Biện pháp rèn kĩ năng giải toán có lời văn cho học sinh lớp 4

pdf6 trang | Chia sẻ: Chan Chan | Ngày: 10/02/2026 | Lượt xem: 5 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Biện pháp rèn kĩ năng giải toán có lời văn cho học sinh lớp 4, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút TẢI VỀ ở trên
 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM 
 Độc lập - Tự do - Hạnh phúc 
 THUYẾT MINH MÔ TẢ GIẢI PHÁP 
 1. Tên sáng kiến: “Biện pháp rèn kĩ năng giải toán có lời văn cho học sinh 
lớp 4”. 
 2. Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu hoặc áp dụng thử: 01/12/2019. 
 3. Các thông tin cần bảo mật: Không 
 4. Mô tả các giải pháp cũ thường làm 
 Trong dạy - học toán ở tiểu học, việc giải toán có lời văn chiếm một vị trí 
quan trọng, chiếm phần lớn lượng thời gian trong học toán của học sinh. Việc giải 
thành thạo các bài toán là một trong những tiêu chuẩn để đánh giá khả năng học 
toán của mỗi học sinh. 
 Qua thống kê phân loại bài làm của học sinh cho thấy một số hạn chế: 
 - Một số em giải toán có lời văn chậm, lúng túng trong việc chọn câu lời giải. 
 - 1 số em còn gặp khó khăn khi hình thành phép tính. 
 - Học sinh chưa biết giải toán có lời văn chiếm tỉ lệ cao so với tổng số học 
sinh trong lớp. 
 Do các nguyên nhân: 
 - Tư duy của học sinh thiếu linh hoạt, nắm kiến thức bằng việc tiếp thu qua 
mẫu, nhiều khi không đầy đủ. Suy luận thường máy móc hay dựa vào tương tự, 
căn cứ vào các dấu hiệu bên ngoài. 
 - Khi giải toán trong một chừng mực nào đó các em có thể giải được một bài 
toán theo hình thức “bắt chước”, theo mẫu đã có sẵn nhưng thường sai lầm khi tính 
toán. 
 - Khi giải toán các em thường vội vàng, hấp tấp không chịu đọc kỹ đề toán. 
Học sinh thường nhầm lẫn giữa câu hỏi và lời giải. Còn nhiều học sinh không xác 
định được đơn vị kèm theo kết quả tính. 
 5. Sự cần thiết phải áp dụng giải pháp sáng kiến: 
 Trong giải toán, học sinh phải tư duy một cách tích cực và linh hoạt, huy 
động tích cực các kiến thức và khả năng đã có vào tình huống khác nhau, trong 
nhiều trường hợp phải biết phát hiện những dữ kiện hay điều kiện chưa được nêu 
ra một cách tường minh và trong chừng mực nào đó, phải biết suy nghĩ năng động, 
sáng tạo. Vì vậy có thể coi giải toán có lời văn là một trong những biểu hiện năng 
động nhất của hoạt động trí tuệ của học sinh. 
 6. Mục đích của giải pháp sáng kiến (Nêu rõ mục đích khắc phục các 
nhược điểm của giải pháp cũ hoặc mục đích của giải pháp mới do mình tạo ra): 
 Sáng kiến: “Biện pháp rèn kĩ năng giải toán có lời văn cho học sinh lớp 4”. 
 Để làm tốt công tác giảng dạy giải toán có lời văn cho học sinh nhằm đạt chỉ 
tiêu giáo dục của nhà trường đồng thời để xây dựng kế hoạch dạy học theo phân 2 
hóa môn Toán. Tôi đã kiểm tra phân loại học sinh theo khả năng giải toán có lời 
văn của các em học sinh lớp 4A năm học 2019 – 2020. 
 7. Nội dung: 
 7.1. Thuyết minh giải pháp mới hoặc cải tiến 
 Hình thành thói quen khi giải toán xác định 3 thành phần của bài toán 
 Ba thành phần cơ bản của một bài toán là: 
 - Các dữ kiện 
 - Các ẩn số 
 - Các điều kiện 
 Với các bài toán đơn chỉ có 2 thành phần là: Dữ kiện và ẩn số. 
