Tạo hứng thú học tập cho học sinh lớp 3 khi tham gia lớp học trực tuyến

pdf18 trang | Chia sẻ: Chan Chan | Ngày: 10/02/2026 | Lượt xem: 6 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Tạo hứng thú học tập cho học sinh lớp 3 khi tham gia lớp học trực tuyến, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút TẢI VỀ ở trên
 MỤC LỤC 
 Trang 
I. PHẦN MỞ ĐẦU . . 2 
1. Lí do chọn đề tài . . 2 
2. Mục đích nghiên cứu . 3 
3. Nhiệm vụ nghiên cứu . 3 
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu. .. 4 
5. Phương pháp nghiên cứu. 4 
II. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 
1. Cơ sở lí luận . 4 
2. Cơ sở thực tiễn . ... 5 
3. Nguyên nhân . . 6 
4. Các biện pháp . . 7 
III. KẾT QUẢ VÀ ỨNG DỤNG 14 
IV. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 16 
1. Kết luận . .. 16 
2. Kiến nghị . ... 16 
 2 
 I. PHẦN MỞ ĐẦU 
 1. Lý do chọn đề tài 
 Dịch bệnh đã diễn biến tại nước ta suốt 2 năm qua, học sinh cũng đã dần 
làm quen với việc học trực tuyến vì tình hình dịch bệnh kéo dài, xong phụ huynh 
và học sinh vẫn gặp phải không ít khó khăn trong quá trình học tập trực tuyến. 
 Trước diễn biến phức tạp của dịch COVID-19, việc chuyển đổi hình 
thức dạy học thông qua các ứng dụng internet cho học sinh là giải pháp tình 
thế cấp thiết thay cho các lớp học truyền thống. Nhưng việc học trực tuyến 
vẫn còn gặp phải nhiều hạn chế, một trong số hạn chế đó là việc học sinh 
chưa thực sự tích cực, hào hứng khi học trực tuyến thậm chí còn cảm thấy 
nhàm chán khi tham gia các tiết học. 
 Đại dịch Covid-19 đang diễn ra vô cùng phức tạp không chỉ ở nước ta 
mà còn trên toàn thế giới. Nó không chỉ ảnh hưởng về mặt đời sống, kinh tế, 
xã hội của mỗi quốc gia mà còn ảnh hưởng nghiêm trọng tới các hoạt động 
Giáo dục đào tạo. Theo thống kê của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa 
Liên hợp quốc (UNESCO) cho thấy: 188 quốc gia trên thế giới đã thực hiện 
đóng cửa trường học các cấp từ ngày 4/5/2020, ảnh hưởng đến 91,3% học 
sinh, sinh viên. Tổng số học sinh, sinh viên bị ảnh hưởng là 1.576.021.818 
người”. (Nguồn unicef.org) 
 Đối với nước ta, đại dịch Covit- 19 đã ảnh hưởng tới hơn 20 triệu học 
sinh, sinh viên và gần 2 triệu nhà giáo các cấp học chưa thể tiếp tục dạy học 
và học theo phương thức dạy học trực tiếp. Nhiều cơ sở giáo dục và đào tạo 
phải đóng cửa kéo dài hoặc chuyển sang dạy học trực tuyến. Tình trạng này bị 
gián đoạn và kéo dài qua bốn đợt bùng phát dịch COVID-19 đã ảnh hưởng 
không nhỏ đến việc bảo đảm chương trình, phương pháp, kế hoạch tổ chức 
dạy và học, hoạt động của trường, lớp và đến sự phát triển của trẻ em, học 
sinh cả nước. 
 3 
 Dạy học trực tuyến là giải pháp được nhiều quốc gia và các tổ chức 
giáo dục lựa chọn trong thời kỳ COVID-19. Dạy học trực tuyến là phương 
pháp giảng dạy khá hiệu quả mà giáo viên và học sinh cần áp dụng một cách 
có định hướng để truyền tải kiến thức đến học sinh một cách linh hoạt, giúp 
cho người học theo được mạch bài giảng đạt được mục tiêu của bài học và 
môn học... Dạy học trực tuyến đã, đang và sẽ trở thành xu hướng được tăng 
cường, củng cố và dần trở thành một xu thế tất yếu, nhiệm vụ chính trong các 
nhiệm vụ triển khai năm học để thích ứng với tình hình mới. 
