Một số giải pháp rèn học sinh chủ động cộng tác trong các hoạt động học tập

docx11 trang | Chia sẻ: Chan Chan | Ngày: 10/02/2026 | Lượt xem: 18 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Một số giải pháp rèn học sinh chủ động cộng tác trong các hoạt động học tập, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút TẢI VỀ ở trên
 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
THUYẾT MINH MÔ TẢ GIẢI PHÁP 
1. Tên giải pháp: “ Một số giải pháp rèn học sinh chủ động cộng tác trong các hoạt động 
học tập”. 
2. Ngày giải pháp được áp dụng lần đầu hoặc áp dụng thử: 7/9/2021
3. Các thông tin cần bảo mật: Không 
4. Mô tả các giải pháp cũ thường làm:
 Giải pháp 1: Vận dụng các phương pháp dạy học truyền thống
 Trong quá trình dạy học GV chưa sáng tạo và đổi mới trong các hình thức rèn luyện, 
thi đua, giáo dục tạo hứng thú mới mẻ cho học sinh.
 GV thường dùng phương pháp thuyết trình, giảng giải nhiều, còn lệ thuộc nhiều vào 
SGK, sách tham khảo, ít cho HS được tự hoạt động, tự phát hiện, tìm tòi những tri thức 
mới. Dẫn đến học sinh còn thụ động tiếp thu kiến thức. Học sinh chưa biết cách lắng 
nghe chia sẻ, phản biện, chưa tự giải quyết được vấn đề 
 Giải pháp 2: Tạo thói quen cộng tác khi cần
 - GV ít tạo cơ hội để HS tham gia các hoạt động cộng tác. Vì vậy học sinh ít được làm 
quen với việc bày tỏ quan điểm, tranh luận để tìm ra cái đúng. 
 - Học sinh biết cộng tác nhưng còn thụ động, chưa có thói quen chủ động cộng tác 
khi cần nên sự cộng tác còn ít hoặc chưa hiệu quả.
 - Một số em khi học tập theo nhóm còn chia bè phái, dẫn đến khó kết thành một 
tập thể đoàn kết. 
 Giải pháp 3: Tăng cường động viên, khích lệ kịp thời Trong các hoạt động học GV còn chưa khích lệ, biểu dương các em kịp thời. Hay khen 
ngợi những ưu điểm sở trường của các em để các em thấy giá trị của mình được nâng 
cao, có niềm tin và hứng thú học tập hơn. Khiến đa phần các em còn thụ động, ít phát 
biểu, không khí lớp học nặng nề, không sôi nổi.
 Qua quan sát việc áp dụng giải pháp cũ thường làm tôi thu được KQ như sau:
 Số lượng HS chủ động cộng tác HS biết cộng tác HS chưa có sự cộng tác
 học sinh tốt
 Số lượng Tỉ lệ Số lượng Tỉ lệ Số lượng Tỉ lệ
 30 8 26,7 % 10 33,3 % 12 40 %
* Nguyên nhân: 
 Vế phía giáo viên
 Trong quá trình giảng dạy, chủ nhiệm lớp, giáo viên còn lúng túng trong việc vận 
dụng phương pháp hình thức tổ chức dạy học, chưa chú ý phân loại các đối tượng học 
sinh trong lớp. Chưa mạnh dạn đổi mới phương pháp, hình thức tổ chức dạy học. Khi 
lên lớp còn nặng nề việc cung cấp kiến thức, ít coi trọng việc tổ chức các hoạt động của 
học sinh. Chưa chú ý đến việc tạo điều kiện để học sinh tự tìm tòi, tiếp thu kiến thức, 
chưa tạo ra không khí thi đua giữa các tổ, cá nhân với cá nhân. Chưa tạo nhiều cơ hội 
để học sinh được trao đổi thảo luận, nêu lên chính kiến của mình...
 Về phía học sinh
 - Trong các hoạt động học tập các em hầu như chưa có thói quen chủ động cộng tác 
khi cần, các kĩ năng làm việc nhóm chưa nhiều, vốn từ còn hạn chế. - Còn rất nhiều em rụt rè, nhút nhát, không dám giơ tay phát biểu ý kiến, trong giờ 
học chỉ 4, 5 HS thường xuyên giơ tay còn lại các em thụ động ngồi im dù câu hỏi không 
khó. 
