Hình thành và phát triển năng lực toán học cho học sinh lớp 1 trong dạy học nội dung giải toán có lời văn
Bạn đang xem nội dung tài liệu Hình thành và phát triển năng lực toán học cho học sinh lớp 1 trong dạy học nội dung giải toán có lời văn, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút TẢI VỀ ở trên
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc THUYẾT MINH MÔ TẢ GIẢI PHÁP 1. Tên giải pháp: “Hình thành và phát triển năng lực toán học cho học sinh lớp 1 trong dạy học nội dung giải toán có lời văn”. 2. Ngày giải pháp được áp dụng thử: 01/2020 3. Các thông tin cần bảo mật: Không 4. Mô tả các giải pháp cũ thường làm Với kinh nghiệm 11 năm dạy học của bản thân, tôi nhận thấy rằng các phương pháp dạy giải toán có lời văn cho học sinh lớp 1 hiện tại chưa phát huy được các năng lực toán học của học sinh theo chương trình phổ thông 2018, cũng như chưa đáp ứng được yêu cầu về đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tiếp cận năng lực học sinh. Giáo viên còn mắc “bệnh” nói nhiều, nói nhanh có lúc sợ học sinh chưa hiểu cứ giảng giải nhiều lần, thậm chí học sinh đã trả lời đúng vẫn cứ nhắc lại. Có trường hợp gần hết giờ mà nội dung còn dài nên giáo viên còn nói và làm hộ học sinh. Sử dụng đồ dùng dạy học hiệu quả chưa cao, có lúc còn lạm dụng. Các hình thức tổ chức dạy học còn đơn điệu, mang tính hình thức, chưa phát huy khả năng học tập cá nhân của học sinh. Hầu như hình thức thảo luận theo cặp, nhóm giáo viên không sử dụng. Dạy học theo trình độ đối tượng còn hạn chế, chỉ tập trung vào một số đối tượng học sinh trong lớp. Dẫn đến một số em cảm thấy chán, ngồi chơi, nói chuyện, làm việc riêng, nghịch đồ dùng. 5. Sự cần thiết phải áp dụng giải pháp sáng kiến Như chúng ta đã biết, toán học là khoa học suy diễn trừu tượng nhưng toán học ở Tiểu học mang lại tính trực quan cụ thể bởi vì mục tiêu của môn toán học là hình thành những biểu tượng toán học ban đầu và rèn luyện kĩ năng toán cho học sinh tạo cơ sở phát triển tư duy và phương pháp học toán 2 học cho học sinh sau này. Mặt khác toán học còn có tính thực tiễn; các kiến thức toán học đều bắt nguồn từ cuộc sống. Dạy học toán học ở tiểu học là hoàn thiện những gì vốn có trong học sinh. Mỗi tiết học là để học sinh hình thành những kiến thức và kĩ năng mới, vận dụng một cách sáng tạo nhất, thông minh nhất vào cuộc sống sau này. Thứ chúng ta cần ở học sinh là “tư duy toán học” chứ không phải mẹo giải bài tập, là “tư duy lôgic”, “giải quyết vấn đề” chứ không phải là giải những bài tập đánh đố và đánh giá trí thông minh. Thực tế trong quá trình học các em ngại phát biểu, rụt rè, chưa mạnh dạn trước lớp. Thói quen tự đánh giá bài, chia sẻ kết quả với bạn còn hạn chế, các em chỉ biết mình giải đúng, sai khi giáo viên đánh giá hoặc giải đúng bài toán có lời văn nhưng các em không hiểu rõ bản chất bài toán. Các em chỉ biết vận dụng cứng nhắc kiến thức để giải các bài toán trong sách mà không