Một số giải pháp nâng cao kĩ năng viết đoạn văn cho học sinh lớp 3
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Một số giải pháp nâng cao kĩ năng viết đoạn văn cho học sinh lớp 3, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút TẢI VỀ ở trên
1 Tên giải pháp: “ Một số giải pháp nâng cao kĩ năng viết đoạn văn cho học sinh lớp 3.” MỤC LỤC Nội dung Trang I. PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lí do chọn đề tài 1 2. Mục đích nghiên cứu 2 3. Nhiệm vụ nghiên cứu 2 4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 2 5. Phương pháp nghiên cứu 3 II. NỘI DUNG 1. Cơ sở lí luận 3 2. Cơ sở thực tiễn 4 3. Giải pháp nâng cao kĩ năng viết đoạn văn cho học sinh lớp 3 6 III. KẾT QUẢ VÀ ỨNG DỤNG 20 IV. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 1. Kết luận 23 2. Một số đề xuất 24 3. Tài liệu tham khảo 24 1 I. PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lí do chọn đề tài Năm học 2022- 2023 là năm học đầu tiên lớp 3 thực hiện chương trình giáo dục phổ thông 2018. Chương trình giáo dục phổ thông hình thành kiến thức cho học sinh thông qua việc phát triển năng lực và phẩm chất, tính năng động sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Chương trình giáo dục phổ thông hướng tới phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thẩm mĩ và các kĩ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân cho học sinh. Nội dung chương trình vừa có sự kế thừa và đổi mới đòi hỏi người giáo viên không chỉ nắm được nội dung chương trình hiện hành mà cần tìm hiểu sâu về chương trình giáo dục phổ thông để có những định hướng và phương pháp hợp lí. Tiếng Việt là một trong những môn học quan trọng và cần thiết nhất ở bậc tiểu học. Việc học tiếng việt sẽ giúp học sinh hình và phát triển tư duy ngôn ngữ. Thông qua môn Tiếng Việt, học sinh sẽ được học cách giao tiếp, truyền đạt tư tưởng, cảm xúc của mình một cách chính xác và biểu cảm. Tiếng Việt không chỉ xem xét từng phần, từng mặt qua từng phân môn mà trở thành một công cụ tổng hợp để giao tiếp. Phân môn Tập làm văn thực hiện mục tiêu quan trọng nhất của dạy học là dạy học sinh sử dụng Tiếng Việt để giao tiếp, tư duy, học tập. Việc học tốt môn Tập làm văn không chỉ giúp cho học sinh phát triển tư duy lôgic, năng lực giao tiếp hợp tác, năng lực ngôn ngữ, văn học mà học sinh còn có thêm sự hiểu biết, có tình cảm yêu mến, gắn bó với thiên nhiên, gắn bó với con người và vạn vật xung quanh. Theo chương trình giáo dục phổ thông, đặc biệt với lớp 3, yêu cầu về viết luyện viết đoạn nội dung thường gần gũi với học sinh, vì vậy các bài văn đều có thể xây dựng từ kiến thức, những trải nghiệm thực tế của học sinh. Các ngữ liệu được lựa chọn và sắp xếp phù hợp với khả năng tiếp nhận của học sinh, giúp các em sử dụng tiếng việt thành thạo, để giao tiếp hiệu quả trong cuộc sống, học tốt các môn học, bước đầu hình thành và phát triển năng lực văn học, đồng thời bồi dưỡng cho học sinh những phẩm chất tốt đẹp. 2 Trên thực tế, tôi thấy việc dạy học sinh viết đoạn văn trong phân môn Tập làm văn cho học sinh lớp 3 còn nhiều khó khăn vì chưa có phương pháp dạy và học hợp lý. Mặt khác vốn sống, vốn hiểu biết về Tiếng Việt còn hạn chế, các em còn ít xúc cảm, thụ động, chỉ trả lời câu hỏi mà không có sự liên kết thành đoạn, diễn đạt lủng củng, vốn từ, ý tưởng nghèo nàn, các em nghĩ sao viết vậy, không theo trật tự lôgic nào, thậm chí không sử dụng dấu câu trong quá trình viết văn, có em chỉ trả lời câu hỏi gợi ý cộc lốc, gạch đầu dòng, xuống dòng tùy tiện, không rõ ý, rõ câu, không thành đoạn. Là một người giáo viên tôi rất băn khoăn, trăn trở về vấn đề này. Làm sao để giúp học sinh có nhiều vốn từ hơn? làm thế nào để học sinh viết đoạn văn đủ ý, sinh động và “ có hồn” hơn vì vậy tôi đã quyết định lựa chọn đề tài : “Một số giải pháp nâng cao kĩ năng viết đoạn văn cho học sinh lớp 3 ” . 