 - Mức độ nhận thức của học sinh không đồng đều nên việc truyền tải kiến thức còn 
gặp khó khăn.
 - Một số em tiếp thu kiến thức chậm, tư duy hạn chế, thờ ơ với việc học tập, ham 
chơi, chưa tự giác học.
 - Nhiều em còn đọc đối phó, tâm trạng mệt mỏi, chán nản, ngại phát biểu tìm hiểu 
bài.
5. Sự cần thiết phải áp dụng giải pháp:
 Trước đây tôi đã áp dụng rất nhiều giải pháp. Nhưng cuối những năm áp dụng giải 
pháp cũ kết quả lớp tôi chủ nhiệm chưa cao. 
 Năm học 2021- 2022 tôi được phân công chủ nhiệm lớp 2. Tôi mong muốn cải tiến 
chất lượng học tập, rèn ý thức tự chủ, tự giác, rèn các kĩ năng sống, giáo dục nhân cách, 
phẩm chất đạo đức cho các em học sinh lớp mình chủ nhiệm bằng “ Một số giải pháp 
rèn học sinh chủ động cộng tác trong các hoạt động học tập ”. Sao cho cuối năm tất cả 
học sinh lớp tôi đạt kết quả cao trong mọi lĩnh vực . 
 Để đạt mục tiêu theo chương trình GDPT 2018 hướng tới HS phát triển toàn diện 
không chỉ hoàn thành tốt các môn học mà HS cần phải hình thành những năng lực, 
phẩm chất tốt thông qua các hoạt động học tập và giáo dục.
 + Thông qua học tập cộng tác, học sinh được củng cố, phát triển toàn diện, bền vững 
cả về KT-KN đồng thời hình thành và phát triển các năng lực tự học và giải quyết vấn đề, 
giao tiếp, hợp tác; các phẩm chất tự tin, đoàn kết, yêu thương, chăm chỉ, tự trọng,... 
quy định tại Thông tư 27 về đánh giá học sinh tiểu học.
 + Việc tổ chức cho học sinh học tập cộng tác sẽ kết nối, hòa nhịp với thực hiện đổi 
mới giáo dục theo Chương trình Giáo dục phổ thông mới, cụ thể hóa yêu cầu giáo dục 
định hướng tiếp cận năng lực học sinh. + Bên cạnh đó xã hội mới cần những con người lao động mới năng động, sáng tạo, 
chủ động thích ứng nhanh với thời đại. Chính vì vậy học sinh cần phải được phát triển 
toàn diện không chỉ về kiến thức mà còn cần phát triển năng lực , phẩm chất.
6. Mục đích của giải pháp:
 Mong muốn các thế hệ học sinh của tôi luôn chủ động trang bị cho mình những kiến 
thức, kĩ năng sống cơ bản, vững vàng bước những bước tiếp theo trên con đường học 
tập của bản thân và nâng cao chất lượng giáo dục của lớp mình chủ nhiệm. Khi học tập 
cộng tác những học sinh gặp khó khăn về nhận thức sẽ không bị lãng quên, không bị bỏ 
lại phía sau vì được bạn giúp đỡ cả về hiểu biết cùng phẩm chất tự tin, tự chủ cố gắng 
của cá nhân nhờ sự khích lệ, quan tâm và chia sẻ. Những học sinh có nhận thức cao hơn, 
giúp đỡ bạn gặp khó khăn sẽ hiểu bài sâu sắc hơn vì đã có cơ hội dạy lại cho bạn hiểu 
điều mình hiểu. Hơn thế, học sinh sẽ hình thành, phát triển những năng lực, phẩm chất 
tốt đẹp cho cuộc sống tương lai trong một xã hội con người luôn sẵn sàng học hỏi, yêu 
thương, giúp đỡ, chia sẻ cùng nhau.
7. Nội dung:
7.1. Thuyết minh giải pháp mới hoặc cải tiến 
 Để thực hiện biện pháp tôi đã làm như sau : 
 Giải pháp 1: Xây dựng kế hoạch giáo dục và dạy học. 
 Trong các bài dạy trước đây tôi còn giảng giải nhiều, còn lệ thuộc nhiều vào SGK, 
sách tham khảo, ít cho HS được tự hoạt động, tự phát hiện, tìm tòi những tri thức mới. 