 Đối với giáo dục tiểu học, việc triển khai dạy học trực tuyến, qua 
truyền hình là giải pháp hữu hiệu của các nhà trường nhằm giúp học sinh 
không quên kiến thức, duy trì nền nếp học tập. Sau 2 năm học dạy học trực 
tuyến, các thầy cô đã tiếp cận được với rất nhiều các công cụ hiện đại và học 
sinh cũng đã quá quen thuộc với các công cụ này. Với mong muốn luôn đổi 
mới trong các tiết học, nhất là trong dạy học trực tuyến giúp học sinh không 
bị nhàm chán, tôi mạnh dạn đưa các giải pháp “Tạo hứng thú học tập cho học 
sinh lớp 3 khi tham gia lớp học trực tuyến” 
 2. Mục đích nghiên cứu 
 Trong quá trình dạy - học trực tuyến tại lớp 3A1 do tôi chủ nhiệm, tôi 
nhận thấy để tạo ra hứng thú cho học sinh khi học trực tuyến thì cần rất nhiều 
yếu tố như phương pháp giảng dạy của giáo viên, thiết bị học tập, các tài liệu 
học tập, cách thức làm việc nhóm, Nhưng điều quan trọng khiến học sinh 
cảm thấy thích thú, hào hứng với mỗi tiết học trực tuyến nằm ở vai trò của 
giáo viên. Người giáo viên phải biết cách kích thích, khơi gợi khám phá, gây 
tò mò để học sinh thể hiện tối đa năng lực của mình, giải quyết tốt các vấn đề 
đặt ra. 
 3. Nhiệm vụ nghiên cứu 
 - Điều tra thực trạng, nguyên nhân của việc học trực tuyến hiện nay. 
 4 
 - Đề xuất áp dụng các biện pháp cụ thể giúp học sinh có hứng thú khi 
tham gia lớp học trực tuyến. 
 4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 
 - Đối tượng nghiên cứu: Tạo hứng thú học tập cho học sinh lớp 3 khi 
tham gia lớp học trực tuyến. 
 - Phạm vi nghiên cứu: Học sinh lớp 3a1 năm học 2022 -2023 
 - Thời gian: Từ tháng 9 năm 2022 
 5. Phương pháp nghiên cứu 
 Để thực hiện biện pháp này, tôi đã sử dụng các phương pháp sau: 
 - Phương pháp nghiên cứu tài liệu: 
 + Đọc các tài liệu sách, báo, tạp chí giáo dục... có liên quan đến nội dung 
biện pháp. 
 + Đọc sách giáo khoa, sách giáo viên, các loại sách tham khảo. 
 - Phương pháp nghiên cứu thực tiễn 
 + Phương pháp quan sát 
 + Phương pháp điều tra 
 + Phương pháp phỏng vấn 
 - Phương pháp thống kê toán học. 
 II. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 
 1. Cơ sở lý luận 
 “Hứng thú học tập là thái độ đặc biệt của người học đối với đối tượng 
học tập và gắn với quá trình hoạt động học tập của họ, tạo ra khoái cảm và 
thôi thúc người học chủ động chiếm lĩnh tri thức” (Nguyễn Hoài Nam, Cao 
Thị Quyên (2014)). Như vậy, khi con người có hứng thú học tập thì bất kể đó 
là hình thức nào, họ cũng sẽ chủ động, tích cực thể hiện được sự sáng tạo nhất 
định của mình. Sự hứng thú đó giúp họ có động lực để xác định các động cơ 
học tập đúng đắn, có mục tiêu rõ ràng để đạt được kết quả như mong đợi. 
 * Đặc điểm nhận thức của học sinh lớp 3 
 5 
 Về tri giác: Học sinh lớp 3 là học sinh ở các lớp học đầu cấp của Tiểu 
học nên các em rất nhạy cảm với tác động bên ngoài. Tri giác của các em 
mang tính đại thể, ít đi sâu vào chi tiết và nặng về tính không chủ định, do đó 
mà các em phân biệt các đối tượng còn chưa chính xác, dễ mắc sai lầm và có 
khi còn lẫn lộn, khả năng phân tích chưa phát triển. 