biết vận dụng vào giải các bài toán đơn giản trong cuộc sống hằng ngày. Một số học sinh không thích học toán, không có hứng thú học tập, không muốn thể hiện năng lực cá nhân của mình. Có những học sinh còn gặp nhiều lúng túng khi giải toán có lời văn, chưa biết cách phân tích đề bài. Cuối tiết học, có hiện tượng học sinh uể oải, mệt mỏi, chán học. Điểm mới trong phương pháp dạy học hiện nay luôn coi trong việc lấy học sinh làm trung tâm, người thầy chỉ đóng vai trò là người giúp các em đi đúng hướng, giúp các em tiếp thu kiến thức một cách chủ động, sáng tạo. Chính vì vậy ở lớp 1 việc phát huy trí thông minh cho trẻ thông qua môn toán là hết sức cần thiết. Dạy học giải toán có lời văn là một bộ phận quan trọng trong hệ thống giáo dục kiến thức toán học ở bậc Tiểu học nói chung và ở lớp 1 nói riêng. Khả năng giải toán có lời văn phản ánh năng lực vận dụng kiến thức của học sinh. Học sinh hiểu về mọi mặt kiến thức toán học vận dụng vào giải toán kết hợp với khả năng diễn đạt Tiếng Việt để giải quyết các vấn đề toán học. Từ 3 ngôn ngữ thông thường trong các đề toán đưa ra cho học sinh đọc - hiểu - biết hướng giải đưa ra phép tính kèm câu trả lời và đáp số của bài toán. Giải toán có lời văn góp phần củng cố, nâng cao kiến thức toán học, rèn luyện khả năng diễn đạt, góp phần phát triển tư duy cho học sinh lớp 1. Nếu học sinh lớp 1 làm tốt các bài tập về giải toán có lời văn thì không chỉ kiến thức toán học được củng cố mà còn giúp các em nâng cao khả năng tư duy và lập luận, giải quyết vấn đề của bản thân. Đúc kết từ kết quả học tập chưa cao những năm qua về mạch kiến thức này, qua quá trình trăn trở để làm sao nâng cao được chất lượng dạy học giải toán có lời văn lớp 1 nên tôi quyết định chọn nghiên cứu: “Hình thành và phát triển năng lực toán học cho học sinh lớp 1 trong dạy học nội dung giải toán có lời văn” 6. Mục đích của giải pháp sáng kiến Sáng kiến “Hình thành và phát triển năng lực toán học cho học sinh lớp 1 trong dạy học nội dung giải toán có lời văn” của tôi đã đưa ra với mục đích phát huy tính tích cực của học sinh trong việc hình thành và phát triển năng lực toán học cho học sinh, để các em thấy được toán học rất gần gũi xung quanh các em, giúp các em cảm thấy giờ học toán thật thú vị và thoải mái như một buổi tham gia trò chơi hay khám phá khoa học thông qua các hình thức học tập linh hoạt. Sáng kiến có thể áp dụng một cách dễ dàng, rộng rãi, giáo viên nào cũng có thể thực hiện được. Giáo viên cố gắng phát huy cái mà học sinh đang có, cần giảm bớt nói hộ, làm thay học sinh như cách dạy tiếp cận nội dung, kiến thức như trước đây. Giáo viên hãy để cho học sinh chủ động lĩnh hội tiếp thu kiến thức.Vì dạy học phát huy tính tích cực của học sinh là phù hợp với bản chất của hoạt động nhận thức. 4 Chỉ có phát huy tính tích cực của học sinh mới có thể phát huy tính độc lập sáng tạo,hình thành cho học sinh thói quen tự học, tự bổ sung kiến thức. Việc