Dẫn đến học sinh còn thụ động tiếp thu kiến thức.
 Nhằm thay đổi động cơ học tập giúp hình thành và nâng cao năng lực tự học cho 
người học.Thay vì để học sinh thụ động tiếp thu kiến thức tôi tăng cường các hình thức 
dạy học nhóm, trao đổi thảo luận, nêu lên chính kiến của mình... Điều này sẽ buộc người 
học phải nghiên cứu tài liệu, phân tích, mổ xẻ các vấn đề trên nhiều khía cạnh khác nhau 
để có thể tham gia đóng góp hoặc tranh luận để bảo vệ ý kiến của mình. Vì vậy trước khi lên lớp tôi chuẩn bị “ Kế hoạch bài dạy” thật chu đáo và có chất 
lượng, thể hiện rõ kế hoạch của thầy, trò và dự kiến được các phương án trả lời của HS. 
Gắn với từng bài học tôi suy nghĩ tạo các tình huống có vấn đề phù hợp năng lực các em 
từ đó buộc các em phải tự suy nghĩ tìm cách giải quyết bằng cách trao đổi cộng tác.
 VD : Khi thành lập bảng nhân 2. GV không đưa ngay bảng nhân lên cho HS mà cho HS 
tự trao đổi và thành lập bảng nhân 2. 
 Khi đưa ra các tình huống các em sẽ suy nghĩ và tìm cách giải quyết, lúc này các em 
sẽ đưa ra các ý kiến trái chiều nhau, dù các em có nói đúng hay chưa đúng tôi không 
ngắt lời mà kiên nhẫn lắng nghe em nói hết ý kiến theo suy nghĩ cá nhân của mình. Sau 
đó tôi tổng hợp và đưa ra cách xử lý phù hợp. 
 Qua việc xây dựng kế hoạch giáo dục và dạy học tích cực, áp dụng vào lớp tôi chủ 
nhiệm tôi thấy học sinh phát huy được năng lực: tự chủ và tự học, giao tiếp và hợp tác, 
giải quyết vấn đề và sáng tạo.
Giải pháp 2: Đổi mới phương pháp dạy học. 
 Từ dạy và học thụ động sang dạy và học tích cực, giáo viên không còn đóng vai trò 
đơn thuần là người truyền đạt kiến thức, giáo viên trở thành người thiết kế, tổ chức, 
hướng dẫn, gợi mở, xúc tác, động viên, cố vấn, trọng tài trong các hoạt động độc lập 
hoặc theo nhóm nhỏ để học sinh tự lực chiếm lĩnh nội dung học tập, chủ động đạt các 
mục tiêu kiến thức, kĩ năng, thái độ theo yêu cầu của chương trình.
 Trước hết tôi rèn cho học sinh tính chủ động, tự giác, tích cực, mạnh dạn trước đám 
đông, dám bày tỏ ý kiến của mình với thấy cô, bạn bè qua hòm thư “Điều em muốn nói, 
Hộp thư vui),... Cùng đó, mạnh dạn áp dụng các PPDH tích cực, đa dạng hóa các hình 
thức tổ chức dạy học cộng tác nhằm tạo cơ hội để tổ chức các hoạt động học cho học 
sinh, qua đó phát huy năng lực cốt lõi và phẩm chất chủ yếu của học sinh ( quy định tại 
thông tư 27)
* Phương pháp thảo luận nhóm Khi là một giáo viên chủ nhiệm, trong các môn học tôi thường xuyên áp dụng hình 
thức dạy học theo nhóm cộng tác vì tôi nhận thấy rằng: 
 Khi học tập cộng tác HS yếu nêu ra băn khoăn của mình, HS khá có cơ hội chia sẻ với 
bạn từ đó khắc sâu kiến thức, phát triển khả năng giao tiếp.... Qua đó hình thành lên 
những phẩm chất tốt đẹp cho các em như: Sẵn sàng học hỏi, biết yêu thương, chia sẻ 
giúp đỡ nhau trong học tập. 