 Từ 3 thành phần cơ bản trên ta thấy: 
 - Những dữ kiện là cái đã cho, đã biết trong đề bài. 
 - Những ẩn số là những cái chưa biết mà ta cần phải tìm. 
 - Những điều kiện là mối quan hệ (toán học) đã cho giữa các điều 
kiện và các ẩn số. 
 Ví dụ: Một hình chữ nhật có chiều rộng 16m, chiều dài hơn chiều rộng 8m. 
Tính chu vi hình chữ nhật đó. 
 Tóm tắt: Chiều rộng:16 m 
 Chiều dài: hơn chiều rộng 8 m 
 Chu vi: ....mét? 
 Nhận xét: Nhìn vào tóm tắt ta thấy trong bài có: 
 + Dữ kiện: Có 2 dữ kiện là 16m (thể hiện chiều rộng dài 16m) và 8m 
(thể hiện chiều dài hơn chiều rộng 8m); 
 + Ẩn số của bài toán là chu vi của hình chữ nhật; 
 + Những điều kiện trong bài toán có 1 mối quan hệ là: Chiều dài hơn 
chiều rộng 8 m (quan hệ hơn, kém nhau một số đơn vị, cụ thể là 8 m) 
 Bài giải 
 Chiều dài của hình chữ nhật là: 
 16 + 8 = 24 (m) 
 Chu vi của hình chữ nhật là: 
 (16 + 24) × 2 = 80 (m) 
 Đáp số: 80m 
 Tóm lại: Việc giúp học sinh thấu hiểu 3 thành phần của bài toán sẽ giúp cho 
học sinh lựa chọn các phép tính để giải bài toán thuận tiện hơn. 
 Hình thành thói quen tìm hiểu nghĩa các từ ngữ vận dụng vào thực tiễn 
có trong đề bài 
 Để lựa chọn được phép tính đúng, lời giải phù hợp thì học sinh phải thông 
hiểu đề, nghĩa là phải hiểu tất cả các từ ngữ có trong đề bài từ đó xác định 3 thành 
phần của bài toán được đề cập ở biện pháp trên. Nhưng trong thực tế, các đề toán 
có lời văn ở lớp 4 được nâng dần mức độ khó kèm theo sự xuất hiện của các từ ngữ 
gắn với đời sống thực tiễn mà học sinh chưa được làm quen. Học sinh có thể sẽ 
không hiểu nghĩa những từ này mà chọn cách giải sai hoặc loay hoay tìm hiểu 
nghĩa từ làm chi phối sự tập trung giải toán. Với những trường hợp như vậy, giáo 
viên cần đặt câu hỏi vấn đáp giúp học sinh tìm hiểu nghĩa từ trước khi tìm hiểu đề. 3 
 Tổ chức thực hiện các bước giải toán, hình thành cho học sinh thói quen 
phân tích, tổng hợp khi giải toán 
 Vội vàng, hấp tấp, không chịu đọc kỹ bài toán, phân tích tổng hợp đề hời 
hợt, thiếu kinh nghiệm cũng là một trong những nguyên nhân làm cho học sinh gặp 
khó khăn khi giải toán. Để khắc phục hạn chế này, giáo viên nên tổ chức cho học 
sinh giải bài toán theo 4 bước nhằm hình thành thói quen phân tích, tổng hợp đề 
khi giải toán, rèn kĩ năng giải toán cho học sinh. 
 Bước 1: Tìm hiểu kỹ đề toán, tìm hiểu nghĩa của từ, cụm từ quan trọng. Ở 
bước này HS cần tự xác định và trả lời được hai câu hỏi: 
 + Bài toán cho biết gì? 
 + Bài toán hỏi gì? 
 Bước 2: Thiết lập mối quan hệ giữa cái đã cho với cái cần tìm. 
 Tóm tắt bài toán (Tóm tắt đề bằng ngôn ngữ, ký hiệu ngắn gọn hoặc bằng sơ 
đồ đoạn thẳng hoặc bằng lời). Lập kế hoạch giải bài toán (Trên cơ sở phân tích, 
thiết lập trình tự giải bài toán). 
 Bước 3: Thực hiện cách giải và trình bày bài giải theo kế hoạch đã lập để 
giải bài toán bằng các thao tác: 
 + Thực hiện phép tính đã xác định. 
