Nâng cao sự tự tin và tinh thần đoàn kết cho học sinh lớp 4 theo chương trình giáo dục phổ thông 2018

pdf19 trang | Chia sẻ: Chan Chan | Ngày: 10/02/2026 | Lượt xem: 3 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Nâng cao sự tự tin và tinh thần đoàn kết cho học sinh lớp 4 theo chương trình giáo dục phổ thông 2018, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút TẢI VỀ ở trên
 ỦY BAN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THẾ 
 TRƯỜNG TIỂU HỌC HƯƠNG VĨ 
` 
 BIỆN PHÁP 
 “Nâng cao sự tự tin và tinh thần đoàn kết cho học sinh lớp 4 theo 
 chương trình giáo dục phổ thông 2018” 
 Họ và tên: Lê Thị Hạnh 
 Đơn vị: Trường Tiểu học Hương Vĩ 
 XÁC NHẬN CỦA NHÀ TRƯỜNG NGƯỜI VIẾT 
 HIỆU TRƯỞNG (Ký ghi rõ họ tên) 
 Nguyễn Thị Việt Lê Thị Hạnh 
 Yên Thế, tháng 4 năm 2024 
 MỤC LỤC 
 I. PHẦN MỞ ĐẦU Trang 
1. Lý do chọn đề tài 2 
2. Mục đích nghiên cứu 2 
3. Nhiệm vụ nghiên cứu 3 
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 3 
5. Phương pháp nghiên cứu 3 
 II. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 
1. Cơ sở lý luận 5 
2. Cơ sở thực tiễn 5 
3. Các biện pháp 6 
3.1. Biện pháp 1. Rèn nền nếp tự quản cho học sinh giúp các 6 
em tự tin trong học tập 
3.2. Biện pháp 2. Tổ chức dạy học theo hướng tích cực lấy 8 
học sinh làm trung tâm và xây dựng cho học sinh ý thức tự 
tin trong học tập 
3.3. Biện pháp 3. Xây dựng chương trình giảng dạy STEM 9 
hợp lí. 
3.4. Biện pháp 4. Thực hiện tiết sinh hoạt lớp sáng tạo, hiệu 11 
quả 
 III. KẾT QUẢ VÀ ỨNG DỤNG 
Kết quả 14 
Ứng dụng 15 
 IV. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ 
Kết luận 16 
Kiến nghị 17 
 V. Tài liệu tham khảo 18 
 2 
 I. PHẦN MỞ ĐẦU 
 1. Lý do chọn đề tài 
 Mục tiêu của chương trình giáo dục phổ thông 2018 nhằm hướng đến phát 
triển năng lực, phẩm chất cho học sinh. Việc dạy học không chỉ hướng đến trang 
bị kiến thức mà quan trọng hơn nữa đó là rèn cho học sinh có những kĩ năng cơ 
bản để tạo vốn sống cho các em hòa nhập. 
 Đối với học sinh tiểu học, đặc biệt là học sinh lớp 4, các em vẫn còn rất 
ngây thơ, trong trắng, việc giáo dục của chúng ta như là định hướng, là kim chỉ 
nam trong các hành động của các em, lối sống của người lớn, môi trường sống, 
học tập ảnh hưởng rất lớn đến sự hình thành nhân cách của các em. Chính vì vậy, 
ngay ở cấp học tiểu học chúng ta cần đặt mục tiêu giáo dục đạo đức, trang bị kĩ 
năng sống cho các em là một trong những mục tiêu quan trọng của công tác giáo 
dục. 
 Trong thực tế dạy học, tôi nhận thấy học sinh lớp 4 bây giờ tự tin hơn, năng 
động hơn, mạnh dạn hơn, nói như vậy không phải chúng ta hoàn toàn yên tâm về 
chất lượng giáo dục hiện nay, bởi lẽ đâu đó vẫn còn những em học sinh khá nhút 
nhát, tự ti, không dám mạnh dạn bày tỏ ý kiến trước bất kì việc gì, kể cả những 
việc liên quan trực tiếp đến bản thân mình. Đâu đó vẫn còn những em sống theo 
lối sống cá nhân, có phần ích kỉ, chưa quan tâm đến tập thể, xa rời nhóm bạn, chưa 
biết tận dụng sức mạnh của sự đoàn kết. 