phát huy tính tích cực của học sinh rất phù hợp với mục đích của Thông tư 27/ BGD& ĐT. Giúp học sinh có khả năng tự đánh giá, tham gia đánh giá, tự điều chỉnh cách học, giao tiếp, hợp tác, có hứng thú học tập và rèn luyện tiến bộ, chủ động lĩnh hội kiến thức. Ngoài việc nắm chắc, nhớ lâu kiến thức còn tạo cho các em tính chủ động, sáng tạo, tích cực, tự giác phát huy được phẩm chất và năng lực của mỗi em. Đặc biệt các em rất thích được học toán. 7. Nội dung 7.1. Thuyết minh giải pháp mới Mục đích của dạy học giải toán có lời văn ở lớp 1 nhằm giúp học sinh: - Nhận biết thế nào là một bài toán có lời văn (Cấu tạo các phần của bài toán). - Biết giải và trình bày bài giải các bài toán bằng một phép tính cộng hoặc một phép tính trừ, chủ yếu là các bài toán về “thêm”, “bớt” một số đơn vị ( viết được bài giải bao gồm câu lời giải, phép tính và đáp số) . - Bước đầu phát triển tư duy, rèn luyện kĩ năng giải toán và khả năng diễn đạt (phân tích đề bài toán), giải quyết vấn đề, trình bày vấn đề bằng ngôn ngữ nói và viết . Khả năng giải toán có lời văn phản ánh năng lực vận dụng kiến thức toán của học sinh. Giải toán có lời văn là học cách giải quyết vấn đề trong môn toán. Từ ngôn ngữ thông thường trong các đề toán đưa về các phép tính và kèm theo câu lời giải và cuối cùng đưa ra đáp số của bài toán . Thế nhưng, việc giải toán có lời văn lại là việc làm bắt đầu ở lớp 1, chính vì vậy đã gặp không ít khó khăn trong khi giải toán có lời văn.Tôi tìm mọi biện pháp để giúp học sinh học tốt phần giải toán có lời văn và thông 5 qua học nội dung giải toán có lời văn các em sẽ hình thành và phát triển được tốt các năng lực toán học. Mỗi thầy cô trong quá trình giảng dạy cần thực hiện tốt những yêu cầu sau: Thầy cô hãy giúp học sinh tự phát hiện, tự giải quyết vấn đề. Phần học “kiến thức mới” thường được nêu thành tình huống có vấn đề giải quyết; thời gian đầu giáo viên hướng dẫn học sinh tự nêu và giải quyết vấn đề. Dần dần yêu cầu học sinh tự nêu vấn đề và tự giải quyết vấn đề. Giúp học sinh tự chiếm lĩnh kiến thức mới. Có loại học bài sau khi học sinh đã phát hiện và giải quyết vấn đề, giáo viên phải hình thành kiến thức mới. Có loại bài học giáo viên giúp học sinh tự nêu, tự giải quyết vấn đề, tự xây dựng kiến thức. Giúp học sinh cách thức phát hiện và chiếm lĩnh kiến thức mới. Quá trình dạy học toán phải giúp học sinh từng bước nắm được cách thức phát hiện và chiếm lĩnh kiến thức mới. Từ tình huống có thực trong đời sống (thể hiện trong tranh, hình vẽ, mô hình, mô tả bằng lời) nêu được vấn đề vần, giải quyết (dưới dạng câu hỏi của bài toán). Giải quyết vấn đề đó góp phần tìm ra kiến thức mới. Hướng dẫn HS thiết lập mối quan hệ giữa kiến thức mới và kiến thức đã học. Huy động kiến thức đã học và vốn sống để phát hiện và chiếm lĩnh kiến thức mới. Đặt kiến thức mới trong mối quan hệ với kiến thức đã có. Giúp HS thực hành, rèn luyện các diễn đạt thông tin bằng lời, bằng kí