2. Mục đích nghiên cứu - Tìm ra nguyên nhân của việc học sinh lớp 3 viết đoạn văn chưa tốt từ đó đưa ra một số giải pháp phù hợp để nâng cao kĩ năng viết văn cho học sinh. - Thông qua việc rèn viết đoạn văn bồi dưỡng tâm hồn cho học sinh, giúp các em thêm yêu tiếng việt qua đó góp phần hình thành phẩm chất, nhân cách con người phát triển toàn diện. 3. Nhiệm vụ nghiên cứu - Nắm bắt thực trạng viết đoạn văn và nguyên nhân làm học sinh gặp khó khăn khi viết đoạn văn của học sinh lớp 3. - Đưa ra những giải pháp để học sinh yêu thích và nâng cao kĩ năng viết đoạn văn cho học sinh lớp 3. 4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu - Về đối tượng nghiên cứu: Giải pháp nâng cao kĩ năng viết đoạn văn cho học sinh lớp 3. 3 - Phạm vi nghiên cứu: Lớp 3 5. Phương pháp nghiên cứu - Phương pháp nghiên cứu tài liệu - Phương pháp quan sát - Phương pháp đàm thoại - Phương pháp điều tra, khảo sát - Phương pháp thống kê II. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 1. Cơ sở lí luận Căn cứ vào mục tiêu dạy học môn Tiếng Việt nói chung và nhiệm vụ chủ yếu của phân môn Tiếng việt theo Thông tư số 32/2018/TT-BGDĐ ngày 26 tháng 12 năm 2018 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo. Dạy học Tiếng Việt giúp các em hình thành 4 kĩ năng cơ bản: Đọc, viết, nói và nghe. Tập làm văn giúp cho học sinh vận dụng các hiểu biết và kĩ năng về Tiếng Việt do các phân môn khác rèn luyện hoặc cung cấp. Để làm được một bài văn nói hoặc viết, người làm phải hoàn thiện các kĩ năng nghe, nói, đọc, viết phải vận dụng các hiểu biết kiến thức về Tiếng Việt. Trong quá trình vận dụng này, các kĩ năng và kiến thức đó được hoàn thiện và nâng cao dần. Tập làm văn là một phân môn quan trọng của môn Tiếng Việt, hội đủ 4 kĩ năng trên. Nó giúp học sinh có năng lực sử dụng tiếng Việt để học tập, giao tiếp. Trau dồi những ứng xử có văn hóa, tinh thần trách nhiệm trong công việc, bồi dưỡng những tình cảm lành mạnh, tốt đẹp qua nội dung bài dạy. Đối với học sinh lớp 3 thì đây là một phân môn khó, bởi ở lứa tuổi của các em vốn kiến thức và hiểu biết còn hạn hẹp. Bên cạnh đó còn có một số khó khăn khách quan như điều kiện hoàn cảnh sống của học sinh bố mẹ đều làm nông hoặc đi làm ăn xa, hoặc làm công nhân, không có điều kiện, thời gian quan tâm đến con cái. Việc diễn đạt ngôn ngữ của các em còn hạn chế, khả năng tư duy ngôn ngữ và kĩ năng 4 giao tiếp của các em còn lúng túng nên học sinh còn ngại nói, vì vậy tiết học chưa đạt hiệu quả cao. Điều này ảnh hưởng đến việc học tập nói chung, học phân môn Tập làm văn nói riêng. Để làm được một bài tập làm văn, học sinh cần phải huy động các kiến thức về tập đọc, từ và câu, về những kiến thức đã học, về môi trường xung quanh, về vốn hiểu biết. Nói chung, phân môn Tập làm văn đòi hỏi tổng hợp các kiến thức mà học sinh đã được học ở các phân môn Tiếng Việt khác. Bởi vậy, Tập làm văn mang tính thực hành toàn diện, tổng hợp. Trong chương trình Tiếng Việt lớp 3, các em đựơc viết đoạn văn và được rèn kỹ năng viết đoạn văn từ 5 đến 7 câu. Trong quá trình làm bài, tôi nhận thấy các em còn lúng túng, nhiều học sinh làm bài chưa đạt yêu cầu. Các em thường lặp lại từ đã viết, dùng từ sai, có em viết không đúng yêu cầu của đề bài hoặc có những bài làm đảm bảo về số câu nhưng viết không đủ ý. Với vai trò là một giáo viên đang dạy Tiểu học, trăn trở trước những khó khăn, hạn chế vừa nêu trên, bản thân tôi tự nhận thấy mình cần phải nghiên cứu, học hỏi thêm rất nhiều để mỗi giờ dạy Tập làm văn của mình ngày càng đạt hiệu quả cao, thu hút, khơi gợi được năng lực làm văn của từng học sinh. 2. Cơ sở thực tiễn * Thực trạng kĩ năng viết đoạn văn của học sinh lớp 3. Năm học 2022 – 2023 , tôi được phân công chủ nhiệm lớp 3A, có 29 học sinh. Qua quá trình giảng dạy, quan sát, tiến hành khảo sát và bài viết trên lớp của học sinh. Tôi thu được kết quả khảo sát như sau: Tổng HS viết đoạn văn đủ ý, HS biết viết đoạn văn đủ ý HS viết đoạn văn chưa số HS bài viết có sáng tạo, có nhưng câu văn chưa hay, đủ ý. câu văn còn lủng cảm xúc chưa có cảm xúc. củng. SL % SL % SL % 29 2 6,8 17 58,6 10 34,4 5 Nhìn vào kết quả khảo sát có thể thấy kĩ năng viết đoạn văn của học sinh chưa tốt. Đoạn văn các