mẫu, mà cần hướng đến việc phát huy tư duy, sự sáng tạo và cảm xúc cá nhân 
của học sinh. 
 Từ việc tìm hiểu các khái niệm liên quan và việc phân tích các đặc trưng của 
văn tả người có thể thấy việc nắm vững được khái niệm, đặc trưng của một bài văn 
tả người là rất cần thiết. Nắm được đặc điểm cơ bản sẽ tránh được việc viết văn 
lạc đề. Văn tả người trong chương trình lớp 5 gồm nhiều kiểu bài khác nhau, nếu 
không nắm chắc được từng loại thì sẽ dẫn đến tình trạng lạc đề. 
2. Cơ sở thực tiễn. 
2.1 Thực trạng của vấn đề nghiên cứu 
2.1.1 Thuận lợi: 
 - Ban giám hiệu hết sức quan tâm, tạo mọi điều kiện tốt nhất cho việc dạy 
và học, đặc biệt là việc đổi mới phương pháp dạy học nhằm nâng cao chất lượng 
giáo dục. 
 - Cơ sở vật chất nhà trường đã đáp ứng để thực hiện tốt chương trình 
GDPT 2018. 
 - Đa số học sinh trong lớp có ý thức ham học hỏi, ngoan, biết vâng lời, 
tích cực trong giờ học. 
2.1.2 Khó khăn: 
a. Đối với giáo viên: 
 - Khi dạy văn tả người thông thường giáo viên chỉ có con đường duy nhất 
là hình thành các hiểu biết về lý thuyết, các kỹ năng làm bài qua phân tích các 
bài mẫu trong sách giáo khoa. Chính vì vậy chưa gây hứng thú cho học sinh khi 
học kiểu bài văn tả người. 
 7 
 - Trong quá trình giảng dạy, giáo viên chưa chú trọng việc rèn cho học sinh 
kĩ năng quan sát và dùng ngôn ngữ diễn đạt lại những gì mình đã quan sát được. 
Chưa tổ chức được nhiều hoạt động nhằm phát triển tư duy ngôn ngữ ở học sinh. 
 - Bên cạnh đó, văn miêu tả đặc biệt là tả người, đòi hỏi người viết phải có 
khả năng quan sát tinh tế, cảm nhận sâu sắc và dùng từ ngữ giàu hình ảnh. Tuy 
nhiên, đây lại là kỹ năng không dễ để học sinh lớp 5 có thể tiếp cận ngay. Vì 
vậy, giáo viên cần thiết kế bài học sinh động, gần gũi nhưng vẫn đảm bảo yêu 
cầu chương trình – điều này đòi hỏi nhiều thời gian và công sức chuẩn bị. 
 - GV chưa linh hoạt trong phương pháp dạy học, nên chưa phát triển được 
kĩ năng viết văn tả người cho học sinh. 
b. Đối với học sinh: 
 - Đa số các em thiếu vốn sống, vốn hiểu biết nên bí từ khi viết văn. 
 - Phần lớn học sinh không thích học phân môn tập làm văn vì môn này 
khó. Nó đòi hỏi sự sáng tạo và năng khiếu của các em. 
 - Vốn từ ngữ của các em còn hạn chế nên khi viết văn thường bị lặp lại từ, 
lời văn chưa lưu loát, diễn đạt chưa trôi chảy, thiếu hình ảnh, cảm xúc. 
 - Nhiều em không nắm được cấu trúc ngữ pháp nên sử dụng dấu câu tùy 
tiện. Một số học sinh làm theo văn mẫu hoặc chỉ viết theo gợi ý của giáo viên 
hướng dẫn. Chưa sáng tạo trong cách dùng từ đặt câu. 
2.2 Kết quả, hạn chế bất cập và nguyên nhân 
 Năm học 2024 - 2025, tôi được phân công chủ nhiệm lớp 5A với tổng số 27 
HS. Trong đó học sinh nam: 18 HS =66,67 %; Học sinh nữ: 9 HS = 33,33%. 