 Tôi luôn kịp thời tuyên dương, khen ngợi các nhóm cộng tác tốt trước lớp như: cô 
khen nhóm bạn Bảo làm bài nhanh và đúng; hôm nay nhóm em đọc to hơn rất nhiều, 
cô thấy nhóm bạn Hiền và bạn Việt đã có tiến bộ rồi đấy các em tiếp tục phát huy nha; 
 sau mỗi lời khen ngợi tôi nhận thấy niềm vui trên khuôn mặt các em, dần dần các em 
có thói quen cộng tác, các em tự tin dần lên.
 Tôi giao việc cho tất cả các em, khi các em được làm việc các em cảm thấy vui vẻ, tự 
hào và tự tin khi hoạt động nhóm. 
* Phương pháp trò trơi
 Để sự “khô khan” của một tiết học trở nên nhẹ nhàng, quá trình học tập diễn ra một 
cách tự nhiên cuốn hút hơn. Tùy từng phân môn và nội dung bài học cũng như dựa trên 
đặc điểm tâm sinh lý của HS lớp tôi chủ nhiệm, tôi lựa chọn trò chơi cho phù hợp. Với 
môn Toán có trò chơi : Xì điện, Tiếp sức, Ai nhanh ai đúng, Cùng vui phép chia, thợ chỉnh 
đồng hồ Môn Tiếng việt với trò chơi giải ô chữ, Ong tìm mật.... 
 VD: Trong bài bảng chia 2(tr 21) HS cần dựa vào bảng nhân 2 để lập bảng chia 2. Tôi 
đã tổ chức thành trò chơi Xì điện. HS chơi rất vui vẻ, đồng thời tôi đã kiểm tra được kiến 
thức toàn bộ HS trong lớp mà HS nào cũng tích cực tham gia.
 Qua hoạt động chơi trò chơi như vậy tôi nhận thấy học sinh lớp tôi đã tự chủ cộng 
tác với bạn để tham gia trò chơi một cách vui vẻ, nhẹ nhàng. Cuối hoạt đông tôi không 
quên động viên, khích lệ học sinh để các em sẽ mạnh dạn tự tin hơn.
* Phương pháp sắm vai Với lớp 2C mà tôi chủ nhiệm, tôi thường sử dụng phương pháp sắm vai trong tiết 
Tập đọc, Kể chuyện, các tình huống trong môn Đạo đức, 
 VD: Trong tiết Kể chuyện bài “Em có xinh không” các em được chia nhóm, thực hành 
kể chuyện theo vai: người dẫn chuyện, voi anh, voi em, hươu, dê. Tôi hướng dẫn lớp 
chia làm các nhóm 5 và các em tự phân vai sau đó thực hành kể chuyện. Tôi quan sát, 
giúp đỡ các em khi khó khăn. Với PP này tất cả HS đều được tham gia, các em rất thích 
thú vì được đóng vai nhân vật mình thích, các em nhớ nội dung truyện nhanh, nhiều em 
sáng tạo câu thoại, biết thể hiện tâm trạng nhân vật qua giọng nói, điệu bộ cử chỉ của 
nét mặt, cơ thể. Giờ học trôi qua rất vui vẻ, rộn ràng.
* Phương pháp nêu và giải quyết vấn đề
 Phương pháp này tôi thường sử dụng trong môn học Toán. Ở hầu hết các tiết học 
hình thành kiến thức mới tôi đều đưa ra những vấn đề .Trong khi phát hiện và giải quyết 
vấn đề, HS sẽ huy động được tri thức cá nhân, khả năng hợp tác, trao đổi, thảo luận với 
bạn bè để tìm ra cách giải quyết vấn đề tốt nhất.
 Ví dụ: Bài So sánh các số có 3 chữ số (Toán 2 - tập 2) . Tôi dẫn dắt HS nhận ra vấn 
đề: “ Làm thế nào để thực hiện so sánh các số có 3 chữ số?”.Từ đó HS sẽ huy động tri 
thức cá nhân nêu lên chính kiến và đưa ra những phương án giải quyết. Trong quá trình 
triển khai giải quyết vấn đề tôi rèn cho HS thói quen chủ động hợp tác, trao đổi, thảo 
luận với bạn khi làm bài xong .
 Thông qua học tập nêu và giải quyết vấn đề tôi nhận thấy học sinh lớp tôi phát triển 
các khả năng như: khả năng phát hiện và trình bày vấn đề, khả năng tìm kiếm cách giải 
quyết vấn đề, khả năng tổ chức quá trình giải quyết vấn đề.