em viết thường giống nhau, không có sự sáng tạo, ít cảm xúc. Số lượng học sinh viết được đoạn văn hay rất ít. Qua quá trình giảng dạy, quan sát, tìm hiểu về hoàn cảnh, tính cách của từng học sinh và trao đổi với đồng nghiệp, tôi xác định một số thực trạng sau: - Một số học sinh bước đầu đã biết cách trình bày đoạn văn, bài viết tuy đủ ý nhưng chưa sinh động chủ yếu trả lời theo câu hỏi gợi ý, ít có sự sáng tạo, ít cảm xúc. - Vốn từ và hiểu biết về xã hội của học sinh rất hạn chế. - Viết câu chưa sử dụng đúng dấu câu. Viết câu chưa rõ ý. - Nhiều học sinh viết đoạn văn giống nhau. - Một số học sinh viết đoạn văn lạc đề hoặc chưa nắm được cần viết gì. - Học sinh chưa có kĩ năng quan sát, chia sẻ bài viết với bạn. * Nguyên nhân của những tồn tại trên là do: - Một số giáo viên chưa linh hoạt trong việc sử dụng phương pháp dạy và học phân môn tập làm văn, chưa sát sao nhận xét, hướng dẫn học sinh qua mỗi giờ học. - Học sinh chưa hiểu thế nào là đoạn văn, cũng như chưa hiểu yêu cầu của đề bài, chưa nắm được cách viết, nội dung cần viết đoạn văn đó. - Vốn từ và vốn hiểu biết của học sinh còn hạn chế. - Học sinh chưa cảm thụ được cái hay, cái đẹp, cái hấp dẫn của sự vật cần viết nên khi viết văn thường không có cảm xúc. - Các em chưa có kĩ năng (kĩ năng quan sát sự vật, hoạt động định tả), thói quen quan sát , ghi nhớ một cách hợp lí những gì diễn ra trong hoạt động đời sống mà những ghi chép ấy lại chính là “ chất liệu” để tạo nên những bài viết tốt, “ có hồn” của các em. 6 3. Những giải pháp nâng cao kĩ năng viết đoạn văn cho học sinh lớp 3. 3.1 Tìm hiểu về chương trình giáo dục phổ thông 2018 môn Tiếng việt, đặc biệt với phân môn Tập làm văn Năm học 2022-2023, là năm học đầu tiên lớp 3 thực hiện chương trình giáo dục phổ thông 2018, để giúp học sinh học tốt môn Tiếng Việt, đặc biệt là phân môn Tập làm văn bản thân tôi đã tìm hiểu nội dung, yêu cầu của chương trình và sách giáo khoa bộ sách Kết nối tri thức với cuộc sống để nâng cao trình độ chuyên môn cũng như đưa ra những phương pháp dạy học phù hợp, hiệu quả, nâng cao chất lượng giáo dục. Đối với môn Tiếng Việt 3 - phân môn Tập làm văn về nội dung yêu cầu: Đoạn văn kể lại câu chuyện đã đọc hoặc một việc đã làm Đoạn văn miêu tả đồ vật Đoạn văn chia sẻ cảm xúc, tình cảm Đoạn văn nêu lí do vì sao mình thích một nhân vật trong câu chuyện Văn bản thuật lại một hiện tượng gồm 2 – 3 sự việc, thông báo hoặc bản tin ngắn, tờ khai in sẵn. - Về yêu cầu cần đạt đối với viết đoạn văn, văn bản: + Quy trình viết: Biết viết theo các bước: xác định nội dung viết (viết về cái gì); hình thành một vài ý lớn; viết thành đoạn văn; chỉnh sửa lỗi (dùng từ, đặt câu, dấu câu, viết hoa) dựa vào gợi ý. + Thực hành viết: Viết được đoạn văn thuật lại một sự việc đã chứng kiến, tham gia. Viết được đoạn văn ngắn miêu tả đồ vật. Viết được đoạn văn ngắn nêu tình cảm, cảm xúc về con người, cảnh vật dựa vào gợi ý. 7 Viết được đoạn văn ngắn nêu lí do vì sao mình thích hoặc không thích một nhân vật trong câu chuyện đã đọc hoặc đã nghe. Viết được đoạn văn ngắn giới thiệu về bản thân, nêu được những thông tin quan trọng như: họ và tên, ngày sinh, nơi sinh, sở thích, ước mơ của bản thân. Viết được thông báo hay bản tin ngắn theo mẫu; điền được thông tin vào một số tờ khai in sẵn; viết được thư cho người thân hay bạn bè (thư viết tay hoặc thư điện tử). Chương trình giáo dục phổ thông 2018 với những yêu cầu về viết đoạn văn tả đồ vật, thuật lại sự việc, nói về mơ ước và đặc biệt chú trọng nhiều tới đoạn văn nêu tình cảm, cảm xúc đối với cảnh vật hay một nhân vật. Từ đó học sinh được mở rộng hiểu biết về thế giới xung quanh ( cảnh vật, con người ), có cơ hội khám phá bản thân, giúp đời sống tâm hồn mình thêm phong phú. Các em phát triển những phẩm chất tốt đẹp, những cảm xúc, tình cảm lành mạnh như yêu thiên nhiên, yêu gia đình, yêu quê hương, đất nước, yêu thích cái đẹp, cái hay giúp học sinh hình thành và phát triển phẩm chất , năng lực đảm bảo theo yêu cầu của chương trình giáo dục phổ thông 2018. 