Ngay từ tuần học thứ 3 của năm học, tôi đã cho học sinh lớp 5A khảo sát với đề 
bài: Em hãy tả một người thân trong gia đình em. Kết quả thu được như sau: 
 8 
 Kết quả học sinh đạt được 
 Học sinh chưa biết Học sinh đã biết Học sinh biết lập 
 Lớp Số học lập dàn ý, chưa biết lập dàn ý, chưa dàn ý, sử dụng từ 
 sinh sử dụng từ ngữ biết sử dụng từ ngữ miêu tả sinh 
 miêu tả, chưa biết ngữ miêu tả, chưa động, biết bộc lộ 
 bộc lộ cảm xúc. biết bộc lộ cảm cảm xúc. 
 xúc. 
 Số lượng Tỷ lệ Số lượng Tỷ lệ Số lượng Tỷ lệ 
 (%) (%) (%) 
 Lớp 5A 27 15 55,6% 7 25,9% 5 18,5% 
 Qua bài làm của các em tôi nhận thấy rằng: Số lượng bài làm hay của học 
sinh rất ít. Nhiều bài diễn đạt lủng củng, bố cục không chặt chẽ, dùng từ thiếu 
chính xác, câu văn không đúng ngữ pháp, cách sử dụng các biện pháp so sánh và 
nhân hóa chưa phù hợp, bài viết thiếu cảm xúc. Vốn từ ngữ còn nghèo nàn, chưa 
thành thạo các mẫu câu nên diễn đạt chưa tốt. Lối sống hồn nhiên, vô tư, chưa 
quan sát tinh tế và để ý đến những sự vật xung quanh mà các em vẫn thường 
nhìn thấy. Kết quả như vậy là chưa đạt với yêu cầu đề ra. 
 9 
 Bài viết của học sinh mắc lỗi diễn đạt lủng củng, lặp từ nhiều, câu văn mang 
 tính chất liệt kê, câu văn thiếu cảm xúc. 
 Nguyên nhân nào dẫn đến thực trạng trên? Qua tìm hiểu, tôi biết được một 
số nguyên nhân chủ yếu sau: 
 + Các em chưa nhận diện được đặc điểm của bài văn tả người. 
 + Nhiều em chưa hứng thú, chưa yêu thích khi học Tập làm văn nên các em 
gặp nhiều khó khăn khi làm bài. 
 + Vốn từ ngữ của các em còn nghèo nàn. Nhiều em chưa biết sử dụng ngôn 
 10 
ngữ miêu tả vì các em chưa thực sự hiểu hết nghĩa của những từ mà các em dùng 
để tả. 
 + Các em chưa nắm được phương pháp quan sát, bố cục bài văn miêu tả. 
Nhiều em chỉ kể hoặc liệt kê ra những gì mình thấy hoặc tả qua loa, sơ sài, 
không lồng ghép những suy nghĩ cảm xúc của mình trong khi tả. 
 + Cách dùng từ đặt câu sắp xếp bố cục chưa khoa học. Bài văn thiếu câu 
văn hay, hình ảnh đẹp. 
 + Một số em lười suy nghĩ chưa chịu khó học tập. 
 + Chất lượng học tập không đồng đều, một số em tiếp thu bài còn chậm. 
Nếu thực trạng trên không được khắc phục, chắc chắn các em sẽ không thể viết 
được một đoạn văn hoặc bài văn hay; từ đó kết quả học tập môn Tiếng Việt của 
học sinh sẽ rất thấp. Điều này cũng sẽ ảnh hưởng lớn đến việc học tập các môn 
học khác của học sinh và làm cho các em thiếu tự tin trong giao tiếp. Do vậy để 
giúp học sinh viết được tốt bài văn tả người tôi đã tiến hành một số biện pháp 
như sau: 
3. Các biện pháp. 
3.1. Biện pháp 1: Tạo hứng thú, động lực học tập cho học sinh 
 Việc học sinh có hứng thú học tập là yếu tố nền tảng để các em chủ động 
tiếp nhận kiến thức, phát triển tư duy và hình thành kỹ năng một cách tự nhiên. 