hiệu. Trong quá trình dạy học toán, phải quan tâm đúng mức đến rèn luyện cho HS cách diễn đạt ngắn gọn, rõ ràng, vừa đủ nội dung của một thông tin bằng lời hoặc bằng kí hiệu, sơ đồ. Không nên bắt HS chờ đợi nhau trong quá trình làm bài. HS nào tự làm xong là tự kiểm tra (hoặc nhờ GV kiểm tra) được một bài thì chuyển 6 sang làm bài tiếp theo. GV hãy gợi ý cách làm bài đối với HS làm bài chậm, giúp HS khá giỏi tập khai thác hết nội dung của từng bài tập. Khi cần thiết có thể cho HS trao đổi ý kiến trong nhóm nhỏ hoặc trong toàn lớp, về cách giải bài tập; nên khuyến khích HS bình luận về cách giải của bạn, tự rút kinh nghiệm về cách học của bản thân. Khuyến khích HS tự kiểm tra kết quả thực hành, luyện tập: Tập cho HS thói quen làm xong bài nào cũng phải tự kiểm tra xem có làm nhầm, làm sai không. Nên hướng dẫn HS tự đánh giá bài làm của mình, của bạn bằng điểm rồi báo cáo cho GV. Khuyến khích HS tự nói ra những hạn chế của mình, của bạn sau khi tự kiểm tra, tự đánh giá Tập cho HS thói quen không thoả mãn với bài làm của mình, với các cách giải đã có: Sau mỗi tiết học, tiết luyện tập nên tạo cho HS niềm vui vì đã hoàn thành công việc được giao, niềm tin vào sự tiến bộ của bạn thân (bằng khuyến khích, nêu gương, ...). Tạo cho HS mong muốn tìm được giải pháp tốt nhất cho bài làm của mình, vì vậy, cho dù đã hoàn thành bài học hoặc bài làm, HS cũng vẫn không thoả mãn những gì đã đạt được. HS luôn luôn tìm cách hoàn thiện công việc đã làm. Các “bài tập mở” trong toán 1 là phương tiện để động viên HS tìm nhiều phương án giải quyết một vấn đề và biết tự chọn phương án hợp lí nhất đừng bao giờ “áp đặt” HS theo phương án có sẵn, hãy động viên các em tìm cách lực chọn phương án tốt nhất. Yêu cầu dạy học toán lớp 1 là phải thật “hấp dẫn” được trẻ, tạo hứng thú học tập cho trẻ, phải phù hợp với lứa tuổi của trẻ mới qua mẫu giáo. Nếu trong giờ học toán, GV chỉ dùng một hình thức dạy học thì HS sẽ mau nhàm chán, thiếu sự tập trung, chú ý, giờ học sẽ không đạt kết quả cao; vì vậy trong giờ học toán GV nên dùng nhiều hình thức khác nhau để giải quyết vấn đề hoặc giải các bài tập, xong vẫn đảm bảo được mục tiêu bài học. Đối với HS lớp 1, chơi cũng là một nhu cầu không thể thiếu được; vì vậy việc sử dụng các trò chơi học tập trong giờ học toán là hết sức cần thiết và có ích. 7 Khi chơi HS tưởng tượng, suy ngẫm, thử nghiệm, lập luận để đạt kết quả mà lại không nghĩ là mình đang học sự “khô khan” của giờ học toán, do đó sẽ được giảm nhẹ, quá trình học tập sẽ diễn ra một cách tự nhiên hơn, hấp dẫn hơn. Trong dạy học tích cực, vai trò của đồ dùng dạy học đã thay đổi, đồ dùng dạy học chủ yếu dùng cho HS thực hành, khám phá trí thức. GV không còn là người biểu diễn cho HS quan sát mà trở thành người tổ chức học tập cho HS. HS thông qua thực hành trên đồ dùng dạy học để nhận xét và rút ra kiến thức mới. Trong tổ chức hoạt động dạy học, muốn tạo môi trường hứng thú, tích cực cho