3.2. Hướng dẫn học sinh nắm được thể loại văn theo yêu cầu đề bài. Theo chương trình môn Tiếng Việt lớp 3, kĩ năng viết đoạn văn đã nâng cao hơn về yêu cầu so với lớp 2. Do đó tôi chú trọng hơn đến việc hướng dẫn học sinh nắm vững quy trình viết từng kiểu đoạn văn, theo đúng yêu cầu của chương trình. Để có một bài văn ( đoạn văn) tốt, đầu tiên học sinh cần viết đúng, xác định đúng yêu cầu, thể loại từ đó xây dựng dàn ý chi tiết. Sau khi học sinh đã viết đúng giáo viên dạy các em viết sao cho hay bằng cách hướng dẫn học sinh quan sát để tìm thêm các từ ngữ tượng thanh, tượng hình, sử dụng các biện pháp nghệ thuật, vận dụng sự liên tưởng, tưởng tưởng để lồng cảm xúc vào câu văn từ đó các em sẽ có bài văn hay, sinh động. Tôi hướng dẫn học sinh viết đoạn văn theo các bước: Xác định nội dung viết, hình thành ý và sắp xếp ý cho đoạn văn, chỉnh sửa lỗi và hoàn thiện bài làm của mình. 8 Để giúp học sinh viết đúng, tôi hướng dẫn các em nắm được yêu cầu của đề bài bằng cách gạch chân từ khoá. VD: Em hãy viết đoạn văn kể về một hoạt động ngoài trời em được chứng kiến hoặc tham gia. Sau khi học sinh đã nắm được yêu cầu, tôi sẽ cùng học sinh lập dàn ý cho đoạn văn để giúp các em nắm được, ghi nhớ được những ý chính cần viết với đề bài đó. Ví dụ: Viết đoạn văn nêu tình cảm, cảm xúc về cảnh vật quê hương, viết đoạn văn về một nhân vật yêu thích trong câu chuyện đã đọc, đã nghe. Để học sinh viết tốt, tôi hướng dẫn và lưu ý học sinh: 1) Xác định nội dung chung của đoạn văn: cần thể hiện tình cảm, cảm xúc gì với đối tượng ( người, cảnh vật) nào? 2) Bám sát gợi ý ( qua tranh ảnh, sơ đồ, ) để viết đoạn văn đủ ý và theo quy trình hợp lí. 3) Xem câu nào cần bộc lộ tình cảm, cảm xúc trực tiếp; từ đó tìm và sử dụng các từ ngữ biểu cảm ( yêu quý, mến, xúc động, cảm phục, tự hào ) cho phù hợp. Đối với mỗi bài luyện tập viết đoạn Sách giáo khoa bộ Kết nối tri thức với cuộc sống thường đưa ra các câu hỏi gợi ý hoặc sơ đồ giúp học sinh dễ dàng định hình được nội dung viết. Giáo viên hướng dẫn học sinh bám sát, ghi nhớ các ý đó để viết đoạn văn đủ ý và theo trình tự hợp lí. Để học sinh ghi nhớ nội dung lâu hơn, từ các câu hỏi gợi ý trong sách, giáo viên hướng dẫn học sinh xây dựng thành sơ đồ, điều này giúp học sinh rất hứng thú và ghi nhớ nội dung dễ dàng, lâu hơn. 9 Học sinh lớp 3, các em vẫn chủ yếu là tư duy trực quan, vì vậy để giúp học sinh dễ hình dung, tưởng tượng giáo viên đưa ra một số bức tranh, đoạn video để học sinh quan sát và hướng dẫn học sinh cách quan sát, tìm hiểu sự vật. 10 Học sinh chia sẻ về hình ảnh - Gv ghi phần sơ đồ ( dàn ý) ra bảng lớp. Để có câu văn hay học sinh cần sử dụng đúng, đủ ý và liên kết các từ ngữ then chốt với nhau. Tôi hướng dẫn học sinh quan sát tranh hoặc vật thật để tìm ra những bộ phận chính của đồ vật và tìm từ ngữ tả phù hợp vào phiếu. Ví dụ: Đầu tiên học sinh chỉ ra các bộ phận của chú Gấu bông. Sau đó em quan sát và điền từ ngữ chỉ hình dáng, màu sắc và thêm các từ ngữ gợi hình. Cuối cùng nối các từ ngữ then chốt với nhau để tạo thành một câu văn, một đoạn văn hoàn chỉnh. Học sinh hoàn thành phiếu tả con gấu bông. 11 Bài viết tả đồ vật của học sinh. 3.3. Phát triển vốn từ cho học sinh Để viết được một bài văn hay điều thiết yếu là cần phải có vốn từ phong phú, từ đó lựa chọn đúng để tạo ra được những câu văn sinh động, có “ màu sắc, âm thanh” vì thế việc bổ sung vốn từ cho học sinh là một việc rất quan trọng. a) Bổ sung vốn từ qua các phân môn tập đọc, luyện từ và câu, chính tả. Tập làm văn là phân môn tổng hợp tất cả các kĩ năng Đọc, viết, nói và nghe, Phân môn hội tụ các kiến thức, kĩ năng của các bài học trước đó theo từng chủ điểm, từng tuần. Vì vậy để giúp học sinh có vốn từ tốt, hình thành cơ sở để các em viết tốt đoạn văn khi dạy học, ngoài việc dạy đúng đặc trưng phân môn, cần có sự lồng ghép, kết nối giữa nội dung các bài học, kết nối giữa tri thức với thực tế cuộc sống qua đó góp phần làm phong phú vốn sống, trải nghiệm, cảm xúc cho học sinh giúp học sinh, bổ sung vốn từ, kiến thức làm