* Phương pháp thực hành thí nghiệm
 Đối với lớp 2 tôi thường vận dụng phương pháp này vào môn tự nhiên và xã hội. Khi 
tham gia thực hành thí nghiệm HS được trải nghiệm, học thông qua thực hành, tạo tiền 
đề cho HS làm quen với phương pháp nghiên cứu khoa học, điển hình là học theo 
phương pháp "Bàn tay nặn bột". Ở đây HS có thể tự làm thí nghiệm, hoặc làm thí nghiệm theo nhóm. Qua đó phát huy năng lực giao tiếp và hợp tác, giải quyết vấn đề và sáng 
tạo của người học.
Giải pháp 3: Chú trọng đến các tiết hoạt động trải nghiệm.
 Ở lớp 2 HĐTN là một bộ môn HĐ giáo dục được chính thức đưa vào thời lượng học 
tập, hoạt động trên lớp, được thiết kế đồng bộ, có mục tiêu, yêu cầu cần đạt rõ ràng 
cho từng nội dung, tiết hoạt động, góp phần hình thành và rèn luyện phẩm chất, năng 
lực của HS. Với 2 tiết học trên tuần xoay quanh bốn mạch nội dung lớn mà Chương trình 
quy định: Hoạt động hướng vào bản thân; hoạt động hướng đến xã hội; hoạt động 
hướng đến tự nhiên; hoạt động hướng nghiệp. 
 - Với mỗi hoạt động trải nghiệm tôi đều tạo điều kiện cho tất cả các HS đều được 
tham gia, cùng làm, cùng vui chơi, không tham gia với hình thức khán giả.
 - Tôi giao quyền chủ động tự quản cho HS, tôi chỉ giám sát, hướng dẫn HS.
- Đặc biệt ở các tiết sinh hoạt lớp tôi luôn có những sự thay đổi mới lạ, để học sinh không 
cảm thấy nhàm chán. Ở mỗi chủ đề tôi lại xây dựng những tình hống có thật hoặc giả 
định. Với hướng này, có thể "biến" giờ sinh hoạt lớp thành một trò chơi tập thể mang 
đầy giáo dục. Mỗi lớp học là một xã hội thu nhỏ mà ở đó mọi vấn đề xảy ra không phải 
chỉ giáo viên mới có quyền giải quyết. Sức mạnh thực sự của tiết SHL không chỉ nằm ở 
tiếng nói của GVCN, nó cần có sự đóng góp của mọi thành viên trong lớp, đòi hỏi HS 
phải chủ động cộng tác để xử lý tình huống.
Giải pháp 4: Xây dựng tập thể lớp.
 Tôi luôn định hướng xây dựng lớp thành tập thể đoàn kết, thương yêu để các em có 
thể chia xẻ phương pháp học tập, em khá hơn giúp đỡ em yếu hơn, em có hoàn cảnh 
kinh tế khá hơn giúp đỡ em khó khăn hơn.Tôi đã mạnh dạn xen kẽ em học khá, giỏi với 
em học yếu, kém, em ở thôn này xen kẽ đều với em thôn khác tránh cùng thôn vào một 
tổ gây cục bộ. Hình thành đôi bạn cùng tiến trong lớp, phân công cụ thể em khá giỏi 
kèm em yếu hơn. Tôi cố gắng phát huy hết sức mạnh của Ban cán sự lớp, để các em biết giúp đỡ nhau 
trong học tập, trong cuộc sống. Tôi thường xuyên cho HS tự chữa bài trong giờ truy bài, 
hoặc phần chia sẻ trước lớp trong các môn học. Từ đó phát huy năng lực tự phục vụ tự 
quản: Trong lớp tôi các em biết tự theo dõi, kiểm tra bài, giúp đỡ nhau học tập, cũng 
như trong cuộc sống....
 Đặt niềm tin vào cán sự lớp để các em thoải mái chia xẻ với giáo viên chủ nhiệm như 
những người bạn.