HS, nên tổ chức cho HS được làm việc trên các thiết bị học tập của mỗi em; đó là cách học tốt nhất nó sẽ “tích cực hoá” quá trình nhận thức của trẻ. Đồng thời tạo môi trường làm việc hợp tác giữa thầy và trò, giữa trò với trò, các em tự tin hơn, chủ động hơn trong viêc tiếp thu kiến thức; đó cũng là góp phần tích cực thay đổi phương pháp dạy học toán ở tiểu học nói chung và lớp 1 nói riêng. Để giúp học sinh thực hiện những hoạt động giải toán có lời văn có hiệu quả, người giáo viên phải có biện pháp để rèn luyện cho học sinh theo các kỹ năng sau: Tập cho học sinh làm quen với việc nhận dạng bài toán có lời văn * Dạng 1: Bài toán có đề sẵn chỉ yêu cầu điền số + Ví dụ 1: (Bài 1 trang 115 SGK lớp 1) Bài toán: Có ...bạn, thêm bạn đang đi tới. Hỏi tất cả bao nhiêu bạn? - Theo bài toán: Sau khi đọc đề toán cho học sinh nghe xong, giáo viên hướng dẫn học sinh điền số. - Sau khi điền số ta được bài toán sau: 8 + Có 1 bạn, thêm 3 bạn đang đi tới. Hỏi có tất cả bao nhiêu bạn? - Bài toán cho biết gì? (Có 1 bạn có thêm 3 bạn nữa) - Bài toán hỏi gì? (Hỏi có tất cả bao nhiêu bạn) - Hướng dẫn giải Bài giải: Có tất cả số bạn là: 1 + 3 = 4 (bạn) Đáp số: 4 bạn - Giáo viên cho học sinh điền số có nhiều bài toán tương tự chỉ khác số liệu, qua đó rèn cho học sinh kỹ năng nhận dạng bài toán. + Ví dụ 2: Liên hệ thực tế: Giáo viên lấy đề toán gần gũi với học sinh. Bài toán: Trong nhà có 2 quả bí. Bố gửi về thêm 7 quả nữa. Hỏi trong nhà có tất cả bao nhiêu quả bí? - Sau khi điền số ta được một bài toán hoàn chỉnh - Bài toán cho biết gì? (Có 2 quả bí, có thêm 7 quả bí nữa) - Bài toán hỏi gì? (Hỏi có tất cả bao nhiêu quả bí) - Hướng dẫn giải Bài giải: Số quả bí có tất cả là: 2 + 7 = 9 (quả bí) Đáp số: 9 quả bí * Dạng 2: Viết tiếp câu hỏi để có đề toán: + Ví dụ 1: (Bài 3 trang 116 SGK lớp 1) 9 Bài toán: Có một gà mẹ và 7 gà con. Hỏi ? - Giáo viên hướng dẫn học sinh đọc đề toán xong. - Giáo viên hỏi: Bài toán còn thiếu gì? (Bài toán còn thiếu câu hỏi) - Các em có thể trả lời khác nhau - Hỏi có tất cả mấy con gà? - Hỏi cả gà mẹ và gà con có tất cả bao nhiêu con? - Hỏi có bao nhiêu con gà tất cả? - Mỗi lần học sinh nêu câu hỏi lại cho học sinh đọc toàn bộ bài toán. - Trong các câu hỏi đều phải có “từ hỏi nằm ở đầu câu” - Trong câu hỏi của bài toán đều có từ tất cả. - Giáo viên hướng dẫn giải: Bài giải Số gà có tất cả là: 1 + 7 = 8 (con) Đáp số: 8 con + Ví dụ 2: Giáo viên lấy đề toán gần gũi với học sinh: Bài toán: An câu được 4 con cá. Bình câu được 6 con cá. Hỏi: ..? - Tương tự như ví dụ 1 học sinh sẽ trả lời - Hỏi có tất cả mấy con cá ? - Hỏi 2 bạn câu được tất cả mấy con cá ? - Hỏi An và Bình câu được tất cả mấy con cá ? 