 Tôi đã nhận thức được tầm quan trọng của việc giáo dục sự tự tin, đoàn kết 
cho học sinh, cùng với những kinh nghiệm 7 năm làm công tác chủ nhiệm lớp 4, 
tôi xin được mạnh dạn nghiên cứu “Biện pháp nâng cao sự tự tin và tinh thần 
đoàn kết cho học sinh lớp 4 theo chương trình giáo dục phổ thông 2018”. 
 2. Mục đích nghiên cứu 
 Đưa ra một số biện pháp giúp học sinh hình thành, phát triển năng lực và 
rèn các kĩ năng cho học sinh từ đó giúp các em có thêm kĩ năng sống cơ bản, 
rèn sự tự tin, tinh thần đoàn kết, yêu thương giúp đỡ nhau góp phần hình thành 
và phát triển nhân cách học sinh. 
 3 
 3. Nhiệm vụ nghiên cứu 
 Nghiên cứu tầm quan trọng, sự cần thiết việc rèn sự tự tin, giáo dục tinh 
thần đoàn kết cho học sinh. 
 Tìm ra các biện pháp giúp giáo viên phát huy được sự tự tin và giáo dục 
tinh thần đoàn kết cho học sinh lớp 4. 
 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 
 Đối tượng nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu về biện pháp phát huy sự tự tin và 
tinh thần đoàn kết cho học sinh lớp 4 theo chương trình giáo dục phổ thông 2018. 
 Phạm vi nghiên cứu: Đề tài này nghiên cứu, tổng kết về vai trò, tác động 
của các biện pháp nhằm phát huy sự tự tin và tinh thần đoàn kết cho học sinh 
lớp 4A, trường tôi đang công tác. 
 5. Phương pháp nghiên cứu 
 Phương pháp quan sát 
 Phương pháp đàm thoại, gợi mở 
 Phương pháp luyện tập, thực hành 
 Phương pháp kiểm tra, thống kê kết quả 
 4 
 II. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 
 1. Cơ sở lý luận 
 Tự tin là tin vào chính bản thân, tin vào khả năng và hành động của chính 
mình. Cắt nghĩa cụ thể, có thể hiểu “tự” là chính bản thân mình. Còn “tin” chính 
là niềm tin, sự tin tưởng. Tự tin trái ngược với sự nhút nhát, rụt rè, thiếu niềm tin 
vào bản thân và lo sợ phải thất bại, không dám theo đuổi ước mơ. 
 Sự tự tin trong học tập có thể được biểu hiện ở những việc làm nhỏ nhất như 
tự tin thuyết trình bài học trước lớp, tự tin đóng góp phát biểu ý kiến của mình 
cho tập thể lớp. Tự tin cũng có nghĩa là học sinh thấy thoải mái hơn với chính 
mình và có nhiều điều thú vị muốn chia sẻ. Sự tự tin giúp các em tương tác với 
nhiều người xung quanh, với bạn bè và dễ dàng xây dựng được những mối quan 
hệ mới, điều này cực kì quan trọng trong thế giới hiện đại, khi mà tình bạn, sự 
hợp tác, gắn bó không chỉ bó gọn trong khuôn khổ một tỉnh hay một quốc gia. Tự 
tin sẽ giúp các em thành công trong mọi hoàn cảnh. Đây là một trong những kĩ 
năng sống rất cần thiết cho mỗi học sinh. 
 Đoàn kết là sự tập hợp, kết thành một khối thống nhất, cùng hoạt động vì 
một mục đích chung. Đoàn kết còn là tình thương giữa con người với con người, 
sẵn sàng đồng cam, chia sẻ, thấu hiểu và giúp đỡ khi người khác gặp khó khăn. 
Trong học tập, đoàn kết có nghĩa là cùng giúp nhau đi lên, giúp nhau học tập và 
làm những gì có ích cho bản thân, cho mọi người xung quanh. 
 Việc xây dựng sự tự tin và tinh thần đoàn kết cho học sinh lớp 4 là một quá 
trình quan trọng trong việc phát triển toàn diện của học sinh. Đây là một quá trình 
dài hạn. Chúng ta cần kiên nhẫn và hỗ trợ các em trong việc phát triển những kỹ 
năng quan trọng này, giúp các em trở thành người học tự chủ và tự tin trong cuộc 
sống. 
