Một số kinh nghiệm giúp học sinh thực hiện tốt giải toán có lời văn theo bộ sách Cánh diều
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Một số kinh nghiệm giúp học sinh thực hiện tốt giải toán có lời văn theo bộ sách Cánh diều, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút TẢI VỀ ở trên
PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO YÊN THẾ TRƯỜNG TIỂU HỌC HƯƠNG VĨ MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH THỰC HIỆN TỐT GIẢI TOÁN CÓ LỜI VĂN LỚP 3 Họ và tên: Đào Thị Hòa Dạy môn: Văn hóa Chủ nhiệm: Lớp 3C Trường : Tiểu học Hương Vĩ Yên Thế, tháng 3 năm 2023 MỤC LỤC I - PHẦN MỞ ĐẦU 1 1. Lý do chọn sáng kiến 1 2. Mục đích nghiên cứu 2 3. Đối tượng nghiên cứu 2 4. Phương pháp nghiên cứu 2 II. NỘI DUNG CỦA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM 3 1. Cơ sở lý luận 3 2. Thực trạng của vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm 3 3. Các biện pháp đã thực hiện để giải quyết vấn đề. 5 Biện pháp 1. Trang bị quy trình cho các dạng bài tập 5 Biện pháp 2: Áp dụng trực tiếp quy trình giải các dạng toán. 15 Biện pháp 3: Ứng dụng việc giải các bài tập trong sách giáo khoa Toán 3 vào thực tiễn đời sống. 19 4. Hiệu quả của sáng kiến đối với hoạt động giáo dục 22 III. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 23 1. Kết luận 23 2. Kiến nghị 24 I - PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn sáng kiến Bậc Tiểu học là bậc học đặt nền móng trong quá trình hình thành và phát triển nhân cách học sinh. Mỗi môn học ở bậc học Tiểu học đều góp phần vào hình thành và phát triển những cơ sở ban đầu của nhân cách con người. Trong đó, môn Toán là môn học mà kiến thức và kĩ năng có nhiều ứng dụng vào cuộc sống thực tiễn, góp phần rèn luyện trí thông minh, sự nhanh nhạy trong tính toán. Để đáp ứng với sự phát triển của xã hội trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, thời kỳ công nghệ thông tin phát triển như hiện nay thì môn Toán càng có vai trò quan trọng, giúp người học hình thành nhân cách con người mới xã hội chủ nghĩa, làm việc khoa học, tiếp cận kịp thời với xu thế phát triển của thời đại. Bên cạnh đó, môn Toán còn hỗ trợ nhiều cho việc học tập các môn học khác ở bậc Tiểu học và là nền tảng cho việc học toán ở các bậc học trên. Trong nội dung chương trình môn toán, phần giải toán có lời văn là một mảng kiến thức có vị trí vô cùng quan trọng. Giúp học sinh củng cố kiến thức, kĩ năng giải toán. Đồng thời giáo viên dễ dàng phát hiện những ưu điểm, những thiếu sót trong kiến thức, kĩ năng của học sinh để giúp các em phát huy những ưu điểm, khắc phục những thiếu sót. Thông qua dạy học giải toán sẽ giúp học sinh hình thành và phát triển khả năng suy luận, lập luận và trình bày các kết quả theo một trình tự hợp lí làm cơ sở cho quá trình học toán ở các lớp cao hơn. Việc giải toán giúp học sinh luyện được những đức tính và phong cách làm việc của người lao động như ý thức vượt khó, tính cẩn thận, chu đáo, làm việc có kế hoạch, có kiểm tra kết quả cuối cùng. Đồng thời từng bước hình thành và rèn luyện thói quen về khả năng suy nghĩ, tính toán độc lập, khắc phục được tính rập khuôn, xây dựng được tính ham thích, tìm tòi, sáng tạo, phát triển tư duy,... giải toán còn là hoạt động gồm những thao tác như xác lập được mối quan hệ giữa các dữ liệu, giữa cái đã cho và cái phải tìm trong điều kiện của bài toán. Chọn được phép tính thích hợp, trả lời đúng câu hỏi của bài toán. Thực tế qua nhiều năm trực tiếp giảng dạy ở lớp 3, tôi nhận thấy học sinh