10 - Hỏi có bao nhiêu con cá tất cả ? - Mỗi lần học sinh nêu lại câu hỏi cho học sinh đọc lại bài toán - Giáo viên hướng dẫn giải : Bài giải : Số cá An và Bình câu được tất cả là: 4 + 6 = 10 (con) Đáp số: 10 con * Dạng 3: Nhìn tranh vẽ tiếp vào các chỗ chấm để có bài toán: + Ví dụ 1: ( Trang 116 bài 4 SGK lớp 1 ) Bài toán: Có con chim đậu trên cành, có thêm . con chim bay đến. Hỏi ..? - Cho học sinh đọc đề. - Hướng dẫn học sinh điền số: Số 4 và số 2 (số 4 trước số 2 sau ) - Hướng dẫn học sinh viết tiếp câu hỏi . - Hỏi trên cành cây có tất cả mấy con chim ? - Hỏi có tất cả mấy con chim đang đậu trên cành ? - Hỏi có bao nhiêu con chim tất cả ? - Hướng dẫn giải 11 Bài giải: Số con chim đậu trên cành là : 4 + 2 = 6 (con ) Đáp số: 6 con chim + Ví dụ 2: Ví dụ gần gủi với học sinh Bài toán: Trên bảng hàng trên có chiếc thuyền . Hàng dưới có .. chiếc thuyền nữa . Hỏi ? - Học sinh sẽ trả lời: Trên bảng hàng trên có 3 chiếc thuyền. Hàng dưới có thêm 2 chiếc thuyền nữa. Hỏi cả 2 hàng có bao nhiêu chiếc thuyền? “Hoặc”. Hỏi có tất cả bao nhiêu chiếc thuyền ? - Học sinh sẽ trả lời: Trên bảng hàng trên cô có 3 chiếc thuyền. Hàng dưới có thêm 2 chiếc thuyền nữa. Hỏi cả 2 hàng có bao nhiêu chiếc thuyền? “Hoặc”. Hỏi có tất cả bao nhiêu chiếc thuyền ? Bài giải: Số thuyền có tất cả lả: 3 + 2 = 5 (chiếc) Đáp số: 5 chiếc thuyền Việc hình thành kĩ năng giải toán có lời văn cho học sinh lớp 1 là một việc hết sức quan trọng. Nó tạo nền móng để học sinh giải toán ở các lớp trên với bài toán có nhiều lời giải ,nhiều phép tính. Đó là con đường tốt nhất 12 để trẻ chiếm lĩnh những thao tác trí tuệ nhằm phát triển năng lực của chính bản thân mình. Rèn luyện kỹ năng tóm tắt bài toán bằng lời văn qua hình vẽ - Dùng hình vẽ tóm tắt lá cách tốt nhất để diễn tả tốt nhất một cách trực quan giúp ta lược bỏ những cái không bản chất để tập trung vào những cái có bản chất của bài toán, điều này giúp cho nội dung bài toán được bộc lộ rõ nét. Gợi ra con đường suy nghĩ để tìm ra cách giải. + Ví dụ 2: Nhà em Toàn có 5 con trâu và 7 con dê. Hỏi nhà em Toàn có tất cả mấy con trâu và dê? - Tóm tắt: Có 5 con trâu và 7 con dê Hỏi có cả trâu và dê ? Bài giải: Số con trâu và dê có là: 7 + 5 = 12 (con) Đáp số: 12 con trâu và dê Rèn luyện kỹ năng phân tích bài toán và tìm lời giải - Có thể xem phân tích bài toán là một quá trình tách bài toán thành phần nhỏ, đơn giản để đi đến thiết lập 1 cách giải. + Ví dụ 1: Cửa hàng có 15 con búp bê, đã bán đi 2 con búp bê. Hỏi cửa hàng còn lại bao nhiêu con búp bê ? Muốn giải được bài toán này, giáo viên phải đặt hệ thống câu hỏi, thiết lập quy trình phân tích bài toán như sau: Bài toán cho biết gì? (15 con búp bê) Bài toán biết gì nữa?(Đã bán đi 2 con). Bài toán hỏi gì?(Còn lại mấy con) 13 - Muốn tính số con búp bê còn lại ta làm như thế nào? Thực hiện phép tính gì? - Dựa vào hệ thống câu hỏi và gợi ý của giáo viên học sinh hiểu được yêu cầu của bài toán và xác định được cách giải của bài toán trên cơ sở đó trình bày bài giải: Bài giải: Số búp bê còn lại là: 15 – 2 = 13 (con búp bê) Đáp số: 13 con búp bê + Ví dụ 2: Em có 9 quả bắp, em ăn hết 4 quả. Hỏi em còn lại mấy quả? Muốn giải bài toán này giáo viên phải đặt hệ thống câu hỏi