7.2 Kết quả khi thực hiện giải pháp
 Trong một thời gian thực tế áp dụng giải pháp “ Một số giải pháp rèn học sinh chủ 
động cộng tác trong các hoạt động học tập ” từ tháng 7/9/2021 đến 28/02/2022, tôi đã 
thu được những kết quả rất khả quan, các em HS mà lớp tôi chủ nhiệm đã có rất nhiều 
thay đổi theo hướng tích cực. 
 - HS chủ động cộng tác với bạn trong các hoạt động, cô giáo không cần phải nhắc 
nhở thường xuyên như trước, tất cả đã trở thành một thói quen, nề nếp. 
 - Chất lượng học tập của học sinh có sự chuyển biến rõ rệt do học sinh được chủ 
động tiếp thu kiến thức, được thực hành nhiều hơn. Học sinh có kĩ năng chia sẻ, cùng 
cộng tác thực hiện việc tìm hiểu kiến thức mới trong mỗi bài học, các em được rèn luyện 
phát triển tư duy sáng tạo, tự tin mạnh dạn nói trước đông người, phát triển ngôn ngữ 
cũng như kỹ năng giao tiếp. 
 - Học sinh được làm quen với việc bày tỏ quan điểm, tranh luận để tìm ra cái đúng. 
Rèn luyện tính thẳng thắn, cách làm việc tập trung cao độ, được tự mình đánh giá mình 
và đánh giá bạn.
 - Học sinh được tự mình tổ chức các trò chơi tạo động cơ hứng thú đầu mỗi tiết học, 
các em có tinh thần thoải mái hỗ trợ rất nhiều trong học tập nên chất lượng học tập 
được nâng lên, tất cả các em đều có tiến bộ rõ rệt.
 - Học sinh tương đối mạnh dạn, tự tin, kĩ năng giao tiếp của các em phát triển mạnh, 
tính trách nhiệm đã và đang được hình thành trong các em khi các em được đảm nhiệm một chức vụ nào đó. Các em trở nên năng động khi bản thân không những suy nghĩ độc 
lập về nội dung bài học mà còn là người quan sát, lắng nghe, góp ý với bạn, bảo vệ ý 
kiến của mình,... Cuối mỗi tiết học học sinh đều được nhận xét về thái độ học tập, sự 
phối hợp rèn cho các em tính ngay thẳng dám nói thật.
Cụ thể như sau:
 SL HS Thời gian HS chủ động cộng HS biết cộng tác HS Chưa có sự 
 tác tốt cộng tác
 Số lượng Tỉ lệ Số lượng Tỉ lệ Số lượng Tỉ lệ
 Trước khi 8 26,7 % 10 33,3 % 12 40 %
 áp dụng
 30 Sau khi áp 24 80 % 6 20 % 0 0 %
 dụng
Với kết quả này, tôi sẽ tiếp tục duy trì, áp dụng biện pháp trên và luôn đồng hành giúp 
đỡ các em cho đến cuối năm học, tôi tin rằng kết quả cuối năm sẽ đạt được như mong 
muốn.
7.3. Thuyết minh về phạm vi áp dụng giải pháp: 
 Sáng kiến “Một số giải pháp rèn học sinh chủ động cộng tác trong các hoạt động học 
tập” tôi đã và đang áp dụng cho học sinh lớp 2C trường Tiểu học An Thượng và biện 
pháp có thể áp dụng rộng rãi tới tất cả các lớp khác.
7.4. Thuyết minh về lợi ích kinh tế, xã hội của sáng kiến: 
 Việc nắm được “ Một số giải pháp rèn học sinh chủ động cộng tác trong các hoạt 
động học tập” sẽ giúp giáo viên lựa chọn và vận dụng phương pháp dạy học, giáo dục đúng, hiệu quả và phát huy được tính tích cực, chủ động trong học tập và hình thành, 
phát triển những năng lực, phẩm chất cho học sinh .
 Cam kết: Tôi cam đoan những điều khai trên đây là đúng sự thật và không sao chép 
hoặc vi phạm bản quyền.
 XÁC NHẬN CỦA NHÀ TRƯỜNG An Thượng, ngày 10 tháng 3 năm 2022
 Tác giả sáng kiến
 Dương Thị Loan

File đính kèm:

  • docxmot_so_giai_phap_ren_hoc_sinh_chu_dong_cong_tac_trong_cac_ho.docx
Bài giảng liên quan