 2. Cơ sở thực tiễn 
 2.1. Thuận lợi 
 Cán bộ quản lí trong nhà trường luôn quan tâm, giúp đỡ giáo viên trong công 
tác chủ nhiệm lớp. Giáo viên nhận thức được tầm quan trọng của công tác giáo 
dục phẩm chất, năng lực cho học sinh. 
 5 
 Giáo viên trong trường cũng như trong khối luôn quan tâm, giúp đỡ và chia 
sẻ những kinh nghiệm chủ nhiệm. 
 Một số học sinh chăm ngoan, có ý thức về việc làm của mình, dám thể hiện 
suy nghĩ bản thân trước lớp một cách rõ ràng, lưu loát; biết quan tâm giúp đỡ bạn 
bè. 
 2.2. Khó khăn 
 a. Về phía học sinh: 
 Học sinh lớp 4 tuy không còn nhỏ nhưng việc thể hiện các kĩ năng vẫn còn 
hạn chế, chưa mạnh dạn thể hiện bản thân. Các em còn ngại nói, ngại viết, khả năng 
tự học, tự tìm tòi còn hạn chế, đặc biệt là kĩ năng giao tiếp, tự bộc lộ bản thân còn 
yếu. Nhiều em rụt rè, nhút nhát, không dám bày tỏ ý kiến, thái độ của mình trước 
một sự việc, nhất là trong hoạt động chung. 
 b. Về phía giáo viên: 
 Hầu hết giáo viên đều chú tâm vào dạy chữ, chưa chú trọng một cách đúng 
mực về giáo dục kỹ năng sống nên việc giáo dục phẩm chất phần nào có chút hạn 
chế, đặc biệt là giáo dục tính tự tin, tinh thần đoàn kết cho học sinh. Trong khi đó, 
việc rèn tính tự tin, đoàn kết cho học sinh được tiến hành bằng rất nhiều hình thức, 
thông qua nhiều môn học đó là sự lồng ghép, sự tích hợp, sự rèn dũa thường 
xuyên, liên tục. Có như vậy thì học sinh mới có sự chuyển biến tích cực được. 
 Để tìm ra biện pháp phát triển sự tự tin, tinh thần đoàn kết cho học sinh lớp 
4, ngay từ đầu năm học 2023 - 2024, tôi đã tiến hành khảo sát lớp 4A là lớp tôi 
chủ nhiệm với sĩ số là 35 em có kết quả như sau: 
 Các phẩm chất, năng lực 
 Tổng số Giao tiếp Hợp tác Đoàn kết 
 HS Số lượng Số lượng Số lượng 
 Tỉ lệ Tỉ lệ Tỉ lệ 
 HS HS HS 
 35 12 34,2% 15 42,9% 18 51,4% 
 Qua kết quả trên tôi nhận thấy các em chưa tự tin trong mọi hoạt động trên 
lớp và tinh thần đoàn kết chưa cao. 
 6 
 3. Các biện pháp 
 Để giúp các em phát huy được sự tự tin và giáo dục tinh thần đoàn kết cho 
học sinh lớp 4 tôi đã thực hiện các biện pháp sau: 
 3.1. Biện pháp 1: Rèn nền nếp tự quản cho học sinh giúp các em tự tin 
trong học tập. 
 Để rèn nền nếp tự quản cho học sinh, tôi thường áp dụng các cách thức sau: 
 Hướng dẫn học sinh thiết lập lịch 
 trình hợp lý: 
 - Tôi hướng dẫn học sinh lên kế 
 hoạch học tập và hoạt động ngoại 
 khóa trong một lịch trình cố định. 
 - Đảm bảo rằng lịch trình cân đối với 
 thời gian dành cho học, giải trí, và 
 giấc ngủ. 
 Ví dụ: Tôi hướng dẫn các em sắp 
 xếp thời gian học tập và sinh hoạt. 
 Xác định thời gian dành cho mỗi 
 hoạt động. 
 Hướng dẫn: 
 - Những việc em thường làm là xây dựng góc học tập ở nhà, làm bài tập, đọc 
 truyện, chơi đá bóng, ca hát, giúp đỡ bố mẹ làm việc nhà, 
- Thời gian cho mỗi hoạt động là: 
 + Làm việc nhà: 17h05’- 18h. 
 + Chăm sóc bản thân: 18h-18h20’ 
 + Giải trí: 18h50’-19h45’. 
 + Học tập: 20h- 22h15’. 