thiết lập quy trình câu hỏi như sau: - Bài toán cho biết gì? 9 quả bắp - Bài toán cho biết gì? Ăn hết 4 quả - Bài toán hỏi gì? Còn lại mấy quả? - Muốn tính được số bắp còn lại ta làm như thế nào? Thực hiện phép tính gì? Dựa trên hệ thống câu hỏi và gợi ý của giáo viên học sinh hiểu được yêu cầu của bài toán và xác định được cách giải của bài toán trên cơ sở đó trình bày bài giải Bài giải: Số quả bắp còn lại là: 9 - 4 = 5 ( quả bắp) Đáp số: 5 quả bắp 14 Rèn luyện kỹ năng trình bày bài giải theo nhiều lời giải khác nhau nhưng cùng một nội dung + Ví dụ 1: Thanh câu được 9 con cá. Thơm câu được 5 con cá. Hỏi 2 bạn câu được tất cả mấy con cá? Các lời giải học sinh có thể nêu là: - Số cá có tất cả là: - Số cá 2 bạn câu được là: - Cả 2 bạn câu được là: - Số Cá có là: Nhưng chỉ có một phép tính duy nhất đi kèm đó là: 9 + 5 = 14 con cá. Trình bày bài giải: Bài giải: Cả 2 bạn câu được là: 9 + 5 = 14 (con cá) Đáp số: 14 con cá. + Ví dụ 2: Nhà An có 8 buồng chuối, Nhà Thơm có 7 buồng chuối. Hỏi 2 nhà có tất cả bao nhiêu buồng chuối? Các lời giải học sinh có thể nêu là: Số buồng chuối có tất cả là: Số chuối 2 nhà có là: Cả 2 nhà có là: Số chuối có là: - Nhưng chúng có chung một phép tính giải là: Bài giải: Cả 2 nhà có là: 8 + 7 = 15 (buồng chuối) Đáp số:15 buồng chuối. Kĩ năng giải toán có lời văn đối với học sinh lớp 1 được hình thành và phát triển thông qua việc luyện tập. Điều này rất phù hợp với tâm lí lứa tuổi. Nó vừa là điều kiện , vừa là kết quả của quá trình giải toán . * Kết quả của sáng kiến Tạo ra các tiết học Toán hứng thú. 15 HS thích học môn toán, không còn cảm thấy sợ giải toán có lời văn nữa, các bài toán có lời văn trở nên gần gũi với các em. Học sinh tự tin trình bày trước lớp HS không chỉ giải được các bài toán có lời văn, mà còn có cách giải khác nhau và quan trọng hơn nữa là hiểu được bản chất và ý nghĩa của bài toán mình làm. Các em hiểu sâu kiến thức, thấy được sự liên quan giữa kiến thức và thực tế. Cuối cùng, các năng lực toán học như tư duy và lập luận, giao tiếp toán học, giải quyết vấn đề toán học của HS lớp 1 dần được hình thành và phát triển. 16 Sản phẩm được tạo ra từ giải pháp 7.2. Thuyết minh về phạm vi áp dụng sáng kiến Áp dụng cho dạy học nội dung giải toán có lời văn lớp 1 theo Chương trình ĐM GDPT 2018 ở Trường Tiểu học Tiến Thắng.. 7.3. Thuyết minh về lợi ích kinh tế, xã hội của sáng kiến Sau một thời gian áp dụng các biện pháp nêu trên vào dạy học nội dung giải toán có lời văn ở lớp mình, tôi thấy hứng thú học tập và chất lượng học toán của các em có sự chuyển biết rõ rệt. Các năng lực toán học như tư duy và lập luận, giao tiếp toán học, giải quyết vấn đề toán học...của các em đã dần được hình thành và phát triển. Giờ học toán luôn ở trạng thái "động". Xác nhận của cơ quan, đơn vị HIỆU TRƯỞNG Tác giả sáng kiến Dương Mạnh Nguyên Nguyễn Thị Thành
File đính kèm:
hinh_thanh_va_phat_trien_nang_luc_toan_hoc_cho_hoc_sinh_lop.pdf