khi giải các bài toán có lời văn thường chậm hơn so với các dạng bài tập khác. Các em thường lúng túng khi đặt câu lời giải cho phép tính, có nhiều em làm phép tính đúng nhưng không tìm được lời giải đúng hoặc đặt lời giải chưa phù hợp. Một số em mới chỉ đọc đề toán chứ chưa hiểu được đề. Khi trả lời câu hỏi của thầy nêu: Bài toán cho biết gì? Bài toán yêu cầu tìm gì? thì còn lúng túng hoặc trả lời chưa chính xác. Chính vì thế, bản thân tôi đã trăn trở tìm hiểu thực trạng về giải các bài toán có lời văn, tìm tòi nghiên cứu giải pháp, biện pháp thực hiện để nâng cao chất lượng dạy học. Xin được đưa ra “Một số kinh nghiệm giúp học sinh thực hiện tốt giải toán có lời văn theo bộ sách Cánh diều” để đồng nghiệp cùng tham khảo và chia sẻ kinh nghiệm. 2. Mục đích nghiên cứu Nhằm góp phần đổi mới phương pháp dạy học môn Toán ở Tiểu học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh đồng thời rèn kĩ năng giải toán có lời văn tốt hơn. 3. Nhiệm vụ nghiên cứu Nghiên cứu những vấn đề lí luận liên quan đến việc dạy và giải toán có lời văn lớp 3. Đề ra những giải pháp nhằm tiếp cận năng lực, giúp học sinh có hứng thú học tập môn Toán. 4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu Học sinh lớp 3C Nghiên cứu tài liệu có liên quan đến sáng kiến; Nghiên cứu chương trình toán lớp 3 nói chung và toán có lời văn lớp 3 nói riêng; Nghiên cứu cách dạy của giáo viên cùng khối. 5. Phương pháp nghiên cứu Phương pháp khảo sát điều tra; Phương pháp thống kê; Phương pháp quan sát; Phương pháp phân tích, tổng hợp; Phương pháp thực nghiệm sư phạm; Phương pháp tổng kết rút kinh nghiệm. II. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 1. Cơ sở lý luận Việc giải toán giúp học sinh củng cố, vận dụng và hiểu sâu sắc thêm tất cả các kiến thức về số học, đo lường, đo đại lượng, các yếu tố hình học,... trong chương trình toán lớp 3. Hơn nữa phần lớn các biểu tượng, khái niệm, các quy tắc, các tính chất toán học ở bậc Tiểu học đều được học sinh tiếp thu qua con đường giải toán. Thông qua nội dung thực tế của các đề toán, học sinh sẽ tiếp nhận được các kiến thức phong phú, đa dạng về cuộc sống. Từ đó có điều kiện để rèn luyện khả năng áp dụng các kiến thức toán đã học cho bản thân mình. Mỗi bài toán là một bức tranh của cuộc sống, khi giải mỗi bài toán học sinh phải biết rút ra từ bức tranh đó cái bản chất của toán học, phải biết lựa chọn những phép tính thích hợp, làm đúng các phép tính đó, biết đặt lời giải chính xác,...Vì thế quá trình giải toán sẽ giúp học sinh rèn luyện khả năng quan sát và giải quyết các hiện tượng của cuộc sống qua con mắt toán học của mình. Việc giải các bài toán sẽ giúp phát triển trí thông minh, óc sáng tạo và thói quen làm việc một cách khoa học cho học sinh. Bởi vì khi giải các bài toán, học sinh phải biết chú ý tập trung vào bản chất của đề toán, phải biết phân biệt giữa cái đã cho và cái phải tìm, biết phân tích để tìm ra mối quan hệ giữa các số liệu. Nhờ đó mà óc sáng tạo của các em sẽ linh hoạt hơn, tinh tế hơn, chính xác hơn, tư duy làm việc của các em sẽ khoa học, logic hơn,... Điều này không chỉ giúp các em học giỏi môn toán mà còn giúp các em học tốt ở tất cả các môn học khác. 2. Cơ sở thực tiễn. 2.1. Về phía Giáo viên Việc dạy học toán cho học sinh còn lệ thuộc nhiều vào sách giáo khoa và sách giáo viên. Chủ yếu cung cấp đủ số lượng các bài tập trong một tiết dạy, chưa chú trọng đi sâu vào việc phân tích, tổng hợp, tìm tòi cách giải bài toán, cách hướng dẫn học sinh từng bước giải. Còn