Hướng dẫn học sinh cách quản lý thời gian: 
 Tôi giúp học sinh hiểu cách sử dụng thời gian hiệu quả bằng cách chia thành 
từng phần và thiết lập thời gian hạn chót cho các hoạt động. 
Ví dụ: Tự lập kế hoạch công việc của mình cho phù hợp 
 7 
 - Liệt kê những việc em sẽ làm. 
 - Sắp xếp các việc theo thứ tự thực hiện. 
 - Viết và trang trí bản kế hoạch. 
 Hướng dẫn học sinh cách sắp xếp và tổ chức: 
- Tôi hướng dẫn học sinh nên học cách sắp xếp sách vở và dụng cụ sao cho dễ 
dàng tiếp cận. 
- Giúp các em sắp xếp, ghi chú vào tài liệu học tập để dễ quản lý thông tin. 
Ví dụ: Thực hành sắp xếp đồ dùng của cá nhân và của lớp. 
- Sắp xếp lại sách vở, đồ dùng của em ở lớp. 
- Chia sẻ cảm xúc sau khi sắp xếp đồ dùng gọn gàng, ngăn nắp. 
 Khuyến khích độc lập: 
- Hỗ trợ học sinh tự kiểm tra việc hoàn thành bài tập và xác định mục tiêu cá nhân. 
- Khuyến khích học sinh thử giải quyết vấn đề và đưa ra câu hỏi khi các em gặp 
khó khăn. 
 Tạo sự tự tin: 
 Tôi luôn khen ngợi và động viên học sinh khi học sinh đạt được thành tích 
trong quá trình học tập luôn khích lệ học sinh tin tưởng vào khả năng của mình và 
khám phá sự hứng thú trong việc học hỏi. 
 8 
 Khen thưởng quà cho học sinh xuất sắc trong tháng 
 3.2. Biện pháp 2: Tổ chức dạy học theo hướng tích cực lấy học sinh làm 
trung tâm và xây dựng cho học sinh ý thức tự tin trong học tập 
 Trong những năm gần đây ngành giáo dục luôn đẩy mạnh việc đổi mới 
phương pháp dạy học lấy học sinh làm trung tâm đã phần nào thúc đẩy học sinh 
hoạt bát, dạn dĩ, thêm phần tự tin vào bản thân. Do đó, trong tiết học tôi luôn tạo 
một bầu không khí cởi mở thân thiện, cần tạo điều kiện cho HS được nói, được 
giao lưu, trình bày ý kiến trước nhóm, trước tập thể, động viên khuyến khích HS 
bày tỏ quan điểm cá nhân. Tôi coi trọng việc tổ chức cho học sinh hoạt động độc 
lập hoặc theo nhóm thông qua đó HS vừa tự lực nắm các tri thức, kĩ năng mới, 
đồng thời được rèn luyện về phương pháp tự học, được tập dượt phương pháp 
nghiên cứu. 
 Tổ chức dạy học theo hướng tích cực lấy học sinh làm trung tâm đòi hỏi 
người giáo viên phải làm cho học sinh biết tự học, tự vận dụng; Làm cho học sinh 
biết hợp tác và chia sẻ; Tận dụng sự hỗ trợ của phương tiện dạy học. Học kỹ năng 
thực hành và rèn thói quen thái độ học tập đúng đắn. 
 Trong phương pháp dạy học lấy học sinh làm trung tâm, GV quan tâm vận 
dụng vốn hiểu biết và kinh nghiệm của từng cá nhân và của tập thể HS để xây 
dựng bài học. 
 9 
 Đối với lớp 4 việc tổ chức dạy học theo hướng tích cực lấy học sinh làm 
trung tâm là điều rất quan trọng vì học sinh còn nhỏ nên ngay từ đầu năm học tôi 
phải rèn cho các em cách học và cách tự học. 
 3.3. Biện pháp 3: Xây dựng chương trình giảng dạy STEM hợp lí. 
 STEM là phương thức giáo dục tích hợp liên môn, trong đó các bài học 
được xây dựng theo chủ đề, nhằm lồng ghép kiến thức khoa học, công nghệ, kĩ 
thuật và toán học, hướng đến sự vận dụng kỹ thuật trong việc giải quyết các vấn 
đề cụ thể. Những kiến thức và kỹ năng trong chương trình giáo dục STEM phải 
được tích hợp, lồng ghép và bổ trợ cho nhau, giúp học sinh không chỉ hiểu biết về 
kiến thức cơ bản mà còn có thể áp dụng để thực hành và tạo ra được những sản 
phẩm trong cuộc sống hằng ngày. Mục tiêu quan trọng nhất là thông qua giáo dục 
khoa học, học sinh có khả năng sử dụng và liên hệ các kiến thức này để thực hành, 
đồng thời có tư duy vận dụng vào thực tiễn để giải quyết các vấn đề trong thực tế. 