chất liệu để học sinh có thể hoàn thành bài viết của mình một cách thuận lợi. Ví dụ: Với chủ điểm Những trải nghiệm thú vị, tuần 3 học sinh được viết đoạn văn nêu các bước làm một món ăn. Ngay từ phần khởi động của tiết luyện đọc bài “Tập nấu ăn”, tôi hướng dẫn học sinh quan sát tranh SGK và đưa ra câu hỏi để học sinh nêu được các dụng cụ có trong nhà bếp, ngoài các dụng cụ đó thì gia đình em còn 12 có những dụng cụ nào khác? Qua hoạt động này học sinh không chỉ rèn kĩ năng quan sát, các em còn được huy động những hiểu biết thực tế và cũng chuẩn bị vốn từ phục vụ cho viết đoạn văn. Đến phần luyện đọc, học sinh không chỉ được rèn kĩ năng đọc, mà qua bài đọc, tìm hiểu bài tôi định hướng học sinh biết cách giới thiệu về một món ăn em thích( tương ứng với phần mở đoạn khi viết đoạn văn), muốn nấu em cần chuẩn bị nguyên liệu gì? các bước thực hiện thế nào? Ngoài ra tôi hướng dẫn học sinh liên hệ với thực tế ở nhà, các em đã được làm những món gì? để làm món ấy em cần chuẩn bị nguyên liệu gì? cách làm ra sao? Qua việc chia sẻ ấy dần phát triển năng lực ngôn ngữ, giao tiếp, đồng thời cũng bổ sung thêm kiến thức về các món ăn cho các em. Để chuẩn bị tốt hơn cho việc viết đoạn văn và kết nối tri thức với cuộc sống của học sinh, tôi giao thêm một nhiệm vụ: về nhà em nhờ bố mẹ hướng dẫn em làm một món em thích, hoặc quan sát làm một món ăn và ghi lại cách làm ra sổ tay. Với phân môn Luyện từ và câu giúp học sinh được hệ thống hoá về vốn từ, có hiểu biết sơ giản về từ và câu đồng thời rèn cho học sinh kĩ năng dùng từ, đặt câu và sử dụng các dấu câu. Ngoài việc trang bị thêm từ vựng mới cho học sinh thì giáo viên cần hoàn thiện vốn từ đã có của các em, trong lúc cung cấp từ ngữ cần dựa vào vốn từ sẵn có của học sinh để phát triển, bổ sung thêm. Vơi tiết luyện từ và câu của tuần 3, học sinh không chỉ được củng cố kiến thức tiếng việt về từ chỉ hoạt động, câu nêu hoạt động mà học sinh lại tiếp tục được trang bị thêm kiến thức liên quan phục vụ cho tiết viết đoạn văn, như ở bài tập1 và bài tập 2: Từ những hiểu biết của các em, các em sẽ tìm được các từ ngữ và được mở rộng vốn từ chỉ hoạt động liên quan đến việc nấu ăn như rửa rau, nhặt rau, thái thịt . bài tập 3 các em được vận dụng các từ ngữ vào văn cảnh cụ thể để hiểu hơn về cách sử dụng từ đúng, hợp lí. Các em được tìm từ, đặt câu giúp các em phát triển năng lực ngôn ngữ, đây cũng là cơ sở để học sinh viết đoạn văn dễ dàng hơn. VD: Chủ điểm Mái nhà yêu thương – tuần 12, học sinh được viết đoạn văn nêu tình cảm, cảm xúc của em với người thân. Xuyên suốt cả tuần học các em được tìm hiểu các bài đọc, chính tả hay luyện từ và câu thì đều có những hình ảnh công việc của 13 những người ông, bà, mẹ qua đó bồi dưỡng thêm tình cảm, cảm xúc đối với người thân, làm chất liệu để học sinh viết đoạn văn cuối tuần. Khi hướng dẫn học sinh luyện đọc bài “ Tia nắng bé nhỏ” và “ để cháu nắm tay ông” ngoài việc hướng dẫn học sinh luyện đọc, tìm hiểu nội dung bài tôi yêu cầu học sinh ghi lại một vài từ ngữ hoặc câu thể hiện cảm xúc của mình với hành động của bạn Na, của bà, của bạn nhỏ, của ông nội. Vơi bạn Na: “ quan tâm, yêu quý bà. Na là một cô bé hiếu thảo . Với bà: yêu thương cháu, ánh mắt bà đầy trìu mến, thương yêu, Đối với bà Na chính là tia nắng làm bà cảm thấy ấm áp hơn, bà là người bà tuyệt vời nhất!...” Với bài “ Tia nắng bé nhỏ” : Em thích nhất hành động nào của nhân vật? vì sao? Sau khi giúp học sinh hiểu hơn về nhân vật, giáo viên hướng học sinh đến tự liên hệ với những người thân trong gia đình: Em nhớ nhất kỉ niệm, hành động nào với người thân? ( ông, bà, bô, mẹ ) Em cảm thấy thế nào sau khi người thân làm điều đó cho em? Em cảm nhận được điều gì từ người thân? Đưa học sinh đi từ cảm xúc, đánh giá đối với người khác đến cảm xúc của mình một cách tự nhiên nhất, điều này giúp học sinh viết đoạn văn dễ dàng hơn, có cảm xúc hơn. Đến với tiết chính tả, học sinh được nghe – viết bài “Kho sách của ông bà”, trước khi cho học sinh viết tôi hướng dẫn các em đọc – tìm hiểu về nội dung. Qua