 + Viết câu trả lời. 
 + Viết đáp số. 
 Sau mỗi bước giải cần kiểm tra phép tính giải đúng chưa. Viết câu lời giải 
phù hợp chưa. 
 Bước 4: Kiểm tra đối chiếu, tìm cách giải khác. 
 + Giải xong bài toán phải thử xem đáp số tìm ra có thể trả lời câu hỏi của bài 
toán chưa? Có phù hợp với điều kiện của bài toán không ? 
 + Tìm cách giải khác cho bài toán. 
 Hình thành kĩ năng xác định các dạng toán điển hình 
 Đối với toán có lời văn ở lớp 4 chủ yếu là các bài toán hợp, giải bài toán hợp 
cũng có nghĩa là giải quyết các bài toán đơn. Các bài toán hợp trong chương trình 
toán lớp 4 bao gồm 2 nhóm chính sau: 
 Nhóm 1: Các bài toán hợp mà quá trình giải không theo một phương pháp 
thống nhất cho các bài toán đó. 
 Nhóm 2: Các bài toán điển hình là các bài toán mà trong quá trình giải có 
phương pháp riêng cho từng dạng bài toán. Có các dạng toán điển hình sau: 
 + Tìm số trung bình cộng; 
 + Tìm 2 số khi biết tổng và hiệu của 2 số đó; 
 + Tìm 2 số khi biết tổng và tỉ của 2 số đó; 
 + Tìm 2 số khi biết hiệu và tỉ của 2 số đó; 
 + Bài toán về quan hệ tỉ lệ. 
 Các dạng toán khác: 
 + Bài toán có nội dung hình học (Chu vi, diện tích, thể tích). 
 Ví dụ: 
 Bài toán 1: Hai số có tổng bằng 1080. Tìm hai số đó biết rằng nếu gấp 7 lần số 
 thứ nhất thì được số thứ hai. 4 
 + Với bài toán này, việc đầu tiên học sinh cần làm là đọc kỹ đề bài và xác 
định xem bài toán thuộc dạng nào. Ở bài toán này thì thuộc dạng tìm hai số khi 
biết tổng và tỉ số của hai số đó. 
 + Sau khi đã xác định được dạng toán thì học sinh cần xác định được 3 thành 
phần của bài toán: 
 Dữ kiện: 1080 (tổng 2 số) và 7 (số lần gấp) 
 Ẩn số: Tìm hai số đó. 
 Điều kiện trong bài toán có 1 mối quan hệ là gấp 7 lần số thứ nhất thì 
được số thứ hai. 
 + Khi đã xác định được 3 thành phần của bài toán học sinh thực hiện tóm tắt 
bài toán bằng sơ đồ đoạn thẳng và lập kế hoạch giải bài toán (thứ tự các phép 
tính, câu trả lời cho mỗi phép tính.) 
 + Học sinh thực hiện giải bài toán theo kế hoạch: 
 Bài giải 
 Tổng số phần bằng nhau là : 
 1 + 7 = 8 (phần) 
 Số thứ nhất là: 
 (1080 : 8) x 1 = 135 
 Số thứ hai là: 
 135 x 7 = 945 
 Đáp số: Số thứ nhất: 135 
 Số thứ hai : 945 
Bài toán 2: Một công ty chuyển máy bơm bằng ô tô. Lần đầu có 3 ô tô, mỗi ô tô 
chở được 16 máy. Lần sau có 5 ô tô, mỗi ô tô chở được 24 máy. Hỏi trung bình 
mỗi ô tô chở được bao nhiêu máy bơm. 
 + Ở bài toán này, việc đầu tiên học sinh cần làm là đọc kỹ đề bài và xác định 
xem bài toán thuộc dạng nào. Ở bài toán này thì thuộc dạng tìm số trung bình 
cộng. 
 + Sau khi đã xác định được dạng toán thì học sinh cần xác định được 3 thành 
phần của bài toán: 
 Dữ kiện: 3 ô tô, 5 ô tô, 16 máy và 24 máy 
 Ẩn số: Trung bình mỗi ô tô chở được bao nhiêu máy bơm. 