 Tôi đã hướng dẫn học sinh quan sát và phân tích một vấn đề dưới nhiều góc 
độ thực tế. Bên cạnh đó đòi hỏi phải nắm được các hoạt động thực tế mà học sinh 
cần phải thực hiện. 
 + Hoạt động 1: Xác định vấn đề (yêu cầu thiết kế, chế tạo) 
 + Hoạt động 2: Nghiên cứu kiến thức nền và đề xuất các giải pháp thiết kế. 
 + Hoạt động 3: Chế tạo mô hình/ thiết bị theo phương án thiết kế và thử nghiệm. 
 + Hoạt động 4: Trình bày và thảo luận về sản phẩm được chế tạo; điều chỉnh 
thiết kế ban đầu. 
 Ví dụ: Trong tiết hoạt động trải nghiệm Stem Bài 13 Đèn lồng trung thu 
 Trong tiết học, các em đã chủ động đóng góp ý kiến, thống nhất cùng nhau 
lên ý tưởng thiết kế một chiếc đèn lồng trung thu theo cách của riêng nhóm mình 
dựa vào các tiêu chí của chiếc đèn lồng trung thu như: 
(1) Có đủ các bộ phận: khung đèn, đế đặt đèn, dây treo và tay cầm. 
(2) Được tạo thành từ các hình khối 
(3) Tỏa ánh sáng đẹp khi thắp sáng. 
 10 
 Hình ảnh học sinh cùng nhau phác thảo chiếc đèn lồng trunng thu 
 Các nhóm tích cực thảo luận, đưa ra ý kiến lựa chọn nguyên vật liệu, hình 
thức thiết kế và cách trang trí cho chiếc đèn lồng thêm lung linh, đẹp mắt hơn. Từ 
đó phát huy tối đa sự sáng tạo của mỗi học sinh, việc chủ động trong các hoạt 
động đã giúp phát triển ở các em năng lực tự học, tự giải quyết nhiệm vụ được 
giao, tình đoàn kết giữa các thành viên trong làm việc nhóm. 
 Đại diện các nhóm lên chia sẻ ý tưởng về chiếc đèn lồng trung thu của 
nhóm tự tin. 
 Học sinh tự tin chia sẻ về bản phác thảo của nhóm trong tiết dạy STEM 
 11 
 Sau khi đã có ý tưởng về việc thiết kế Đèn lồng trung thu, cả lớp được thực 
hành làm sản phẩm từ những nguyên liệu các nhóm đã chuẩn bị. Với đôi bàn tay 
khéo léo, sự phối hợp nhịp nhàng giữa các thành viên, các nhóm đã tạo ra những 
chiếc đèn lồng trung thu xinh xắn, đẹp mắt và phát ra ánh sáng đẹp khi thắp đèn. 
 Hình ảnh học sinh cùng nhau thử nghiệm sản phẩm 
 Qua hoạt động trải nghiệm này, học sinh được thực hiện làm đèn lồng trung 
thu phù hợp với bài học Đồ cơi dân gian trong môn Công nghệ lớp 4, đồng thời 
ôn lại một số kiến thức về ánh sáng trong môn Khoa học 4 để lựa chọn loại giấy 
phù hợp làm đèn lồng; kiến thức Toán học về hình khối trong chương trình Toán 
lớp 1 và lớp 4 để tạo hình cho đèn lồng. Ngoài ra, các em còn được thực hiện các 
kĩ năng vẽ, cắt, dán, trang trí .... của môn Mĩ thuật để làm cho chiếc đèn lồng thêm 
đẹp mắt, sáng tạo. 
 Điểm mới của giải pháp này là học sinh biết vận dụng các kiến thức của 
các môn học để giải quyết được thử thách Stem qua đó phát huy tính tích cực, chủ 
động, sáng tạo Stem, được giao tiếp, trình bày ý kiến cá nhân và nâng cao tinh 
thần đoàn kết trong nhóm. 