đó học sinh không chỉ tìm được những từ ngữ khó để luyện viết cho đúng mà qua việc tìm hiểu nội dung các em lại có thêm cảm xúc với ông bà. HS đưa ra một vài câu, từ suy nghĩ, thể hiện cảm xúc đối với ông bà trong đoạn văn: “ khâm phục ông vì ông có nhiều sách, ông chăm chỉ đọc sách vậy sẽ có vốn hiểu biết rộng. Khâm phục trí nhớ của bà, yêu bà vì đã kể chuyện cho cháu nghe ” Đến phần bài tập chính tả các em lại được biết đến một đoạn văn viết về mẹ. Học sinh lại tiếp tục được nêu cảm nhận của mình với người mẹ trong đoạn văn: “ mẹ vất vả, lo toan mọi công việc trong gia đình .” và liên tưởng với công việc hàng ngày ở nhà của mẹ mình. Đến hoạt động vận dụng, giáo viên hướng dẫn học sinh làm một tấm thiệp nhỏ, trang trí thật đẹp. Viết những lời thể hiện tình cảm yêu thương, lòng biết ơn của em với một người thân trong gia đình. Buổi học sau mời học sinh chia sẻ tấm thiệp với cả lớp. Hoạt động này học sinh rất hứng thú. 14 Với tiết luyện từ câu, thì ngay ở bài tập 1, các em được củng cố về từ chỉ hoạt động đặc điểm qua hai khổ thơ. Sau khi hướng dẫn học sinh nắm được kiến thức, tôi cho học sinh đọc lại hai khổ thơ và nêu cảm xúc của em với người ông trong bài: “ Ông rất chăm chỉ làm việc, ông còn rất khoẻ . Em rất yêu quý và khâm phục người ông trong bài.” Với hoạt động Đọc mở rộng, học sinh lại tiếp tục được tìm đọc những câu chuyện về tình cảm giữa những người thân trong gia đình, hoặc tình cảm với mọi vật trong nhà. Sách giáo khoa có ví dụ với bài “ Ông ngoại”. Qua các hoạt động, với từng phân môn đều hướng học sinh đến tình cảm, cảm xúc với người thân, những kiến thức, tình cảm các em đã tiếp thu được ( trong vô thức) sẽ giúp học sinh có cảm xúc, vốn từ để viết văn tốt hơn. Đồng thời bồi dưỡng, phát triển năng lực cảm thụ văn học, phẩm chất yêu gia đình, yêu quê hương, đất nước b) Làm giàu vốn từ cho học sinh thông qua việc đọc và tìm hiểu “ Văn tuổi thơ” Để giúp học sinh có thêm vốn từ, thêm sự hiểu biết thì “ văn học tuổi thơ” thực sự là một tài liệu rất hay và bổ ích. Giờ truy bài, giáo viên giúp học sinh vừa học vừa chơi qua một vài câu đố nhỏ có trong “ văn học tuổi thơ” VD: “Đồng gì không sắc như tên – Trẻ em cất tiếng hát liền thân thương?...” Học sinh thường rất hứng thú, tích cực và mong chờ được giải câu đố. Qua đó các em được phát triển về năng lực ngôn ngữ, hiểu từ và dùng từ đặt câu. Khi học sinh thích thì các em sẽ nhớ lâu hơn.( học sinh tiếp nhận nó bằng con đường vô thức) Trong văn học tuổi thơ còn rất nhiều chủ đề hay, hướng dẫn học sinh cách viết văn hay giải đáp một vài thắc mắc liên quan đến kiến thức tiếng việt. Giáo viên là người chia sẻ với học sinh những thông tin này để học sinh thấy được cái hay, kích thích sự tò mò, ham hiểu biết và các em sẽ chủ động tìm hiểu thêm, đọc thêm qua nhiều sách, truyện khác, hình thành thói quen đọc sách. Để học sinh cảm nhận được vẻ đẹp của Tiếng việt, đồng thời giúp học sinh thêm kiến thức để viết văn. Đầu giờ giáo viên chia sẻ một vài đoạn văn hay mà giáo viên thích, cùng học sinh phân tích xem đoạn văn đó có gì hay? Vì sao lại thích câu văn 15 đó? Qua đó học sinh được mở rộng vốn từ, phát triển năng lực ngôn ngữ và cảm thụ văn học. c) Bổ sung vốn từ từ âm nhạc. Ai cũng đều yêu thích âm nhạc, với làn điệu du dương, lời ca đầy ý nghĩa, những bài hát rất dễ đi vào lòng người. Hướng dẫn học sinh lắng nghe, cảm nhận và tìm từ ngữ then chốt qua bài hát là một điều rất thú vị. Học sinh hứng khởi khi được nghe bài hát và tích cực hoạt động tìm từ. Giáo viên có thể tổ chức hoạt động này với hình thức một trò chơi để tăng thêm phần kích thích đối vớ I học sinh. Mơi đầu các em còn gặp khó khăn do chưa nắm bắt được, nhưng sau vài lần hướng dẫn các em dần quen. Ví dụ: Với bài hát “ Mái trường mến yêu” em hãy lắng nghe và cho cô biết Mái trường mến yêu có những sự vật nào? ( hàng cây: xanh thắm, loài chim: đang hót âm thầm tựa như nói , thầy: dìu dắt chúng em, bình minh: hé sáng, giọt sương: long lanh đọng trên lá .) Thông qua âm nhạc giúp học sinh phát triển