hạn chế trong việc dẫn dắt học sinh quá trình tìm cái ẩn, mối quan hệ giữa cái đã biết và cái chưa biết, giữa các đại lượng,... để từ đó học sinh tìm được đường lối chung giải bài toán, tìm câu trả lời, thực hiện phép tính tương ứng. Một số giáo viên còn vận dụng chưa linh hoạt các phương pháp dạy học truyền thống nên việc chiếm lĩnh tri thức của học sinh chưa tích cực. 2.2. Về phía Học sinh Việc tiếp thu kiến thức của học sinh còn lệ thuộc vào người khác, ít động não suy nghĩ tìm tòi cái “ tiềm ẩn” chứa trong bài toán. Các khái niệm, quy tắc, công thức giáo viên đưa ra học sinh có nhiệm vụ ghi nhớ. Học sinh không chuẩn bị đúng mức để hoạt động độc lập, sáng tạo, luôn phụ thuộc vào người khác. Chính vì vậy mà đa số học sinh nắm kiến thức không vững, không sâu, không hiểu được bản chất của vấn đề chỉ biết rập khuôn theo mẫu một cách máy móc, nên có những bài toán chỉ khác mẫu đi một chút hoặc thay dự kiện là học sinh không làm được, nếu làm được thì kết quả cũng không chính xác. Mặt khác ngôn ngữ của các em còn hạn chế nên việc tìm lời giải cho bài toán còn gặp nhiều khó khăn; Học sinh đọc đề chưa kĩ, chưa có kỹ năng tìm hiểu đề nên hiểu đề chưa sâu, chưa nhận được dạng của bài toán, tóm tắt bài toán chưa đúng, hoặc chưa khoa học. Phần trình bày lời giải còn sai, chưa hợp lý. Giải xong bài không thử lại kết quả. Từ thực trạng trên đã dẫn đến kết quả học tập của học sinh chưa đạt như mong muốn. Tính hiệu quả trong dạy học chưa cao. Nhất là khi gặp những bài toán có lời văn, các em không giải quyết nỗi hoặc giải quyết không hợp lý. Qua việc chấm bài, trao đổi trực tiếp với học sinh, tôi phát hiện được những hạn chế phổ biến của học sinh trong giải toán: Có em đã biết giải đúng (đúng lời giải và phép tính tương ứng). Song có em chỉ thực hiện được phép tính đúng mà lời giải chưa phù hợp hay viết lời giải còn lủng củng, tối nghĩa, thậm chí có em hoàn toàn chưa biết giải bài toán dù là toán đơn hay toán hợp. Điều tra thực trạng tại lớp tôi cho thấy kết quả như sau: HS có lời giải và HS có lời giải và HS có phép HS chưa giải Tổng phép tính đúng, phép tính đúng, tính đúng mà được bài số trình bày khoa trình bày chưa lời giải chưa toán học khoa học hợp lý SL TL SL TL SL TL SL TL 33 10 em 30,3% 7 em 21,2% 8 em 24,2 8 em 24,2% em % Như vậy việc dạy và học giải toán có lời văn ở lớp 3 có vai trò cực kỳ quan trọng, đặc biệt là giải toán có đến 2 phép tính (vì đây là dạng toán các em mới tiếp cận). Vì thế để giúp học sinh biết giải toán đúng, giáo viên phải đặt ra yêu cầu cho học sinh đó là biết tìm hiểu đề toán, biết tóm tắt bài toán, biết tìm cách giải và hơn nữa là biết tìm lời giải phù hợp và cuối cùng là biết tự đánh giá kết quả. 3. Các biện pháp đã thực hiện để giải quyết vấn đề. Để giúp học sinh lớp 3 biết giải toán có lời văn trong sách giáo khoa toán 3 và các bài toán phát triển dựa trên các bài toán đã cho để vận dụng giải các bài toán trong thực tế đời sống, tôi mạnh dạn đưa ra một số biện pháp như sau: Biện pháp 1: Trang bị quy trình cho các dạng bài tập 1.1. Cung cấp quy trình chung để giải các bài tập theo 4 bước cơ bản sau đây 1.1.1. Tìm hiểu đề toán Yêu cầu học sinh đọc thật kĩ đề toán. Đây là một bước quan trọng không thể thiếu được trong dạy học toán. Ở bước này giáo viên giúp học sinh tiếp cận với nội dung bài toán, khắc phục khó khăn về ngôn ngữ, biết diễn đạt ngôn ngữ bằng kí hiệu đặc biệt, sau đó xác định 3 yếu tố cơ bản của bài toán: Dữ kiện (là cái đã cho, đã biết trong đề toán) Ẩn số (là cái chưa