Theo tâm lý học giáo dục, khi học sinh cảm thấy thoải mái, vui vẻ, các em sẽ dễ 
tiếp nhận kiến thức và ghi nhớ lâu hơn. Đặc biệt với môn Tiếng Việt – phân môn 
Tập làm văn, yếu tố cảm xúc và sự yêu thích đóng vai trò then chốt để học sinh 
viết được bài văn hay, có hồn, giàu hình ảnh và cảm xúc. 
 Để khởi động bắt đầu mỗi tiết tập làm văn tả người tôi thường cho học sinh 
hát một bài hát hay đọc những câu thơ câu ca dao tục ngữ khiến em nghĩ đến 
những người mà em yêu quý. Ngoài ra để khởi động tiết học, khơi gợi trong học 
sinh những tình cảm cảm xúc, trong hoạt động khởi động tôi còn cho học sinh 
xem những đoạn phim câu chuyện về tình cảm về tình bạn, tình cảm trong gia 
đình, tình cảm với thầy cô giáo để truyền cảm hứng cho các em. 
 11 
 Học sinh quan sát đoạn phim về tình cảm mẹ con 
 Ví dụ: Khi học sinh viết bài văn tả về người thân của em, tôi cho cả lớp 
nghe và hát theo lời bài hát “Ước mơ của mẹ”. Qua bài hát giúp các em cảm 
nhận được tình cảm của một người mẹ, sự hi sinh vất vả của mẹ khi nuôi con 
khôn lớn, từ những câu chuyện gần gũi sẽ là những ngọn lửa nhỏ nhen nhóm 
tình cảm tạo động lực cho các em khi viết bài văn tả về mẹ tràn đầy cảm xúc. Từ 
đó các em có cảm xúc và thể hiện bài văn chân thực hơn. 
3.2. Biện pháp 2: Rèn cho học sinh kĩ năng quan sát và chọn lọc chi tiết. 
 Kĩ năng quan sát đóng vai trò vô cùng quan trọng đối với học sinh lớp 5 khi 
làm bài văn tả người. Nhờ biết quan sát, các em có thể nhận ra những đặc điểm 
nổi bật về ngoại hình, cử chỉ, hành động, nét mặt hay thói quen của người được 
tả. Đây chính là cơ sở để các em lựa chọn chi tiết tiêu biểu, tránh việc tả chung 
chung, sáo rỗng. Quan sát tốt cũng giúp các em cảm nhận được cảm xúc, tính 
cách của nhân vật, từ đó đưa vào bài viết một cách chân thực, sinh động hơn. 
Ngoài ra, quá trình quan sát còn rèn cho học sinh thói quen chú ý đến cuộc sống 
xung quanh, phát triển khả năng cảm thụ ngôn ngữ và làm giàu vốn từ – yếu tố 
then chốt để viết một bài văn hay, giàu hình ảnh và cảm xúc. 
 Quan sát bằng hình ảnh trực quan sẽ giúp học sinh miêu tả chi tiết về người 
 12 
được tả. Tôi thường tổ chức các hoạt động sưu tầm tranh ảnh, vẽ tranh hoặc 
chiếu ảnh chân dung (người lao động, nghệ sĩ, em bé...) hoặc video clip ngắn 
(cảnh bà kể chuyện, mẹ nấu ăn, bác nông dân làm việc...) giúp học sinh quan sát 
trực tiếp người cần tả. 
 Học sinh chia sẻ về ảnh về người thân 
 Tôi yêu cầu HS tập trung vào biểu tượng khuôn mặt, hành động, cử chỉ 
trong ảnh/video để dự đoán cách tính, tâm trạng nhân vật. Câu hỏi gợi ý: 
“Nhìn vào ánh mắt này, em thấy người đó đang vui hay buồn?”, “Dáng đi của 
người này nói lên điều gì?”, “Hành động thể hiện đức tính gì?”. 