phẩm chất, tình yêu với âm nhạc, quê hương, mái trường, các em có cảm xúc hơn và quan trọng học sinh được mở rộng vốn từ, sự hiểu biết của mình. Đây là tiền đề giúp học sinh có sự sáng tạo khi viết văn. d) Làm giàu vốn từ ngữ cho học sinh qua hình ảnh, video trực quan. Học sinh lớp 3 chủ yếu vẫn tư duy trực quan, các em gặp khó khăn khi viết đoạn văn vì khó hình dung cảnh vật, hoạt động mình định tả. Để học sinh nhìn thấy hình ảnh, quan sát phân tích và lựa chọn câu, từ để viết sẽ dễ hơn. Hoặc khi viết về một hoạt động ngoài trời em được tham gia, học sinh thường không nhớ được trình tự và các hoạt động diễn ra, giáo viên trực quan lại bằng một đoạn video deo ngắn giúp học sinh tưởng tưởng và định hình lại trình tự hoạt động cũng như cảm xúc khi em tham gia hoạt động đó. Khi đưa ra video, ngoài các câu hỏi gợi ý chính trong sách, giáo viên đưa ra một vài câu hỏi gợi ý để các em bám sát, khai thác nội dung sâu hơn. 16 Ví dụ: Video về trải nghiệm Ngày tết quê em, giáo viên đưa ra thêm câu hỏi “ Em thấy sân trường hôm nay được trang trí thế nào? Em thích hoạt động nào nhất? Em cảm thấy thế nào khi tham gia hoạt động đó?....) Kĩ năng quan sát tranh cũng rất quan trọng, giáo viên hướng dẫn các em cách quan sát. “ Em thấy sự vật ( hoạt động) nào trong bức tranh? Sự vật ấy thế nào? Em có cảm xúc gì với sự vật ( hoạt động) đó?...” Từ đó giúp học sinh Sách giáo khoa lớp 3 có rất nhiều kênh hình, đây có lẽ cũng là một dụng ý của tác giả viết sách, giúp học sinh có những trải nghiệm thực tế, thông qua tranh ảnh giúp học sinh phát triển kĩ năng quan sát và học tập hiệu quả hơn. Ví dụ: Với bức tranh cảnh bãi biển, giáo viên trực quan tranh, hướng dẫn học sinh quan sát, tìm từ ngữ tả cảnh vật. - Núi: nhấp nhô, xanh thẫm - Bầu trời: cao và trong xanh - Mặt biển: xanh biếc, mênh mông, thấp thoáng những cánh chim, những con thuyền - Bãi cát: trải dài, trắng mịn, có con còng gió, dã tràng - Con người: đông đúc, chơi đùa, chụp ảnh, tiếng nói cười - Cây cối: hàng dừa vươn tay đón nắng 3.4. Rèn kĩ năng sử dụng vốn từ kết hợp với các biện pháp nghệ thuật đã học viết câu văn sinh động, giàu hình ảnh. Nhiều học sinh viết văn chưa sử dụng các từ ngữ gợi tả màu sắc, âm thanh nên bài viết chưa sinh động. Ví dụ học sinh viết: Những con bướm bay lượn. Câu văn mặc dù đã đủ ý nhưng chưa hay. Tôi đưa ra thêm câu hỏi gợi ý: Những con bướm bay lượn thế nào? ở đâu? Em hãy đặt mình là con bướm kia, khi được tự do bay lượn trên cánh đồng lúa tươi đẹp như thế em cảm thấy thế nào? 17 Học sinh viết lại: Những con bướm bay lượn tung tăng trên đồng lúa. Để bài viết sinh động hơn, tôi hướng dẫn học sinh sử dụng các biện pháp so sánh, nhân hoá vào câu văn cho phù hợp. VD: Buổi sáng, những giọt sương long lanh đọng trên lá lúa trông như những viên ngọc lấp lánh. Ông mặt trời uể oải thức dậy đang từ từ nhô lên sau rặng tre. Mỗi khi chị gió ghé qua, lúa lại ngả vào nhau như đang thì thầm trò chuyện. Thông qua việc sử dụng các bài tập bổ sung trong giờ luyện từ và câu hay tập đọc tôi nhận thấy học sinh đã có sự tiến bộ rõ rệt trong cách viết câu, các em đã viết được những câu văn ngắn gọn, mạch lạc hơn, bước đầu đã đưa được những hình ảnh so sánh vào câu văn. Đoạn văn viết đã có sự sáng tạo. 3.5. Tổ chức cho học sinh nhận xét, đánh giá bài viết. Học sinh lớp 3 khả năng viết câu diễn đạt ý còn khá vụng về, câu văn rườm rà, chưa rõ ý. Khi gặp trường hợp đó giáo viên hướng dẫn học sinh sửa ngay câu văn này bằng cách đưa ra một vài câu hỏi để tất cả học sinh cùng suy nghĩ. Ví dụ khi học sinh viết: “ Ai cũng có một ước mơ riêng và em cũng có một ước mơ riêng ước mơ của em là bác sĩ.” Tôi đưa ra gợi ý bằng câu hỏi: - Em có nhận xét gì về câu văn bạn viết? - Học sinh: Câu văn bạn viết dài, chưa rõ ràng, lặp từ “ ước mơ riêng” - Các Em hãy giúp bạn sửa lại câu văn này? - Học sinh: “ Mỗi người đều có một ước mơ riêng, em cũng vậy, em mơ ước trở thành bác sĩ.” Khi được sửa lỗi ngay học sinh sẽ nhận ra câu văn trên chưa hay chỗ nào và sẽ hạn chế mắc lỗi lặp ý, lặp