biết, cần tìm) Điều kiện (là mối quan hệ giữa sự kiện và ẩn số) Như vậy, ngay từ bước đầu đã bắt buộc học sinh phải phát huy tính linh hoạt của tư duy, sau bước này học sinh tóm tắt được bài toán bằng cách ghi các dữ kiện, điều kiện, ẩn số bằng ngôn ngữ hoặc ký hiệu ngắn gọn, cô đọng nhất. Ví dụ 1: Hà có 12 chiếc kẹp tóc gắn hoa, 8 chiếc kẹp tóc gắn nơ. Hỏi Hà có số kẹp tóc gắn hoa nhiều hơn số kẹp tóc gắn nơ mấy chiếc? (bài 5 trang 9 sách Cánh diều 3 tập 1) Ví dụ 2: Ngày thứ nhất đội công nhân làm được 457 m đường, ngày thứ hai đội công nhân đó làm được nhiều hơn ngày thứ nhất 125m đường. Hỏi ngày thứ hai đội công nhân đó làm được bao nhiêu mét đường? (bài 4 trang 8 sách Cánh diều 3 tập 1) 1.1.2. Tìm đường lối giải Bước này là bước quan trọng nhất, việc nắm vững nội dung đặc biệt là ba yếu tố cơ bản của bài toán, là yêu cầu đầu tiên khi học sinh tìm hiểu bài toán. Khi đó xuất hiện các hiện tượng yêu cầu học sinh phải tư duy tích cực, phân tích, sàng lọc từ đó tìm ra phương pháp giải quyết bài toán. Ở bước này giáo viên có nhiệm vụ hướng dẫn học sinh phân tích, sàng lọc nhằm loại bỏ các yếu tố thừa, các trường hợp không cơ bản đối với việc giải toán. Vì vậy giáo viên cần hướng dẫn cho học sinh tìm đường lối giải như sau: Cần xem bài toán này thuộc dạng mẫu hay dạng điển hình nào ? Xét xem bài toán đã cho có tương tự bài toán đã biết cách giải hay không ? Hãy phân tích bài toán đã cho thành các bài toán đơn (nếu là toán hợp) bằng phương pháp suy luận từ cuối. Ví dụ: Thùng thứ nhất đựng 18 lít dầu, thùng thứ hai đựng nhiều hơn thùng thứ nhất 6 lít dầu. Hỏi cả hai thùng đựng được bao nhiêu lít dầu? - Bước 1: Thùng thứ nhất đựng 18 lít dầu, thùng thứ hai đựng nhiều hơn thùng thứ nhất 6 lít dầu. Hỏi thùng thứ hai đựng bao nhiêu lít dầu? - Bước 2: Thùng thứ nhất đựng 18 lít dầu, thùng thứ hai đựng 24 lít dầu. Hỏi cả hai thùng đựng bao nhiêu lít dầu? Có thể minh họa bằng sơ đồ sau: Bước 1 Bước 2 1.1.3. Trình bày bài giải Nội dung của bước này là đi ngược lại bước 2, đi từ cái đã cho đến cái phải tìm. Mỗi phép tính phải ghi câu lời giải kèm theo. Cuối cùng ghi đáp số để trả lời đúng cho câu hỏi của bài toán. Bài giải Số lít dầu ở thùng thứ hai là: 18 + 6 = 24 (l) Số lít dầu cả hai thùng là: 18 + 24 = 42 (l) Đáp số: 42 lít dầu 1.1.4. Kiểm tra, đánh giá Đây cũng là bước quan trọng, Sau khi tiến hành song 3 bước học sinh hay bỏ qua bước này. Vì thế nên có những học sinh làm xong bài giáo viên hỏi: “ Em có tin chắc rằng kết quả bài của mình đúng không ?” thì một số em còn lúng túng. Vì vậy yêu cầu cần đạt được là phải làm sao phát huy được tinh thần trách nhiệm và lòng tin vào kết quả tìm được. Đánh giá kết quả là động lực thúc đẩy các em cố gắng tìm ra cách giải khác nhau để thực hiện yêu cầu bài toán. Kiểm tra là nhằm phát hiện những sai sót nhầm lẫn trong quá trình tính toán, suy luận. Sau khi giải xong bài toán, giáo viên cần khuyến khích học sinh Bằng cách Hỏi: Em có thể giải bài toán bằng cách khác được không ? Từ bài toán này rút ra được kinh nghiệm, nhận xét. Đặt ra được cách giải bài toán khác như thế nào? Giải quyết chúng ra sao? 1.2. Vận dụng quy trình chung để giải các bài toán ở mỗi dạng: Để giúp học sinh biết vận dụng quy trình giải toán có lời văn ở mỗi dạng trong SGK toán 3. Tôi chọn một số ví dụ điển hình cho dạng đang đề cập tới: Dạng 1: Bài toán giải bằng hai phép tính Ví dụ 1: (Bài số 4 trang 39 sách Cánh Diều tập 1) Nhím con giúp mẹ mang 18 quả táo về nhà. Mỗi chuyến nhím con mang được 3 quả táo. Hỏi