 Về chú ý: Chú ý không chủ định được phát triển mạnh và chiếm ưu thế 
ở học sinh lớp 3. Sự chú ý không chủ định của học sinh càng trở nên đặc biêt 
tập trung và bền vững khi tài liệu học tập có tính trực quan, sinh động, khơi 
gợi ở học sinh những rung cảm tích cực. 
 Về trí nhớ: Trí nhớ trực quan - hình tượng và trí nhớ máy móc phát 
triển hơn trí nhớ logic- từ ngữ. Các em ghi nhớ, gìn giữ và nhớ lại các hiện 
tượng, hình ảnh tốt hơn là các câu chữ, hình tượng khô khan. Dưới ảnh hưởng 
của hoạt động học tập, trí nhớ có chủ định, trí nhớ từ ngữ - logic xuất hiện, 
phát triển còn chịu tác động nhiều của hứng thú, kinh nghiệm sống và các 
hình mẫu đã biết. 
 Với những đặc điểm trên thì quá trình nhận thức của học sinh lớp 3 còn 
mang tính trực quan chưa có khả năng tư duy logic và tổng hợp như học sinh 
ở các khối lớp trên. 
 2. Cơ sở thực tiễn 
 2.1. Thực trạng 
 Trước diễn biến phức tạp của dịch COVID -19, việc chuyển đổi hình 
thức dạy học thông qua các ứng dụng trực tuyến cho học sinh là giải pháp tình 
thế cấp thiết thay cho các lớp học truyền thống. Nhưng việc học trực tuyến 
vẫn còn gặp phải nhiều hạn chế, một trong số hạn chế đó là việc học sinh 
chưa thực sự tích cực, hào hứng khi học trực tuyến thậm chí còn cảm thấy 
nhàm chán khi tham gia các tiết học. 
 6 
 Qua quá trình tổ chức dạy hoc thực hiện tham dò và khảo sát học sinh 
tôi thu được kết quả như sau: 
 Khi chưa áp dụng biện pháp 
 Kết quả khảo sát 
 Số lượng Tỉ lệ % 
 Tích cực 
 5 16,7% 
 ( Thích, hiểu) 
 Bình thừơng 
 7 23,3% 
 Chưa tích cực 
 18 60% 
 ( Không thích, không hiểu 
 Từ bảng số liệu trên số lượng học sinh tích cực tham gia còn rấtít
chiếm tỉ lệ 16,7% trong khi tỷ lệ học sinh chưa tích cực chiếm số lượng lớn 
60%. Tôi thiết nghĩ nguyên nhân của thực trạng trên là do tiết học trực tuyến 
chưa thực sự đem lại cảm giác hứng thú, phấn khích khi tham gia học tập 
 2.2. Nguyên nhân 
 Từ thực trạng các trên tôi đã tìm hiểu và đưa ra các nguyên nhân trực 
tiếp và gián tiếp đã tới việc học sinh chưa thật sự hào hứng, tích cực trong các 
tiết học như sau: 
 Thứ nhất, giờ học quá dài: Sức tập trung của con người có giới hạn 
nhất định đặc biệt là sự tập trung một chiều. Sự tập trung một chiều trước màn 
hình quá lâu khiến chúng ta căng thẳng về tâm lý cho nên giờ học onine quá 
dài sẽ khiến học sinh căng thẳng và áp lực. 
 Thứ hai, tương tác một chiều: Khi lên lớp thầy cô thường sợ không 
truyền tải được hết nội dung bài cho học sinh nên có thói quen thuyết giảng 
liên tục, liên tục. Việc thuyết giảng một chiều nhiều quá sẽ khiến học sinh khó 
khăn khi học tập. 
 7 
 Thứ ba, ít có sự giao tiếp cảm xúc tích cực: Những biểu cảm của cô 
giáo như tức giận, vui vẻ, hạnh phúc có thể truyền tải tới học sinh được không 
và ngược lại. Những biểu cảm về cảm xúc không được truyền đến với nhau, 
học sinh không cảm nhận được những biểu cảm tức giận, vui vẻ hay hạnh 
phúc của cô giáo và ngược lại cũng sẽ khiến học sinh cảm thấy nhàm chán. 