từ. Đồng thời qua việc tìm và sửa lỗi giúp bạn, học sinh được củng cố về cách viết câu văn, cách đánh giá nhận xét. Tâm lí học sinh rất thích được khen, vì vậy khi các em viết văn có tiến bộ, có sáng tạo cũng cần động viên khen ngợi kịp thời. Đặc biệt với bài văn viết có cảm xúc, có sáng tạo tôi tạo cơ hội để các em được chia sẻ trước lớp. Trước khi học sinh chia sẻ hướng dẫn các em cách chia sẻ dựa vào một số câu hỏi: Đoạn văn đủ ý chưa? 18 Câu văn viết đã đủ ý, đủ câu chưa? Câu văn bạn viết có gì hay? Em thích câu văn nào của bạn? vì sao? Mỗi tiết học tập làm văn khoảng 40 phút, thời gian ngắn như vậy giáo viên khó có thể đọc và sửa hết bài cho 29 học sinh hể, vì vậy khi sửa bài cho học sinh tôi chú trọng tới sửa lỗi học sinh thường mắc để chia sẻ chung với cả lớp. Để mỗi học sinh đều được sửa bài tôi hướng dẫn các em đọc, chia sẻ và sửa bài cho nhau. Qua đó học sinh được củng cố chắc hơn về nội dung, các ý chính khi viết đoạn văn và còn học tập được cách viết văn, những ý văn hay từ bạn mình. Học sinh được phát triển năng lực giao tiếp, ngôn ngữ. Học sinh đều rất thích youtobe hay tiktok, là một phụ huynh hay giáo viên cũng cần bắt nhịp để hiểu các con mình hơn. Thay đổi hình thức học tập tạo sự mới mẻ, hấp dẫn với học sinh nên ngoài việc đọc đoạn văn, chia sẻ trước lớp tôi có thay đổi hình thức chia sẻ để học sinh hứng thú hơn vì vậy tôi hướng dẫn học sinh có thể “ review” về món đồ chơi yêu thích hay một hoạt động ngoài trời em được chứng kiên, tham gia rồi chia sẻ với cả lớp, làm video chia sẻ đoạn văn kết hợp với hình ảnh. Việc này giúp học sinh tăng tự tin và hứng thú bài học hơn. 3.6. Kết hợp với phụ huynh cùng giúp con có thêm trải nghiệm, vốn từ khi viết văn. Vốn sống của con người được tích luỹ theo thời gian, trong quá trình học tập và tìm hiểu từ cuộc sống hàng ngày. Để viết dược đoạn văn hay, có cảm xúc thì trải nghiệm thực tế là không thể thiếu vì từ những cái học sinh được nhìn, được sờ, được trải qua, được cảm nhận sẽ đưa các em đến những cảm xúc thật. Xung quanh cuộc sống có vô vàn điều hay lí thú nhưng đa phần học sinh gia đình chỉ có 1 đến 2 con nên thường rất giữ gìn, ít tiếp xúc với môi trường bên ngoài vì sợ bẩn, sợ nhiều thứ nên các em gần như bị “ nhốt” trong chiếc lồng của gia đình. ở nhà chơi với ông bà, xem ti vi, chơi đồ chơi ít được trải nghiệm thực tế nên vốn sống, vốn hiểu biết và cảm xúc của học sinh rất nghèo nàn. Để thay đổi tư duy của phụ huynh không hề dễ nhưng qua các cuộc họp phụ huynh, qua trao đổi trên nhóm lớp giáo viên có những định hướng để phụ huynh tạo điều kiện cho các con được trải nghiệm thực tế nhiều hơn như: đi cấy – để con hiểu hơn về công việc và nỗi vất vả của người nông 19 dân, hay cùng xóm tham gia dọn dẹp đường làng, trồng cây, hoa ở đường làng. Trải nghiệm cảm giác được chăn trâu, thả diều, chơi trò chơi như thời bố mẹ....... sau mỗi hoạt động các em được tham gia, giáo viên dành chút thời gian giờ truy bài để học sinh chia sẻ về hoạt động em đã tham gia và cảm xúc khi tham gia hoạt động đó. Học sinh rất thích được chia sẻ, các em chia sẻ tự nhiên, đôi khi còn tranh nhau chia sẻ. Tôi thấy các em rất vui, rất tích cực chia sẻ. Qua đó không chỉ giúp học sinh được mở rộng vốn từ, vốn hiểu biết mà các em cũng chủ động học tập, phát triển năng lực giao tiếp, ngôn ngữ và yêu thích học tập. Nhóm Zalo của lớp là nơi giáo viên, phụ huynh chia sẻ về mọi hoạt động trên lớp, ở nhà của các con. Để phụ huynh hiểu hơn về việc học tập của các con giáo viên thường xuyên chia sẻ những hình ảnh, các hoạt động học tập cũng như các hoạt động các con được tham gia ở trường lên nhóm lớp. Thỉnh thoảng giáo viên sẽ đưa một vài đoạn văn hay đã có lời nhận xét của giáo viên lên nhóm lớp để tuyên dương. Học sinh cảm thấy vui, tự hào và phụ huynh cũng nắm được phong trào học tập của lớp để nhắc nhở con em mình. Đọc đoạn văn của các con và có định hướng, hướng dẫn với con mình. III. KẾT QUẢ VÀ ỨNG DỤNG
File đính kèm:
mot_so_giai_phap_nang_cao_ki_nang_viet_doan_van_cho_hoc_sinh.pdf