Để bài văn có nội dung, diễn đạt sinh động, có cảm xúc, cần phải thực hiện tốt 
khâu hướng dẫn học sinh quan sát và chọn lọc chi tiết. 
 Theo cấu tạo và cách trình bày trong sách giáo khoa, tiết Tập làm văn thứ 2 
ở tuần 3 là tiết có trọng tâm: Luyện tập tả người(quan sát). 
 Để học tốt phần này, trước hết, phải hướng dẫn học sinh nhận biết những 
chi tiết tiêu biểu, đặc sắc về ngoại hình, hoạt động của nhân vật qua hai bài văn 
mẫu “Hạng A Cháng và( trang 22) và “Chị Hà ” ( trang 23) sách Tiếng Việt 5, 
tập 1, Cánh Diều. Từ đó học sinh hiểu được khi quan sát, viết bài văn tả người, 
 13 
phải chọn lọc để đưa vào bài những chi tiết tiêu biểu, nổi bật, gây ấn tượng. Từ 
đó, biết vận dụng hiểu biết đã có để quan sát và ghi lại kết quả quan sát ngoại 
hình của một người thường gặp. 
 Sau khi tổ chức cho học sinh thảo luận và ghi lại những chi tiết tiêu biểu, 
đặc sắc về ngoại hình và hoạt động của các nhân vật, tôi hướng dẫn học sinh làm 
bài tập cao hơn. Bài 2: Quan sát một người bạn đang học tập (lao động, vui 
chơi), ghi lại kết quả quan sát theo gợi ý. 
- Hướng dẫn học sinh chọn đối tượng miêu tả: Để hướng dẫn được học sinh làm 
bài tập này, trước hết tôi hướng dẫn các em phải chọn đối tượng phù hợp, gần 
gũi với mình để bản thân có thể quan sát trực tiếp. 
 Ví dụ: Tả tính tình, hình dáng của bạn cùng bàn, bạn thân của em 
 Tạo điều kiện để học sinh tiếp xúc với đối tượng quan sát. Học sinh phải 
được tiếp xúc để nhìn, ngắm, nghe, ngửi, Dạy học sinh quan sát đối tượng là 
con người, tôi thường đặt câu hỏi kết hợp với hướng dẫn quan sát, câu hỏi có tác 
dụng tìm ra những chi tiết miêu tả. Ví dụ: Nhìn đôi mắt của bạn em nhớ tới hình 
ảnh nào? Ngắm mái tóc dài của bạn em nghĩ đến hình ảnh gì?... 
 Câu hỏi cần chỉ rõ vị trí của người quan sát và cần quan sát những gì ở đối 
tượng miêu tả. Ví dụ khi quan sát bạn có thể nêu câu hỏi: “Nhìn từ xa, em có 
nhận xét gì về hình dáng của bạn? 
 - Hướng dẫn học sinh quan sát theo trình tự, từ bao quát đến chi tiết, từ xa 
đến gần. Quan sát trực tiếp là quan trọng nhất nhưng tôi gợi cho học sinh cách 
quan sát gián tiếp, thông qua trí nhớ của mình hoặc thông qua nhận xét của 
người khác về người đó. Ngay một lúc ta đâu hiểu hết một con người, kể cả hình 
dáng cũng vậy. 
 Ví dụ: Đôi mắt bình thường thì sao, khi vui thế nào và lúc buồn ra sao? 
Đồng thời tôi đã hướng dẫn học sinh so sánh liên hệ, hồi tưởng để gắn các đặc 
điểm quan sát được với kỉ niệm, hồi ức hoặc các sự việc khác. 
 - Hướng dẫn học sinh quan sát tỉ mỉ, nhiều lượt, tránh quan sát qua loa như 
nhìn lướt qua hay liếc nhìn thì sẽ không tìm ra ý hay khi tả người. 