nhím con phải đi mấy chuyến để mang hết số táo về nhà? Dụng ý của bài tập này nhằm giúp học sinh vận dụng tri thức vừa học, lý thuyết mà giáo viên vừa cung cấp thông qua luyện tập thực hành rèn kĩ năng giải toán. Cách rèn luyện: Để học sinh vận dụng linh hoạt và có sáng tạo cách giải đúng, biết trình bày bài giải giáo viên cần giúp học sinh thấy được phần trừu tượng của bài toán. Tìm số chuyến đi để mang hết táo về nhà, thực hiện phép tính 18 : 3 = 6, cuối cùng ghi tên đơn vị vào sau kết quả. Ở phần này, nếu giáo viên không giúp thì sẽ có một số học sinh dễ nhầm lẫn phép tính cộng. Vậy để các em giải đúng theo quy trình đã hướng dẫn, các em làm theo 4 bước sau: - Bước 1: Tìm hiểu đề (Học sinh đọc thật kĩ đề toán) Hỏi: Bài toán cho biết gì? (Nhím có 18 quả táo, mỗi chuyến nhím chuyển được 3 quả táo.) Hỏi: Bài toán hỏi gì? (Nhím con phải đi mấy chuyến để mang hết số táo về nhà?) Học sinh tóm tắt. - Bước 2: Tìm đường lối giải Muốn tìm số chuyến để mang hết táo về nhà ta phải làm như thế nào? Học sinh thực hiện phép tính (18 : 3 = 6) - Bước 3: Trình bày bài giải Bài giải Số chuyến đi để mang hết táo về nhà là: 18 : 3 = 6 Đáp số: 6 chuyến - Bước 4: Kiểm tra, đánh giá Thử lại: 18 : 3 = 6 ; 6 3 = 18, 18 : 3 = 6 (đúng) Dựa vào bài toán trên (VD1), tôi có thể thay đổi dữ kiện để biến đổi thành một số bài toán mới nhằm phát triển được kỹ năng giải toán, kĩ năng vận dụng, kĩ năng suy nghĩ linh hoạt của học sinh để hình thành kĩ xảo giải toán. Bài toán mới: Nhím con giúp mẹ mang 20 quả táo về nhà. Mỗi chuyển nhím con mang được 4 quả táo. Hỏi nhím con phải đi mấy chuyến để mang hết số táo về nhà? Ví dụ 2: (Bài số 4 trang 43 sách Cánh Diều tập 1) Anh Hưng nuôi 48 con chim bồ câu trong các chuồng, mỗi chuồng có 6 con. Hỏi anh Hưng có bao nhiêu chuồng chim bồ câu? Dụng ý của bài tập này: Giúp học sinh biết thao tác giải toán theo các bước giải, biết trình bày bài giải đúng, nhanh, chính xác. Học sinh nhận diện bài toán thuộc dạng toán nào? (Dạng toán phép chia 6). So với các bài toán đã giải bài toán này có điểm nào giống nhau? (Số “hiện có”; số “lấy ra” là 2 thuật ngữ mang nghĩa toán học tương đương mà ở đây đều được chọn là phép tính chia). Anh Hưng nuôi 48 con chim bồ câu trong các chuồng, mỗi chuồng có 6 con. Hỏi anh Hưng có bao nhiêu chuồng chim bồ câu? - Bước 1: Học sinh đọc kĩ đề toán, phân tích đề, tóm tắt bài toán. Tóm tắt: Có mấy chim bồ câu? (48 con) Mỗi chuồng có: 6 con - Bước 2: Tìm đường lối giải Hỏi: Muốn tìm số chuồng chim bồ câu ta phải làm như thế nào? (HS chọn phép tính và thực hiện: 48 : 6 = 8 (chuồng) ) (HS thực hành trên giấy nháp) - Bước 3: Trình bày bài giải Bài giải Số chuồng chim bồ câu là : 48 : 6 = 8 (chuồng) Đáp số: 8 chuồng. - Bước 4: Thử lại: 48 : 6 = 8; 8 6 = 48; 48 : 6 = 8 (đúng) Như vậy qua ví dụ 2 học sinh đã biết vận dụng quy trình giải bài toán có đầy đủ câu lời giải, phép tính tương ứng đúng theo 2 bước giải. Dạng 2: Giải các bài toán có nội dung hình học Các bài toán trong dạng này dụng ý nhằm giúp các em biết cách giải bài toán có liên quan về hình học. Thông qua rèn luyện thực hành để phát triển năng lực học toán, giải được các bài toán trong SGK và trong đời sống thực tiễn (về cách tính chu vi của một số hình học). Ví dụ 1: (Bài số 1, trang 111 sách Cánh Diều tập 1) Một hình chữ nhật có chiều dài 5m, chiều rộng 2m. Tính chu vi hình chữ nhật đó? Dụng ý của bài toán này: Nhằm vận dụng quy tắc tính chu vi hình chữ nhật cho học sinh; Học sinh thành thạo giải toán thông qua luyện tập