 Điều kiện trong bài toán có 2 mối quan hệ, mối quan hệ thứ nhất là 3 ô tô 
đầu mỗi ô tô chở được 16 máy, mối quan hệ thứ hai là 5 ô tô sau mỗi ô tô chở 
được 24 máy. 
 + Khi đã xác định được 3 thành phần của bài toán học sinh thực hiện tóm tắt 
bài toán bằng ngôn ngữ và ký hiệu ngắn gọn sau đó lập kế hoạch giải bài toán 
(thứ tự các phép tính, câu trả lời cho mỗi phép tính.) 
 + Học sinh thực hiện giải bài toán theo kế hoạch: 
 Bài giải 
 3 ô tô đầu chở được số máy bơm là: 
 3 x 16 = 48 (máy) 
 5 ô tô sau chở được số máy bơm là: 
 5 x 24 = 120 (máy) 
 Trung bình mỗi ô tô chở được số máy bơm là: 5 
 (48 + 120) : 8 = 21 (máy) 
 Đáp số: 21 máy 
 * Kết quả của sáng kiến (Số liệu cụ thể): 
Sau một thời gian áp dụng các biện pháp trên tôi nhận thấy kỹ năng giải toán có lời 
văn của học sinh đã được nâng lên rõ rệt. Những bài toán trước đây các em còn 
gặp khó khăn thì bây giờ các em đã mạnh dạn trao đổi, tìm cách giải. Hầu hết các 
em đã biết tóm tắt bài toán, chọn lời giải và phép tính nhanh hơn. Tình trạng hiểu 
sai đề, kết quả hoàn toàn sai lệch như thống kê đầu năm thì cuối năm đã hoàn 
toàn được khắc phục. Kết quả khảo sát đã nói lên được điều đó : 
 Giỏi Khá Trung bình Yếu 
 Thời điểm KS TSHS (Điểm 9 -10) (Điểm 7- 8) (Điểm 5- 6) (Điểm 1- 4) 
 SL % SL % SL % SL % 
 Đầu năm học 
 (Tháng 9/2019) 21 5 23,8 7 33,3 7 33,3 2 9,5 
 Cuối HKI 
 (Tháng 1/2020) 21 7 33,3 10 47,6 3 14,2 1 4,7 
 Cuối năm 
 (Tháng 5/2020) 21 9 42,8 10 47,6 2 9,5 0 0 
 7.2. Thuyết minh về phạm vi áp dụng sáng kiến (Nêu rõ về việc giải pháp 
đã được áp dụng, kể cả áp dụng thử trong điều kiện kinh tế - kỹ thuật tại cơ sở và 
mang lại lợi ích thiết thực; ngoài ra có thể nêu rõ giải pháp còn có khả năng áp 
dụng cho những đối tượng, cơ quan, tổ chức nào): 
 Áp dụng cho dạy học nội dung giải toán có lời văn lớp 4 theo Chương trình 
GDPT 2018 ở Trường Tiểu học Tiến Thắng.. 
 7.3. Thuyết minh về lợi ích kinh tế, xã hội của sáng kiến (Đánh giá lợi ích 
thu được hoặc dự kiến lợi ích có thể thu được do áp dụng giải pháp trong đơn kể 
cả áp dụng thử tại cơ sở): 
 Năm học 2019 – 2020, kết quả môn Toán ở lớp 4 các em đều đạt yêu cầu. 
Với bài toán lớp có lời văn học sinh gặp khó khăn trong giải toán cũng làm chính 
xác 3/4 bước tính. 6 
 Theo dõi quá trình học tập của học sinh tôi nhận thấy: Học sinh có sự tiến bộ 
rõ rệt, học sinh có hứng thú hơn khi giải toán, không còn lúng túng và sợ giải toán 
nữa. Các em vận dụng làm bài có hiệu quả và yêu thích môn toán nhiều hơn. 
 Xác nhận của cơ quan, đơn vị Tác giả sáng kiến 
 HIỆU TRƯỞNG 
 Dương Mạnh Nguyên 
 Đỗ Minh Trung 

File đính kèm:

  • pdfbien_phap_ren_ki_nang_giai_toan_co_loi_van_cho_hoc_sinh_lop.pdf