 14 
 - Hướng dẫn học sinh chọn lọc để giữ lại chi tiết cụ thể, riêng biệt, đặc sắc 
của đối tượng quan sát. Hướng dẫn học sinh tìm ra được nét chính, thấy được 
tính riêng. Không cần dàn đủ tất cả các nét, chỉ cần chép lại những đặc điểm mà 
mình cảm thấy đẹp nhất như: một câu nói lột tả tính cách, một ánh mắt chứa 
đựng yêu thương Nhờ các đặc điểm quan sát ấy mà làm cho đối tượng này 
không giống đối tượng khác. Người đọc nhận ra ngay bác thợ rèn lực lưỡng, đôi 
mắt của bà đôn hậu, ấm áp hay làn da của bạn trai vùng biển rám đỏ vì nắng 
gió Kể cả có hai con người giống nhau về vẻ bề ngoài nhưng sẽ có những đặc 
điểm khác nhau về tính cách, giọng nói 
 Qua biện pháp này, học sinh rất hào hứng khi quan sát đối tượng định tả, đã 
biết chọn đối tượng định tả và biết cách chọn các chi tiết tiêu biểu. 
3.3. Biện pháp 3: Rèn kĩ năng lập dàn bài chi tiết cho bài văn miêu tả ngƣời 
bằng cách sử dụng sơ đồ tƣ duy 
 Lập dàn ý là một việc làm không thể thiếu của một bài văn miêu tả người 
nói riêng và các thể loại văn khác nói chung. Nó giống như một cái sườn của bài 
văn để các em dựa vào đó viết văn đủ ý, bài văn mạch lạc và theo một trình tự 
nhất định. Nếu như học sinh lập được dàn ý đúng, đầy đủ thì coi như bài viết đã 
thành công một nửa. 
 Sơ đồ tư duy là hình thức ghi chép nhằm tìm tòi đào sâu, mở rộng một ý 
tưởng, hệ thống hóa một chủ đề hay một mạch kiến thức... bằng cách kết hợp 
việc sử dụng đồng thời hình ảnh, đường nét, màu sắc, chữ viết với sự tư duy tích 
cực. Đặc biệt đây là một sơ đồ mở, không yêu cầu tỷ lệ, chi tiết chặt chẽ như bản 
đồ địa lý, có thể vẽ thêm hoặc bớt các nhánh, mỗi người vẽ một kiểu khác nhau, 
dùng màu sắc, hình ảnh, cụm từ diễn đạt khác nhau, cùng một chủ đề nhưng mỗi 
người có thể “ thể hiện” nó dưới dạng sơ đồ tư duy theo một cách riêng. Do đó 
việc lập sơ đồ tư duy phát huy được tối đa khả năng sáng tạo của học sinh. 
 Đầu tiên, để học sinh lập được dàn ý bằng sơ đồ tư duy cần giúp học sinh 
nắm chắc bố cục bài văn miêu tả người gồm ba phần: mở bài, thân bài, kết bài. 
Riêng phần mở bài học sinh có thể lựa chọn gián tiếp hay trực tiếp; kết bài mở 
rộng hay không mở rộng. 
 15 
Ví dụ: Lập dàn ý tả mẹ của em 
 Để giúp học sinh lập được dàn ý tả mẹ, tôi hướng dẫn học sinh các bước 
như sau: 
Bước 1: Xác định đối tượng miêu tả: Mẹ của em. 
Bước 2:Bài văn tả người gồm mấy phần? Các phần chính là các nhánh chính. 
Bước 3: Từ các nhánh chính chọn ra các chi tiết, nội dung miêu tả phù hợp để vẽ 
nhánh phụ. 
Bước 4: Từ các nhánh phụ triển khai ra các nhánh phụ nhỏ là những đặc điểm 
nổi bật của các nhánh ấy. 
 Học sinh lập dàn ý tả mẹ bằng sơ đồ tư duy 
 16 
 Học sinh lập dàn ý tả người mà em thường gặp bằng sơ đồ tư duy. 
3.4 . Biện pháp 4: Tích lũy mở rộng vốn từ cho học sinh 
3.4.1 Tích lũy kinh nghiệm, chọn lọc hình ảnh qua các bài học: 
 Giáo viên cần giúp học sinh tích lũy vốn từ về tả người qua các bài đọc hay 
trong sách giáo khoa. Trong quá trình giảng dạy, giáo viên cần chỉ ra các từ ngữ 
miêu tả, chọn vài trường hợp đặc sắc để phân tích cái hay, sự sáng tạo của nhà 
văn khi sử dụng nó. 
Ví dụ: Trong bài văn “Chị Hà”trang 23, sách Tiếng Việt 5, tập 1, Cánh Diều 
 Cần đi sâu khai thác hình ảnh: “Tôi còn nhớ rõ chị Hà dáng người thon 
mảnh, nước da trắng, tóc mai dài vắt cong lên như một dấu hỏi lôn ngược, trên 
má có vài nốt tàn nhang.” 
 17 
 Hoặc bài: “Hạng A Cháng” trang 22, sách Tiếng Việt 5, tập 1, Cánh 
Diều. Cần đi sâu vào khai thác hình ảnh đặc sắc như: “ Mười tám tuổi, ngực nở 
vòng cung, da đỏ như lim, bắp tay bắp chân rắn như trắc, gụ”. Hình ảnh đó đã 
khắc hoạ nên chàng trai khỏe mạnh. 
3.4.2 Mở rộng vốn từ trong phân môn Luyện từ và câu: 
 Ở những tiết Luyện từ và câu, giáo viên cho học sinh được mở rộng vốn từ 
qua các tiết dạy về từ đồng nghĩa, trái nghĩa, từ đa nghĩa, sau đó lựa chọn chép 
vào sổ tay. 
 Hướng dẫn HS làm phiếu học tập để bổ sung vốn từ tả người của mình. 
Ví dụ: Cho học sinh làm bài tập sau: 
 Phiếu học tập 
 Em hãy tìm các từ và thành ngữ thích hợp để miêu tả các đặc điểm sau: 
 Các nét miêu tả Từ Thành ngữ 
 Vóc dáng 
 Nước da 
 Đôi mắt 
 Khuôn mặt 
 Giọng nói 
 Tính tình 
3.4.3 Sử dụng một số biện pháp tu từ vào viết văn: 
a. So sánh: Để giúp các em biết cách chọn hình ảnh so sánh khi viết văn, tôi cho 
các em làm các bài tập sau: 
Ví dụ: 
Bài 1: Hãy tìm những hình ảnh so sánh các đặc điểm sau: 
- Mái tóc, nước da, hàm răng. 
Mục đích của bài tập để giúp các em chọn được những hình ảnh so sánh sau: 
- Mái tóc: 
+ Đen dài như dòng suối (tả cô giáo, mẹ). 
+ Đen óng, mượt như tơ (tả bạn, tả em bé). 
 18 
+ Trắng như cước (tả bà) 
- Nước da: 
+ Trắng như trứng gà bóc. 
+ Mịn như bột nếp. 
+ Đỏ như lim. 
+ Đỏ như đồng hun. 
+ Ngăm đen như bánh mật. 
- Đôi mắt: 
+ Sáng như sao. 
+ Như vành trăng khuyết (ngủ); như hòn bi ve long lanh hoặc như hai hạt nhãn. 
 Qua đó, giúp học sinh biết chọn lựa hình ảnh so sánh phù hợp với đối 
tượng miêu tả. 
 b. Nhân hoá: Biện pháp này thường được dùng nhiều trong văn tả cảnh để 
biến các vật như: mây, gió, trăng, hoa thành có hồn. Song trong văn tả người, 
nếu biết dùng nhân hoá thì giá trị tăng lên rất nhiều. 