thực hành; hiểu được mối quan hệ giữa các đơn vị đo. - Bước 1: Tìm hiểu đề: Học sinh đọc kĩ đề toán Hỏi: Bài toán cho biết những gì? (Số đo của các cạnh, chiều dài: 5m; chiều rộng: 2 m) Hỏi: Bài toán yêu cầu gì? (Tính chu vi hình chữ nhật đó) Tóm tắt: Chiều dài: 5 m Chiều rộng: 2 m Chu vi hình chữ nhật: ...? m - Bước 2: Tìm đường lối giải Hỏi: Muốn tính được chu vi của hình chữ nhật (HCN) ta làm thế nào? (lấy số đo chiều dài cộng với số đo chiều rộng rồi nhân với 2) lưu ý cùng một đơn vị đo. Từ công thức tính chu vi hình chữ nhật (a + b) × 2, giáo viên có thể giúp học sinh vận dụng thành thạo cách tính và tìm lời giải đúng, chính xác, phù hợp với yêu cầu của đề toán đặt ra. - Bước 3: Trình bày bài giải Bài giải Chu vi hình chữ nhật đó là (5 + 2) 2 = 14 (m) Đáp số: 14m - Bước 4: Thử lại : (5 + 2) 2 = 14; 10 + 4 = 14 7 2 = 14 (đúng) Dựa vào bài toán trên tôi có thể phát triển thành các bài toán mới bằng cách thay đổi dữ kiện bài toán (hoặc giả thiết). Bài toán 1: Cái sân nhà em có chiều dài 12m, chiều rộng bằng 9m. Tính chu vi cái sân đó? Bài toán 2: Mảnh vườn nhà em hình chữ nhật có chiều dài 30m, chiều rộng bằng chiều dài. Tính chu vi của mảnh vườn đó? Từ bài toán giải bằng một phép tính biến đổi thành bài toán giải bằng hai phép tính. Ví dụ 2: (Bài số 3b, trang 112 sách Cánh Diều tập 1) Tính chu vi mảnh vườn có dạng hình vuông với độ dài cạnh là 8m. Dụng ý của bài tập này: Nhằm giúp học sinh thành thạo trong việc áp dụng công thức tính chu vi hình vuông thông qua luyện tập giải toán, học sinh biết được mối quan hệ đo độ dài (hơn, kém nhau bao nhiêu đơn vị). - Bước 1: Tìm hiểu đề Cho học sinh đọc thật kĩ đầu bài toán. + Bài toán đã cho biết cái gì? (Cạnh của mảnh vườn là 8m). + Bài toán yêu cầu tìm gì? (chu vi của mảnh vườn). Muốn tìm chu vi hình vuông ta phải làm như thế nào? (Ta lấy độ dài một cạnh nhân với 4), học sinh thực hiện phép tính nhân 8 4 = 32 (m). - Bước 2: Tìm đường lối giải Biết cạnh của hình vuông (mảnh vườn) là 8 m. Yêu cầu tính chu vi mảnh vườn hình vuông - Bước 3: Trình bày bài giải Bài giải Chu vi của mảnh vườn hình vuông là: 8 4 = 32 (m) Đáp số: 32 m - Bước 4: Thử lại: 8 4 = 32 ; 32 : 4 = 8; 8 4 = 32 ( đúng) Dạng 3. Bài toán liên quan đến rút về đơn vị Các bài toán ở dạng này giúp học sinh biết cách giải các bài toán liên quan đến rút về đơn vị. Từ đó rèn luyện học sinh kĩ năng thành thạo giải được các bài toán trong SGK Toán 3 và trong thực tiễn cuộc sống. Ví dụ 1: (bài 5b trang 96 sách Cánh Diều tập 1) Người ta xếp 800 hộp sữa thành các dây, mỗi dây 4 hộp. Sau đó, xếp các dãy sữa vào các thùng, mỗi thùng 5 dãy sữa. Hỏi người ta xếp được bao nhiêu thùng sữa? Dụng ý bài tập này: Nhằm giúp học sinh nắm được quy trình giải sau khi đã lĩnh hội tri thức vừa học xong. Thông qua luyện tập thực hành rèn luyện kĩ năng giải toán, hoặc từ một bài toán đã cho biến đổi thành các bài toán mới - Bước 1: Tìm hiểu bài toán (Học sinh đọc thật kỹ bài toán) Hỏi: Bài toán đã cho biết gì? (Xếp 800 hộp sữa thành các dây, mỗi dây 4 hộp, mỗi thùng 5 dây sữa) Hỏi: Bài toán yêu cầu chúng ta tìm cái gì? (người ta xếp được bao nhiêu thùng sữa?) Tóm tắt: 800 hộp sữa có : dây sữa Có thùng sữa ? - Bước 2: Tìm đường lời giải Muốn tìm được 800 hộp sữa xếp thành bao nhiêu dây, trước hết ta phải tìm gì? (tìm xem mỗi dây đựng bao nhiêu hộp). Bước này gọi là bước rút về đơn vị. Học sinh chọn phép tính và thực hiện phép tính: 800 : 4 = 200 (dây sữa) Đã biết mỗi thùng đựng 5 dây sữa thì cần bao nhiêu thùng sữa để đựng hết 