 Xuất phát từ những nguyên nhân trên tôi mạnh dạn đề xuất áp dụng 
một số biện pháp sau. 
 3. Các biện pháp 
 3.1. Biện pháp 1: Lồng ghép các trò chơi học tập vào bài giảng 
 Để khơi gợi sự hứng thú cho học sinh trong suốt một buổi học thì cách vào 
bài lôi cuốn và hấp dẫn là điều vô cùng cần thiết. Thay vì thầy cô vào bài một cách 
trực tiếp thì thầy cô có hãy bắt đầu bài dạy của mình bằng cách đưa ra một vấn đề 
để thu hút sự tham gia của học sinh và đó cũng là cách hiệu quả nhất để học sinh 
nhanh chóng vào bài. Ví dụ, chuẩn bị một trò chơi học tập liên quan đến bài học 
hay một trò chơi khởi động trước khi vào bài mới nhằm ôn lại kiến thức cũ sẽ giúp 
học sinh cảm thấy phấn kich, hứng thú ngay từ đầu. 
 Một số trò chơi khởi động đầu tiết học như Ai nhanh ai đúng, Trò chơi 
ô chữ, Hộp quà bí mật.... 
 Ví dụ: Môn Tự nhiên và Xã hội - Lớp 3 
 Bài 12: Các bộ phận của thực vật và chức năng của chúng 
 + Hoạt động 1: Mở đầu: GV tổ chức trò chơi “Hộp quà bí mật” 
 (Hình 1) 
 8 
 Trong quá trình học trực tuyến, các em bị gò bó, mệt mỏi nên giáo viên 
thường tổ chức các trò chơi vận động vào giữa các tiết học giúp các em thư 
giãn thoái mái hơn có thể kể đến như: gió thổi, trời mưa trời mưa, 
 Ví dụ: Môn toán lớp 3 
 Bài: Luyện tập 
 Hình 2 
 Ngoài ra, còn rất nhiều phần mềm khác giúp giáo viên thiết kế các trò 
chơi cho giờ dạy trực tuyến như là: Quizizz, dùng Menti.com, Qua đó, các 
em được thao tác, kéo thả, ấn chọn ngay trên màn hình nên rất thích. 
 Hình 3 
 9 
 3.2. Biện pháp 2: Lồng ghép câu chuyện minh họa cho bài giảng 
 Học sinh tiểu học rất thích được nghe kể chuyện đơn giản bởi vì khi 
nghe kể chuyện chúng được giải tỏa mọi căng thẳng trong quá trình học tập. 
Đây là cách tuyệt vời để thay đổi “Khẩu vị” cho bài học. Chúng còn được 
phép tưởng tượng mình là nhân vật trong câu chuyên cô giáo kể, được tưởng 
tượng theo lời kể của cô thay vì nhìn chằm chằm vào cuốn sách, cuốn vở hay 
những chiếc bảng đen. Những thứ đó đôi khi làm học sinh căng thẳng khiến 
các em nhàm chán. 
 Việc kể một câu chuyện để minh họa cho một bài học như thế nào? 
điều này phụ thuộc vào sự linh hoạt của mỗi thầy cô. 
 Ví dụ: Khi dạy bài “Bảng chia 7” của môn toán lớp 3 
 Để tạo sự hứng thú và hào hứng trước khi vào bài mới. Giáo viên kể 
cho học sinh nghe câu chuyện “ Mẹ con Thỏ trắng” 
 Câu chuyện như sau: Trên đường đi làm cô giáo có gặp 2 mẹ con Thỏ 
trắng. Thỏ trắng nói với mẹ rằng “ Mẹ ơi, hôm nay ở lớp cô giáo hỏi con rằng 
làm thế nào để hình thành bảng cho 7. Con nghĩ mãi không ra mẹ ạ” Thỏ mẹ 
cũng nghĩ mãi không ra nên đã nhờ cô giáo lên lớp nhờ các bạn lớp mình chỉ 
giúp Thỏ trắng cách hình thành bảng chia 7 đấy. Các em có đồng ý giúp bạn 
Thