Tạo hứng thú học tập cho học sinh lớp 3 khi tham gia lớp học trực tuyến
Bạn đang xem nội dung tài liệu Tạo hứng thú học tập cho học sinh lớp 3 khi tham gia lớp học trực tuyến, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút TẢI VỀ ở trên
MỤC LỤC Trang I. PHẦN MỞ ĐẦU . . 2 1. Lí do chọn đề tài . . 2 2. Mục đích nghiên cứu . 3 3. Nhiệm vụ nghiên cứu . 3 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu. .. 4 5. Phương pháp nghiên cứu. 4 II. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 1. Cơ sở lí luận . 4 2. Cơ sở thực tiễn . ... 5 3. Nguyên nhân . . 6 4. Các biện pháp . . 7 III. KẾT QUẢ VÀ ỨNG DỤNG 14 IV. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 16 1. Kết luận . .. 16 2. Kiến nghị . ... 16 2 I. PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Dịch bệnh đã diễn biến tại nước ta suốt 2 năm qua, học sinh cũng đã dần làm quen với việc học trực tuyến vì tình hình dịch bệnh kéo dài, xong phụ huynh và học sinh vẫn gặp phải không ít khó khăn trong quá trình học tập trực tuyến. Trước diễn biến phức tạp của dịch COVID-19, việc chuyển đổi hình thức dạy học thông qua các ứng dụng internet cho học sinh là giải pháp tình thế cấp thiết thay cho các lớp học truyền thống. Nhưng việc học trực tuyến vẫn còn gặp phải nhiều hạn chế, một trong số hạn chế đó là việc học sinh chưa thực sự tích cực, hào hứng khi học trực tuyến thậm chí còn cảm thấy nhàm chán khi tham gia các tiết học. Đại dịch Covid-19 đang diễn ra vô cùng phức tạp không chỉ ở nước ta mà còn trên toàn thế giới. Nó không chỉ ảnh hưởng về mặt đời sống, kinh tế, xã hội của mỗi quốc gia mà còn ảnh hưởng nghiêm trọng tới các hoạt động Giáo dục đào tạo. Theo thống kê của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hợp quốc (UNESCO) cho thấy: 188 quốc gia trên thế giới đã thực hiện đóng cửa trường học các cấp từ ngày 4/5/2020, ảnh hưởng đến 91,3% học sinh, sinh viên. Tổng số học sinh, sinh viên bị ảnh hưởng là 1.576.021.818 người”. (Nguồn unicef.org) Đối với nước ta, đại dịch Covit- 19 đã ảnh hưởng tới hơn 20 triệu học sinh, sinh viên và gần 2 triệu nhà giáo các cấp học chưa thể tiếp tục dạy học và học theo phương thức dạy học trực tiếp. Nhiều cơ sở giáo dục và đào tạo phải đóng cửa kéo dài hoặc chuyển sang dạy học trực tuyến. Tình trạng này bị gián đoạn và kéo dài qua bốn đợt bùng phát dịch COVID-19 đã ảnh hưởng không nhỏ đến việc bảo đảm chương trình, phương pháp, kế hoạch tổ chức dạy và học, hoạt động của trường, lớp và đến sự phát triển của trẻ em, học sinh cả nước. 3 Dạy học trực tuyến là giải pháp được nhiều quốc gia và các tổ chức giáo dục lựa chọn trong thời kỳ COVID-19. Dạy học trực tuyến là phương pháp giảng dạy khá hiệu quả mà giáo viên và học sinh cần áp dụng một cách có định hướng để truyền tải kiến thức đến học sinh một cách linh hoạt, giúp cho người học theo được mạch bài giảng đạt được mục tiêu của bài học và môn học... Dạy học trực tuyến đã, đang và sẽ trở thành xu hướng được tăng cường, củng cố và dần trở thành một xu thế tất yếu, nhiệm vụ chính trong các nhiệm vụ triển khai năm học để thích ứng