 3.4. Biện pháp 4: Thực hiện tiết sinh hoạt lớp sáng tạo, hiệu quả 
 Sinh hoạt lớp không chỉ đơn thuần là tổng kết đánh giá hoạt động học tập 
và rèn luyện của học sinh trong từng tuần, xây dựng kế hoạch tuần tiếp theo mà 
còn lồng ghép, tổ chức các hoạt động theo các chủ đề của từng tuần học để học 
 12 
sinh tham gia. Do đó, để tiết Sinh hoạt lớp có ý nghĩa và phát huy tối đa tính trải 
nghiệm, tôi thường tổ chức cho học sinh tham gia các hoạt động gắn với nội dung 
trải nghiệm theo gợi ý trong sách giáo khoa. Những nội dung đó có mối quan hệ 
chặt chẽ với các hoạt động được triển khai trong tiết Sinh hoạt dưới cờ đầu tuần. 
 Qua đó khơi dạy tính tích cực, chủ động sáng tạo, tinh thần hợp tác, trách 
nhiệm với bản thân và tập thể, giúp các em mạnh dạn, tự tin, nhận ra các điểm 
mạnh, khắc phục điểm yếu nhằm đáp ứng mục tiêu của Chương trình mới là tạo 
ra những con người Việt Nam phát triển hài hòa về thể chất và tinh thần, có những 
phẩm chất cao đẹp, có các năng lực chung và phát huy tiềm năng của bản thân. 
 Tiết sinh hoạt lớp tôi thường tổ chức thành 3 hoạt động: Nhận xét, đánh giá 
các hoạt động học tập và rèn luyện trong tuần; Đưa ra phương hướng trong tuần 
tới và sinh hoạt theo chủ điểm của từng tuần. 
 Ví dụ: Bài Sinh hoạt lớp tuần 2 lớp 4: Thực hiện giữ gìn trường học xanh, 
sạch, đẹp. 
 Để học sinh phát huy được tính mạnh dạn, tự tin vào mỗi tuần trong tiết 
sinh hoạt lớp, tôi tổ chức cho các em lên báo cáo kết quả trong tuần học. Các em 
biết tự tổng hợp kết quả và đưa ra các măt đã làm tốt, chưa làm tốt về các mảng: 
nền nếp tự quản, học tập, lao động, vệ sinh,.. Qua đó các em sẽ mạnh dạn, tự tin 
khi nhận xét bạn và tự hoàn chỉnh hành vi thông qua lời nhận xét của các bạn 
trong lớp. Các bạn trong lớp được đưa ra ý kiến cá nhân, góp ý để phát huy những 
ưu điểm, hạn chế những tồn tại trong tuần. 
 * Hoạt động 1: Đánh giá kết quả hoạt động tuần 2. 
 Lớp trưởng lên điều hành phần sinh hoạt cuối tuần: Đánh giá kết quả hoạt 
động cuối tuần. 
 Các tổ tự đánh giá kết quả kết quả hoạt động trong tuần. Tổ trưởng lần lượt 
lên báo cáo tình hình thực hiện nề nếp và học tập của các thành viên trong tổ. 
 Lớp trưởng nhận xét chung tình hình của cả lớp. 
 Giáo viên bổ sung ý kiến (nếu có), tuyên dương, khen thưởng. 
 * Hoạt động 2: Xây dựng kế hoạch tuần 3. 
 Lớp trưởng triển khai kế hoạch hoạt động tuần tới. 
 13 
 Các tổ thảo luận, nhận xét, bổ sung các nội dung trong kế hoạch. 
 GV nhận xét chung, thống nhất, và biểu quyết hành động. 
 * Hoạt động 3: Sinh hoạt theo chủ đề: Thực hiện giữ gìn trường học xanh, 
sạch, đẹp. 
 Giáo viên dành nhiều thời gian cho các em thực hiện giữ gìn trường học 
xanh, sạch, đẹp với dụng cụ cần thiết theo kế hoạch: găng tay, chổi, dụng cụ hốt 
rác, xẻng, bình tưới nước, 
 Các nhóm báo cáo việc chuẩn bị dụng cụ đã chuẩn bị. 
 Các nhóm thống nhất khu vực dọn dẹp vệ sinh. 