200 dây sữa ta phải làm như thế nào? (HS thực hiện phép tính nhân 200 : 5 = 40 (thùng). - Bước 3: Trình bày bài giải Bài giải Số dây sữa có là: 800 : 4 = 200 (dây) Số thùng sữa cần để chứa 200 dây sữa là: 200 : 5 = 40 (thùng) Đáp số: 40 thùng sữa - Bước 4: Thử lại : 800 : 4 = 200 ; 4 200 = 800 ; 800 : 4 = 200 (đúng) 200 : 5 = 40 ; 40 x 5 = 200 ; 200 : 5 = 40 (đúng) Bài toán mới: Một nhà trường cần lát 9 phòng học như nhau hết 3825 viên gạch. Hỏi muốn lát 11 phòng học như thế thì hết bao nhiêu viên gạch? Biện pháp 2: Áp dụng trực tiếp quy trình giải các dạng toán. Dạng 1: Bài toán giải bằng hai phép tính Ví dụ 1: (Bài 2, trang 85 sách Cánh Diều tập 1) Bài toán: Anh sưu tập được 35 vỏ ốc, em sưu tập được ít hơn anh 16 vỏ ốc. Hỏi cả hai anh em sưu tập được bao nhiêu vỏ ốc? Dụng ý bài tập này: yêu cầu tất cả học sinh đều giải được. Giáo viên yêu cầu học sinh thực hiện trên giấy pháp, sau đó cho 1 học sinh trình bày bài giải theo 4 bước (quy trình giải) - Bước 1: Tìm hiểu đề toán (Học sinh đọc kĩ đề toán, phân tích đề toán, tóm tắt (sơ đồ đoạn thẳng) mô tả nội dung bài toán) Tóm tắt Anh có: 35 vỏ ốc Em có: ít hơn anh 16 vỏ ốc Hỏi: 2 anh em có bao nhiêu vỏ ốc - Bước 2: Tìm đường lối giải Tìm số vỏ ốc của em (Chọn phép tính và thực hiện phép tính đúng: 35 - 16 = 19 (vỏ ốc)) Tìm số tấm bưu ảnh của 2 anh em. (HS chọn phép tính và thực hiện phép tính đúng: 35 + 19 = 54 (vỏ ốc)) - Bước 3: Trình bày bài giải Bài giải Em có số vỏ ốc là: 35 - 16 = 19 (vỏ ốc) Số vỏ ốc của cả hai anh em là: 35 + 19 = 54 (vỏ ốc) Đáp số: 54 vỏ ốc - Bước 4: Thử lại: 35 - 16 = 19; 19 + 16 = 35 35 - 16 = 19 (đúng) 35 + 19 = 54; 54 - 19 = 35 35 + 19 = 54 (đúng) Từ bài toán trên, để học sinh nêu được và giải được bài toán theo sơ đồ, tôi có thể gợi ý cho học sinh nêu 2 bài toán đơn sau đó tổng hợp lại sẽ có bài toán hợp. Mục đích để mỗi học sinh đều được hoạt động. Dạng 2: Giải các bài toán có nội dung hình học Để các em nắm vững kiến thức và thành thạo trong việc giải các bài toán liên quan đến yếu tố hình học trong chương trình toán 3 cũng như trong đời sống thực tiễn tôi đưa ra một số bài tập để rèn kĩ năng giải toán cho các em từ đó phát triển tư duy sáng tạo, trí tưởng tượng bước đầu về hình học tạo đào cho học sinh tiếp tục học ở các lớp trên tốt hơn. Ví dụ 1: (Bài 2a, trang 111 sách Cánh Diều tập 1) Tính chu vi hình chữ nhật có: a/ Chiều dài: 12 m, chiều rộng: 8m Dụng ý bài tập này nhằm giúp học sinh củng cố kiến thức áp dụng quy tắc, công thức để tính chu vi của hình chữ nhật với kích thước cho trước. Để giúp học sinh giải các bài toán theo 4 bước tôi gợi ý theo các yếu tố sau: - Bước 1: Tìm hiểu đề (Học sinh đọc kĩ đề bài để nắm dữ kiện bài toán đã cho) a/ Chiều dài: 12m; chiều rộng: 8m Cái phải tìm: Chu vi - Bước 2: Tìm đường lối giải a/ Áp dụng công thức: Học sinh thực hiện phép tính: (12 + 8) × 2 = 40(m) - Bước 3: Trình bày bài giải Bài giải a. Chu vi hình chữ nhật là (12 + 8) × 2 = 40 (m) Đáp số: 40m Thử lại: (12 + 8) × 2 = 40; 40 : 2 = 20; 20 × 2 = 40 (đúng) - Bước 4: Học sinh tự kiểm tra việc tính toán của mình Yêu cầu tất cả học sinh đều giải được. Dạng 3: Bài toán liên quan đến rút về đơn vị Để học sinh có kĩ năng giải các bài toán này được thành thạo tôi đưa ra một số bài tập để rèn kĩ năng giải toán cho các em được tốt hơn. Ví dụ : (Bài 3, trang 6 sách Cánh Diều tập 2) Bài toán: Mỗi quả dứa ép được 200ml nước. Hỏi chị Lan ép 8 quả dứa như thế thì được bao nhiêu mi-li-lít nước dứa? Mỗi quả dứa ép được 200ml nước. Hỏi chị Lan ép 