với tình hình mới. Đối với giáo dục tiểu học, việc triển khai dạy học trực tuyến, qua truyền hình là giải pháp hữu hiệu của các nhà trường nhằm giúp học sinh không quên kiến thức, duy trì nền nếp học tập. Sau 2 năm học dạy học trực tuyến, các thầy cô đã tiếp cận được với rất nhiều các công cụ hiện đại và học sinh cũng đã quá quen thuộc với các công cụ này. Với mong muốn luôn đổi mới trong các tiết học, nhất là trong dạy học trực tuyến giúp học sinh không bị nhàm chán, tôi mạnh dạn đưa các giải pháp “Tạo hứng thú học tập cho học sinh lớp 3 khi tham gia lớp học trực tuyến” 2. Mục đích nghiên cứu Trong quá trình dạy - học trực tuyến tại lớp 3A1 do tôi chủ nhiệm, tôi nhận thấy để tạo ra hứng thú cho học sinh khi học trực tuyến thì cần rất nhiều yếu tố như phương pháp giảng dạy của giáo viên, thiết bị học tập, các tài liệu học tập, cách thức làm việc nhóm, Nhưng điều quan trọng khiến học sinh cảm thấy thích thú, hào hứng với mỗi tiết học trực tuyến nằm ở vai trò của giáo viên. Người giáo viên phải biết cách kích thích, khơi gợi khám phá, gây tò mò để học sinh thể hiện tối đa năng lực của mình, giải quyết tốt các vấn đề đặt ra. 3. Nhiệm vụ nghiên cứu - Điều tra thực trạng, nguyên nhân của việc học trực tuyến hiện nay. 4 - Đề xuất áp dụng các biện pháp cụ thể giúp học sinh có hứng thú khi tham gia lớp học trực tuyến. 4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu - Đối tượng nghiên cứu: Tạo hứng thú học tập cho học sinh lớp 3 khi tham gia lớp học trực tuyến. - Phạm vi nghiên cứu: Học sinh lớp 3a1 năm học 2022 -2023 - Thời gian: Từ tháng 9 năm 2022 5. Phương pháp nghiên cứu Để thực hiện biện pháp này, tôi đã sử dụng các phương pháp sau: - Phương pháp nghiên cứu tài liệu: + Đọc các tài liệu sách, báo, tạp chí giáo dục... có liên quan đến nội dung biện pháp. + Đọc sách giáo khoa, sách giáo viên, các loại sách tham khảo. - Phương pháp nghiên cứu thực tiễn + Phương pháp quan sát + Phương pháp điều tra + Phương pháp phỏng vấn - Phương pháp thống kê toán học. II. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 1. Cơ sở lý luận “Hứng thú học tập là thái độ đặc biệt của người học đối với đối tượng học tập và gắn với quá trình hoạt động học tập của họ, tạo ra khoái cảm và thôi thúc người học chủ động chiếm lĩnh tri thức” (Nguyễn Hoài Nam, Cao Thị Quyên (2014)). Như vậy, khi con người có hứng thú học tập thì bất kể đó là hình thức nào, họ cũng sẽ chủ động, tích cực thể hiện được sự sáng tạo nhất định của mình. Sự hứng thú đó giúp họ có động lực để xác định các động cơ học tập đúng đắn, có mục tiêu rõ ràng để đạt được kết quả như mong đợi. * Đặc điểm nhận thức của học sinh lớp 3 5 Về tri giác: Học sinh lớp 3 là học sinh ở các lớp học đầu cấp của Tiểu học nên các em rất nhạy cảm với tác động bên ngoài. Tri giác của các em mang tính đại thể, ít đi sâu vào chi tiết và nặng về tính không chủ định, do đó mà các em phân biệt các đối tượng còn chưa chính xác, dễ mắc sai lầm và có khi còn lẫn lộn, khả năng phân tích chưa phát triển. Về chú ý: Chú ý không chủ định được phát triển mạnh và chiếm ưu thế ở học sinh lớp 3. Sự chú ý không chủ định của học sinh càng trở nên đặc biêt tập trung và bền vững khi tài liệu học tập có tính trực quan, sinh động, khơi gợi ở học sinh những rung cảm tích cực. Về trí nhớ: Trí nhớ trực quan - hình tượng và trí nhớ máy móc phát triển hơn trí nhớ logic- từ ngữ. Các em ghi nhớ, gìn giữ và nhớ lại các hiện tượng, hình ảnh tốt hơn là các câu chữ, hình tượng khô khan. Dưới ảnh hưởng của hoạt động học tập, trí nhớ có chủ định, trí nhớ từ ngữ - logic xuất hiện, phát triển còn chịu tác động nhiều của hứng thú, kinh nghiệm sống và các hình mẫu đã biết. Với những đặc điểm trên thì quá trình nhận thức của học sinh lớp 3 còn mang tính trực quan chưa có khả năng tư duy logic và tổng hợp như học sinh ở các khối lớp trên. 2. Cơ sở thực tiễn 2.1. Thực trạng Trước diễn biến phức tạp của dịch COVID -19, việc chuyển đổi hình thức dạy học thông qua các ứng dụng trực tuyến cho học sinh là giải pháp tình thế cấp thiết thay cho các lớp học truyền thống. Nhưng việc học trực tuyến vẫn còn gặp phải nhiều hạn chế, một trong số hạn chế đó là việc học sinh chưa thực sự tích cực, hào hứng khi học trực tuyến thậm chí còn cảm thấy nhàm chán khi tham gia các tiết học. 6 Qua quá trình tổ chức dạy hoc thực hiện tham dò và khảo sát học sinh tôi thu được kết quả như sau: Khi chưa áp dụng biện pháp Kết quả khảo sát Số lượng Tỉ lệ % Tích cực 5 16,7% ( Thích, hiểu) Bình thừơng 7 23,3% Chưa tích cực 18 60% ( Không thích, không hiểu Từ bảng số liệu trên số lượng học sinh tích cực tham gia còn rấtít chiếm tỉ lệ 16,7% trong khi tỷ lệ học sinh chưa tích cực chiếm số lượng lớn 60%. Tôi thiết nghĩ nguyên nhân của thực trạng trên là do tiết học trực tuyến chưa thực sự đem lại cảm giác hứng thú, phấn khích khi tham gia học tập 2.2. Nguyên nhân Từ thực trạng các trên tôi đã tìm hiểu và đưa ra các nguyên nhân trực tiếp và gián tiếp đã tới việc học sinh chưa thật sự hào hứng, tích cực trong các tiết học như sau: Thứ nhất, giờ học quá dài: Sức tập trung của con người có giới hạn nhất định đặc biệt là sự tập trung một chiều. Sự tập trung một chiều trước màn hình quá lâu khiến chúng ta căng thẳng về tâm lý cho nên giờ học onine quá dài sẽ khiến học sinh căng thẳng và áp lực. Thứ hai, tương tác một chiều: Khi lên lớp thầy cô thường sợ không truyền tải được hết nội dung bài cho học sinh nên có thói quen thuyết giảng liên tục, liên tục. Việc thuyết giảng một chiều nhiều quá sẽ khiến học sinh khó khăn khi học tập. 7 Thứ ba, ít có sự giao tiếp cảm xúc tích cực: Những biểu cảm của cô giáo như tức giận, vui vẻ, hạnh phúc có thể truyền tải tới học sinh được không và ngược lại. Những biểu cảm về cảm xúc không được truyền đến với nhau, học sinh không cảm nhận được những biểu cảm tức giận, vui vẻ hay hạnh phúc của cô giáo và ngược lại cũng sẽ khiến học sinh cảm thấy nhàm chán. Xuất phát từ những nguyên nhân trên tôi mạnh dạn đề xuất áp dụng một số biện pháp sau. 3. Các biện pháp 3.1. Biện pháp 1: Lồng ghép các trò chơi học tập vào bài giảng Để khơi gợi sự hứng thú cho học sinh trong suốt một buổi học thì cách vào bài lôi cuốn và hấp dẫn là điều vô cùng cần thiết. Thay vì thầy cô vào bài một cách trực tiếp thì thầy cô có hãy bắt đầu bài dạy của mình bằng cách đưa ra một vấn đề để thu hút sự tham gia của học sinh và đó cũng là cách hiệu quả nhất để học sinh nhanh chóng vào bài. Ví dụ, chuẩn bị một trò chơi học tập liên quan đến bài học hay một trò chơi khởi động trước khi vào bài mới nhằm ôn lại kiến thức cũ sẽ giúp học sinh cảm thấy phấn kich, hứng thú ngay từ đầu. Một số trò chơi khởi động đầu tiết học như Ai nhanh ai đúng, Trò chơi ô chữ, Hộp quà bí mật.... Ví dụ: Môn Tự nhiên và Xã hội - Lớp 3 Bài 12: Các bộ phận của thực vật và chức năng của chúng + Hoạt động 1: Mở đầu: GV tổ chức trò chơi “Hộp quà bí mật” (Hình 1) 8 Trong quá trình học trực tuyến, các em bị gò bó, mệt mỏi nên giáo viên thường tổ chức các trò chơi vận động vào giữa các tiết học giúp các em thư giãn thoái mái hơn có thể kể đến như: gió thổi, trời mưa trời mưa, Ví dụ: Môn toán lớp 3 Bài: Luyện tập Hình 2 Ngoài ra, còn rất nhiều phần mềm khác giúp giáo viên thiết kế các trò chơi cho giờ dạy trực tuyến như là: Quizizz, dùng Menti.com, Qua đó, các em được thao tác, kéo thả, ấn chọn ngay trên màn hình nên rất thích. Hình 3 9 3.2. Biện pháp 2: Lồng ghép câu chuyện minh họa cho bài giảng Học sinh tiểu học rất thích được nghe kể chuyện đơn giản bởi vì khi nghe kể chuyện chúng được giải tỏa mọi căng thẳng trong quá trình học tập. Đây là cách tuyệt vời để thay đổi “Khẩu vị” cho bài học. Chúng còn được phép tưởng tượng mình là nhân vật trong câu chuyên cô giáo kể, được tưởng tượng theo lời kể của cô thay vì nhìn chằm chằm vào cuốn sách, cuốn vở hay những chiếc bảng đen. Những thứ đó đôi khi làm học sinh căng thẳng khiến các em nhàm chán. Việc kể một câu chuyện để minh họa cho một bài học như thế nào? điều này phụ thuộc vào sự linh hoạt của mỗi thầy cô. Ví dụ: Khi dạy bài “Bảng chia 7” của môn toán lớp 3 Để tạo sự hứng thú và hào hứng trước khi vào bài mới. Giáo viên kể cho học sinh nghe câu chuyện “ Mẹ con Thỏ trắng” Câu chuyện như sau: Trên đường đi làm cô giáo có gặp 2 mẹ con Thỏ trắng. Thỏ trắng nói với mẹ rằng “ Mẹ ơi, hôm nay ở lớp cô giáo hỏi con rằng làm thế nào để hình thành bảng cho 7. Con nghĩ mãi không ra mẹ ạ” Thỏ mẹ cũng nghĩ mãi không ra nên đã nhờ cô giáo lên lớp nhờ các bạn lớp mình chỉ giúp Thỏ trắng cách hình thành bảng chia 7 đấy. Các em có đồng ý giúp bạn Thỏ trắng không nào? Ở đây học sinh vừa được hóa thân vào câu chuyện của cô giáo kể, vừa được học tập Phương pháp giải quyết vấn đề. Học sinh rất hào hứng tham gia giúp bạn Thỏ trắng và cũng chính là quá trình các em học tập để hình thành kiến thức mới của bài học. 3.3. Biện pháp 3: Tăng cường sự tương tác giữa thầy cô và học sinh Thu hút học sinh vào bài giảng đôi khi bằng cách rất nhỏ đến từ sự tương tác giữa cô và trò. Trước mỗi giờ học, cô và trò cùng giao lưu với nhau bằng nhiều cách khác nhau sẽ khiến không khí lớp học trở lên thoải mái, dễ chịu và bớt căng thẳng hơn. Có thể cô giáo sẽ đặt ra một vài câu hỏi để học sinh trả lời hoặc giúp các em thư giãn bằng việc nói chuyện cùng các em về 10 vấn đề cuộc sống đôi khi liên quan đến bài học nhất là các môn tự nhiên liên quan đến đời sống. Ví dụ: + Giáo viên sẽ vào phòng zoom sớm hơn tầm 15 phút để trò chuyện với học sinh + Giáo viên có thể hướng dẫn cụ thể cách sử dụng biểu tượng cần thiết. Hình 4 Hình 5 Ngoài ra, giáo viên cần kết hợp lời nói và câu lệnh thông qua kí hiệu ngôn ngữ riêng của cô và trò. Cô giáo sẽ đưa ra những biểu đạt cảm xúc, biểu cảm nội dung muốn chia sẻ tới học sinh khi gặp sự cố học sinh không nghe rõ lời cô giáo nói trong bài học. 11 Hình 6 ( Kỹ năng nghe) Hình 7 ( Kỹ năng nhìn) Hình 8( Ký hiệu nói) Hình 9 ( Ký hiệu đếm) 12 Hình 10 ( Ký hiệu khoanh) Hình 11 (Ký hiệu nhắc lại) Không thể phủ nhận vai trò vô cùng quan trọng đến từ ngôn ngữ giao tiếp. Giáo viên nên giảng bài theo cách hài hước, mềm mỏng chính là “phương tiện” giúp giáo viên gần gũi với học sinh hơn. Vừa giúp cho giờ dạy bớt căng thẳng vừa tạo được không khí lớp học thoải mái. Hình ảnh luôn là thứ thu hút, lôi cuốn khiến học sinh tập trung vào bài học, không làm việc riêng trong suốt tiết học. Cho nên việc thiết kế bài giảng lôi cuốn học sinh bằng cách lồng ghép âm thanh, hình ảnh trong tiết dạy là điều vô cùng quan trọng. Ví dụ: Khi dạy môn Tự nhiên và Xã hội – Lớp 3 Hình 12 13 Tuy nhiên, chúng ta cũng nên điều tiết các hình ảnh, âm thanh một cách phù hợp trong mỗi tiết học trách việc học sinh quá thích thú, chú ý quá nhiều vào hình ảnh và âm thanh khiến học sinh k tập trung vào nội dung chính của bài. 3.4. Biện pháp 4: Tăng cường sự tương tác giữa học sinh với học sinh Để tạo được sự tương tác nhịp nhàng giữa học sinh với học sinh thì vai trò của giáo viên vô cùng quan trọng. Do đó, giáo viên cần tận dụng trang mạng xã hội facebook, zalo chia học sinh trong lớp thành các nhóm để hướng dẫn các em thảo luận nhóm hoàn thành các nhiệm vụ học tập được giao. Ví dụ: Nhóm 1 có 5 em trong một nhóm chat Zalo nhận nhiệm vụ học tập và tiến hành thảo luận, báo cáo kết quả sau khi hoàn thành. Trước khi dạy môn Tự nhiên và Xã hội - lớp 3. Bài 50: Các bộ phận của thực vật và chức năng của chúng Giáo viên gửi câu hỏi trước khi học bài khoảng 30 phút.“ Quan sát vào hình ảnh và nêu tên các bộ phận của cây đậu tương”. Hình 13 14 + Giáo viên yêu cầu học sinh nghiên cứu sách giáo khoa kết hợp giữa hiểu biết thực tế thảo luận với nhau qua học nhóm giáo viên đã lập sẵn. Hình 14 Bước vào bài học, giáo viên kiểm tra kết quả làm việc của các nhóm, các nhóm tự thống nhất kết quả những ý tưởng riêng nhóm mình rồi trình bày chia sẻ trong tiết học. Giáo viên tổng hợp kiến thức của học sinh và tiếp tục học sinh hoàn thành nhiệm vụ của tiết học. III. KẾT QUẢ VÀ ỨNG DỤNG 1. Kết quả Tôi tiến hành khảo sát với 30 học sinh lớp tôi chủ nhiệm, tôi thuu được kết quả như sau. 15 Bảng số liệu so sánh tỉ lệ các mức độ khi chưa áp dụng và sau khi áp dụng biện pháp Khi chưa áp dụng biện Sau khi áp dụng biện pháp Kết quả khảo pháp sát Số lượng Tỉ lệ % Số lượng Tỉ lệ % Tích cực 5 16,7% 20 66,7% ( Thích, hiểu) Bình thừơng 7 23,3% 9 30% Chưa tích cực ( Không thích, 18 60% 1 3,3% không hiểu Kết quả khi thực hiện giải pháp: Tích cực (Thích, hiểu): 20 HS = 66,7% Bình thường : 9 HS = 30% Không tích cực ( Không thích, không hiểu): 1 HS = 3,3% Qua bảng khảo sát tôi nhận thấy số lượng học sinh tích cực tăng lên rất nhiều từ 16,7% lên 66,7%. Số lượng học sinh chưa tích cực giảm đi rõ rệt từ 60% xuống còn 3,3%. Tôi nhận thấy đây là một kết quả rất khả quan. 2. Ứng dụng Việc áp dụng các biện pháp ở trên đã thực sự đã hiệu quả hơn rất nhiều. Học sinh không còn cảm thấy nhàm chán khi tham gia học trực tuyến mà thay vào đó các em học sinh đã cảm thấy hào hứng, phấn khích và thích thú mỗi khi học trực tuyến. Tôi thiết nghĩ nó phù hợp với lớp tôi chủ nhiệm và có thể nhân rộng với các khối lớp khác trong và ngoài nhà trường. 16 IV. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 1. Kết luận. 1.1. Ý nghĩa của biện pháp Sau khi áp dụng các giải pháp trên vào các tiết học tại lớp 3A1 do mình chủ nhiệm. Tôi thật sự hài lòng với kết quả học tập của học sinh tại lớp mình áp dụng. Tiết học trở nên hào hứng hơn, sinh động hơn, sôi nổi hơn, xua tan được bầu không khí căng thẳng trong giờ học. Đặc biệt sau khi áp dụng các giải pháp trên vào buổi học trực tuyến tại lớp tôi, học sinh đã nhận thức bài tốt hơn, khắc sâu kiến thức hơn nhờ vào các trò chơi học tập, các câu chuyện gần gũi với các em và sự sinh động từ các hình ảnh, âm thanh của bài học. Không có hiện tượng nào ngủ gật, chán ản, nằm nhoài ra bàn trong giờ học, học sinh bước vào tiết học với tâm trạng 1.2. Bài học kinh nghiệm Qua vận dụng thực tế, tôi nhận thấy rằng để tạo hứng thú cho học sinh khi tham gia học trực tuyến điều quan trọng hơn cả là luôn tạo hứng học tập, khơi gợi sự tò mòi, ham học hỏi của học sinh trong các tiết học để từ đó thêm yêu thích môn và không còn cảm thấy nhàm chán. Giáo viên cần quan tâm đổi mới phương pháp trong dạy học, không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, tay nghề. Từ chỗ nắm vững nội dung, chương trình và cấu trúc sách giáo khoa, chúng ta dạy học sẽ có hiệu quả thiết thực và điều chỉnh trên cơ sở tổ chức các hoạt động học tập tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh. 2. Kiến nghị Giáo viên nên tạo ra không khí học tập thoải mái, vui vẻ, giúp đỡ học sinh còn hạn chế mạnh dạn, tự tin hơn trong học tập. Giáo viên luôn luôn sử dụng các phương pháp dạy học linh hoạt, tổ chức giờ học sáng tạo phong phú giúp học sinh hứng thú, tích cực hơn trong học tập. 17 Trên đây là một vài kinh nghiệm nhỏ mà bản thân tôi đúc rút được qua quá trình giảng dạy. Tuy nhiên, do thời gian có hạn và năng lực còn hạn chế chắc hẳn sẽ có những thiếu sót. Rất mong sự góp ý, giúp đỡ của quý thầy cô và các bạn đồng nghiệp để sáng kiến của tôi được hoàn thiện hơn. Tôi xin trân trọng cảm ơn! 18 TÀI LIỆU THAM KHẢO [1] Nguyễn Quang Uẩn - Nguyễn Kế Hào - Phan Thị Thanh Mai, Tâm lí học, NXBGD, NXBĐHSP, 2007. [2] Đỗ Đức Thái ( Tổng chủ biên), Toán 3, NXBĐHSP, 2021 [3] Mai Sỹ Tuấn ( Tổng chủ biên), Tự nhiên và Xã hội 3, NXBĐHSP, 2021
File đính kèm:
tao_hung_thu_hoc_tap_cho_hoc_sinh_lop_3_khi_tham_gia_lop_hoc.pdf