 Thực hành dọn dẹp tại khu vực lựa chọn. 
 Nêu cảm nhận, ý nghĩa của hoạt động. 
 Hình ảnh học sinh thực hiện giữ gìn trường học xanh, sạch, đẹp. 
 Theo quan điểm của bản thân tôi, có lẽ phần hoạt động sinh hoạt theo chủ 
đề là hoạt động mà thu hút được nhiều học sinh yêu thích nhất, tham gia sôi nổi, 
 14 
nhiệt tình bởi trong tiết học các em được học mà chơi, chơi mà học, phát huy tính 
chủ động, tự tin, tinh thần đoàn kết. Với mỗi một chủ đề khác nhau, tôi sẽ giúp 
các em lựa chọn cách thức thực hiện sao cho phù hợp như: trao đổi ý kiến trong 
các buổi tọa đàm, biểu diễn văn nghệ, thực hành làm sản phẩm, thực hành ứng xử, 
triển lãm tranh... phù hợp với yêu cầu của từng bài học. 
III. KẾT QUẢ VÀ ỨNG DỤNG 
 Kết quả 
 Qua một thời gian áp dụng những biện pháp trên, tôi đã nhận được những 
chuyển biến tích cực từ học sinh như sau: 
 Trong quá trình giao tiếp và học, tập học sinh mạnh dạn và tự tin chia sẻ ý 
kiến. Lớp học sôi nổi, tích cực, nhiều em còn rụt rè đã tích cực xung phong, tự tin 
chia sẻ ý kiến trước lớp. 
 Các em biết chia sẻ và giúp đỡ nhau trong học tập. 
 Đoàn kết giữa các thành viên trong nhóm và cả lớp. 
 Học sinh có hứng thú, tiếp thu bài nhanh. 
 Việc thực hiện các biện pháp trên cho thấy học sinh ham học hơn, học tập 
có tiến bộ, năng động hơn trong học tập cũng như sinh hoạt vui chơi. Hầu hết các 
em đã có ý thức tự học và biết tương tác trong học tập. Trong giao tiếp với bạn bè 
và thầy cô giáo, các em cũng khá tự tin mạnh dạn. Trong quá trình học tập ở lớp 
các em cũng đã chủ động khi thực hiện các nhiệm vụ học tập và chủ động nêu 
thắc mắc và tích cực phát biểu ý kiến trong giờ học. Ngoài ra các em cũng tự giác, 
tập trung cho các nhiệm vụ học tập hơn. 
 Để thấy được sự tiến bộ của học sinh, tôi đã tiến hành khảo sát, so sánh kết 
quả đầu năm học và thời điểm hiện tại (hết tháng 3/2024) cụ thể như sau: 
 Các phẩm chất, năng lực 
 Giao tiếp Hợp tác Đoàn kết 
 Tổng số 
 Lớp 4A Số Số Số 
 HS 
 lượng Tỉ lệ lượng Tỉ lệ lượng Tỉ lệ 
 HS HS HS 
 Trước 
 khi áp 35 12 34,2% 15 42,9% 18 51,4% 
 dụng 
 Sau khi 
 35 29 82,8% 30 85,7% 35 100% 
 áp dụng 
 15 
 Qua việc thực hiện các biện pháp trên, thời điểm hiện tại (hết tháng 3/2024), 
bản thân tôi nhận thấy các em có tiến bộ rõ rệt. Các em học sinh mạnh dạn, tự tin 
hẳn lên. Trong các phong trào các em luôn tham gia sôi nổi, nhiệt tình, không còn 
e dè, sợ sệt. Tự bản thân các em cảm thấy đủ tự tin để làm tốt công việc được giao. 
Đa số các em đều có ý thức tốt trong việc rèn luyện các kĩ năng, được thể hiện rõ 
qua: Việc sinh hoạt hằng ngày trên lớp, các em biết vận dụng những lời nói thân 
thiện vào thực tế, những lời chào, cảm ơn hay xin lỗi, những yêu cầu, đề nghị lịch 
sự,... đã trở thành thói quen được các em vận dụng hằng ngày. Các em rất hăng 
hái phát biểu trong các tiết học. Kết quả đó có được là do một phần các em đã có 
được sự tự tin vào bản thân mình. Phụ huynh học sinh rất vui mừng phấn khởi với 
kết quả này của lớp. 