8 quả dứa như thế thì được bao nhiêu mi-li-lít nước dứa? - Bước 1: Bài toán cho biết gi? ( mỗi quả dứa ép được 200ml nước) Bài toán yêu cầu tìm gì? (8 quả dứa ép được bao nhiêu ml nước) - Bước 2: Bài giải Số ml nước ép trong 8 quả dứa là: 200 x 8 = 1600 (ml) Đáp số: 1600 ml nước ép - Bước 3: Thử lại: 200 x 8 = 1600; 1600 : 8 = 200; 200 x 8 = 1600 (ml) Từ bài toán trên tôi có thể thay đổi dự kiện để biến đổi thành bài toán mới Bài toán mới: Mỗi quả lựu ép được 100ml nước. Hỏi chị Lan ép 8 quả lựu như thế thì được bao nhiêu mi-li-lít nước lựu? Biện pháp 3: Ứng dụng việc giải các bài tập trong sách giáo khoa Toán 3 vào thực tiễn đời sống. Để rèn luyện kĩ năng giải toán thành kĩ xảo giải toán cho học sinh tôi đã lựa chọn một số bài tập mang tính điển hình cho mỗi dạng toán có lời văn trong SGK Toán 3 cũng như bài toán trong thực tiễn đời sống nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các em trong cách học môn Toán khoa học hơn, đặc biệt là với những học sinh có năng khiếu học toán là cơ hội để bộc lộ tài năng của mình. Dạng 1: Các bài toán giải bằng hai phép tính Ví dụ 1: (Bài 4, trang 82 sách Cánh Diều tập 2) Có 1 690 thùng hàng cần chuyển đến các siêu thị. Người ta đã vận chuyển được 4 chuyển, mỗi chuyển 218 thùng hàng. Hỏi còn bao nhiêu thùng hàng chưa được chuyển đi? Đây là bài toán hợp có yếu tố số học, học sinh trình bày 2 cách Cách 1: Bài giải: Số thùng hàng đã vận chuyển được 4 chuyến là: 218 x 4 = 872 (thùng) Số thùng hàng chưa được chuyển đi là: 1 690 - 872 = 818 (thùng) Đáp số: 818 thùng Cách 2: Bài giải: Số thùng hàng chưa được chuyển đi là là 1 690 - (218 x 4) = 818 (thùng) Đáp số: 818 thùng Dựa vào bài toán trên tôi có thể phát triển thành các bài toán mới bằng cách thay đổi dữ kiện bài toán. Bài toán mới: Nhân ngày 20/11, hai chị em Hoà và Cúc rủ nhau hái hoa để tặng cô giáo. Hoà hái được 18 bông hoa. Cúc hai được số hoa bằng số hoa của Hoà. Hỏi hai bạn hái được bao nhiêu hoa? Tương tự học sinh giải bài toán này được thực hiện bằng một phép tính chia và một tính cộng (18 : 3 = 6); (18 + 6 = 24) danh số được ghi sau kết quả phép tính là “bông”. Dạng 2: Giải các bài toán liên quan hình học Ví dụ 1: (Bài 3a, trang 112 sách Cánh Diều tập 1) Tính chu vi tấm lưới thép hình chữ nhật có chiều dài là 10m, chiều rộng là 2 m. HS vận dụng giải các bài toán theo 4 bước như trên - Bước 1: Học sinh đọc kĩ đề toán, phân tích đề toán, tóm tắt (sơ đồ đoạn thẳng) mô tả nội dung bài toán. - Bước 2: Tìm đường lối giải - Bước 3: Trình bày bài giải Bài giải Chu vi tấm lưới hình chữ nhật (10 + 2) × 2 = 24 (m) Đáp số: 24 m - Bước 4 : Thử lại Bài toán mới: Mảnh vườn trồng ngô nhà em có chiều dài bằng 450m, chiều rộng bằng chiều dài. Tính chu vi mảnh vườn đó. Dạng 3: Các bài toán liên quan đến rút về đơn vị Bài toán: Có 24 viên thuốc chứa đều trong 4 vỉ. Hỏi 3 vỉ thuốc đó có bao nhiêu viên thuốc? Dụng ý bài tập này giúp học sinh vận dụng quy tắc để giải đúng bài toán theo 4 bước giải. - Bước 1: Học sinh đọc kĩ bài toán, xác định được đây là dạng toán liên quan đến rút về đơn vị. - Bước 2: Học sinh chọn phép tính và thực hiện phép tính: 24 : 4 = 6 (viên) 3 vỉ như thế thì có bao nhiêu viên? (HS thực hiện phép tính: 3 6 = 18 (viên) - Bước 3: Trình bày bài giải Bài giải Số viên thuốc trong mỗi vỉ là: 24 : 4 = 6 (viên) 3 vỉ thuốc có số viên là: 3 6 = 18 (viên) Đáp số: 18 (viên) - Bước 4: Thử lại 24 : 4 = 6; 6 4 = 24; 24 : 4 = 6 (đúng)
File đính kèm:
mot_so_kinh_nghiem_giup_hoc_sinh_thuc_hien_tot_giai_toan_co.pdf