Ví dụ: Cho học sinh phân tích để hiểu giá trị của các câu sau: Tả em bé: 
+ Bé đùa giỡn cùng chị gió. Ánh trăng rắc phấn trên khuôn mặt bụ bẫm. 
Màn đêm ngủ trong đôi mắt thơ ngây. 
 Hoặc khi tả mẹ: “Giọt nắng nhảy trên lưng mẹ, trốn chạy trên từng nếp 
nhăn của khuôn mặt hao gầy ấy và giọt nắng cười trong đôi mắt yêu thương.” 
 Hình ảnh “chị gió”; “ánh trăng rắc..." “màn đêm ngủ, ” “giọt nắng nhảy, 
trốn, cười” đã khắc hoạ những nét đẹp nhất về ngoại hình của bé, của mẹ. Câu 
văn chứa đựng một cảm xúc chân thành mà tinh tế. Bài văn vì thế trở nên có 
hình ảnh hơn. 
 Như vậy, khi học sinh biết sử dụng các biện pháp tu từ vào viết văn thì 
chắc chắn rằng câu văn của các em sẽ hay hơn, có hồn hơn. Có được những câu 
văn như vậy thì bài văn của các em sẽ có nét nổi bật trong bài. 
3.5. Biện pháp 5: Tăng cƣờng tổ chức hoạt động trải nghiệm. 
 Các buổi ngoại khóa hay các hoạt động trải nghiệm, sẽ giúp học sinh có 
 19 
thêm kinh nghiệm sống, vốn hiểu biết về các lĩnh vực trong cuộc sống. Từ đó, 
các em sẽ phát triển thêm vốn từ vựng, có thêm kiến thức, nuôi dưỡng tình yêu 
đối với thế giới xung quanh để vận dụng tốt vào viết văn phong phú và giàu cảm 
xúc chân thực hơn. 
 Học sinh được tham gia các buổi hoạt động trải nghiệm STEM, hoặc 
các buổi trải nghiệm khám phá các trang trại chăn nuôi, trồng trọt. Học sinh 
tham gia các buổi tọa đàm. Từ đây các em sẽ có những quát sát chân thực về 
hoạt động của con người để vận dụng vào bài văn miêu tả. 
 Học sinh tham gia tọa đàm tuyên truyền về an toàn giao thông 
 20 
 Học sinh tham gia hoạt động trải nghiệm STEM cấp huyện 
 Ngoài ra tôi còn tổ chức cho học sinh được trải nghiệm quan sát thực tế 
bằng cách Mời một người thật (bạn học sinh, thầy cô, bác bảo vệ, cô lao công...) 
đến lớp. Học sinh quan sát trực tiếp cách người đó đi đứng, nói chuyện, làm 
việc. Sau khi quan sát – tìm hiểu, học sinh vẽ tranh hoặc nhập vai thành nhân vật 
đó (ví dụ: mẹ, bà, thầy giáo ). Qua đó giúp học sinh tăng cảm xúc, giúp ghi 
nhớ sâu và mô tả sinh động hơn trong văn viết. 
 - Nhật kí quan sát cũng rất quan trọng, tôi giao nhiệm vụ quan sát người 
thân ở nhà trong 2–3 ngày, ghi chép vào nhật kí (hành động, lời nói, thói quen). 
Hoạt động này giúp học sinh luyện thói quen quan sát chi tiết, lựa chọn nội dung 
tiêu biểu để tả. 
 - Tôi còn tổ chức trò chơi "Ai tả đúng nhất?". Học sinh viết đoạn văn ngắn 
tả một người trong lớp không nêu tên. Cả lớp đọc và đoán xem đó là ai. Qua trò 
chơi học sinh được luyện viết tự nhiên, khơi dậy sự hứng thú và rèn khả năng 
quan sát, chọn chi tiết khi tả người. 

File đính kèm:

  • pdfren_ki_nang_viet_van_ta_nguoi_cho_hoc_sinh_lop_5.pdf
Bài giảng liên quan