 Ứng dụng: 
 Phạm vi áp dụng: Khi tôi thực hiện các biện pháp trên tại lớp 4A trường tôi 
kể từ đầu năm học cho đến thời điểm hiện tại (hết tháng 3/2024) đã mang lại 
những kết quả rất tốt, trên cơ sở đó có thể áp dụng rộng rãi cho toàn khối 4 trường 
tôi và có thể chia sẻ với các đồng nghiệp trên phạm vi toàn huyện và tỉnh Bắc 
Giang. 
 16 
 IV. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 
 Kết luận 
 Dạy học hướng tới người học nhằm hình thành và phát triển năng lực, phẩm 
chất cho học sinh tiểu học không phải thực hiện ngày một ngày hai mà có được. 
Để có được điều này đòi hỏi phải trải qua quá trình lâu dài, đòi hỏi phải có sự hỗ 
trợ đắc lực từ giáo viên, nhà trường và cả cộng đồng. Song song với việc dạy thì 
việc đổi mới cách đánh giá phải đáp ứng mục tiêu giáo dục, vì người học. Chính 
vì thế, trong quá trình đánh giá đòi hỏi giáo viên phải thường xuyên quan sát, theo 
dõi cá nhân học sinh, nhóm học sinh trong quá trình học tập để có nhận định, động 
viên hoặc gợi ý, hỗ trợ kịp thời đối với từng việc làm, từng nhiệm vụ của mỗi cá 
nhân hoặc cả nhóm. Đồng thời giáo viên còn phải quan sát từng học sinh để kịp 
thời đưa ra nhận định về một số biểu hiện về phẩm chất của học sinh. Từ đó động 
viên khích lệ, giúp học sinh khắc phục khó khăn, phát huy ưu điểm và các tố chất 
riêng, sửa chữa khuyết điểm để ngày càng tiến bộ. 
 Phải thường xuyên quan tâm công tác bồi dưỡng đội ngũ về mọi mặt, nâng 
cao khả năng tự chủ cho giáo viên, đồng thời phát hiện, động viên kịp thời những 
giáo viên có nhiều cách làm hay, sáng tạo; phải tạo điều kiện để giáo viên giỏi 
phát huy năng lực của mình trong việc giúp đỡ đồng nghiệp cùng đổi mới thành 
công. 
 Theo tôi phương pháp hay nhất là chúng ta hãy làm việc hết mình luôn 
quan tâm đến các em và tự đúc kết lại các kinh nghiệm cho bản thân để năm sau 
làm tốt hơn năm trước. Việc rèn luyện tính mạnh dạn, sự tự tin cho học sinh nhằm 
góp phần nâng cao chất luợng giáo dục. 
 Qua quá trình triển khai sáng kiến, tôi rút ra một số bài học kinh nghiệm 
sau đây: 
 - Những nội dung được triển khai trong đề tài có thể áp dụng cho việc nâng 
cao chất lượng trong dạy học và thực hiện công tác chủ nhiệm. 
 - Giáo viên cần phải quan tâm học sinh, tìm hiểu những biện pháp để giáo 
dục học sinh tốt hơn. 
 17 
 - Khi thực hiện sáng kiến, cần rút kinh nghiệm sau mỗi hoạt động để giáo 
dục học sinh. 
 - Một trong những kinh nghiệm quan trọng đó là giáo viên cần có các kĩ 
năng về công tác chủ nhiệm, hiểu biết và lựa chọn công cụ hợp lí để áp dụng và 
sử dụng trong quá trình xây dựng các biện pháp. 
 Kiến nghị 
 Nhà trường thường xuyên thực hiện hiệu quả các buổi sinh hoạt chuyên môn, 
khuyến khích giáo viên đầu tư trao đổi phương pháp dạy học, cùng thống nhất xây 
dựng kế hoạch bài học để phát huy sự tự tin và tinh thần đoàn kết cho học sinh. 
 18 
 V. TÀI LIỆU THAM KHẢO 
 - Quyển Dạy học tích hợp phát triển năng lực học sinh của NXB Đại học sư 
phạm. 
 Các SKKN về công tác chủ nhiệm lớp của các đồng nghiệp trong trường, 
trong huyện và trên mạng Internet. 

File đính kèm:

  • pdfnang_cao_su_tu_tin_va_tinh_than_doan_ket_cho_hoc_sinh_lop_4.pdf
Bài giảng liên quan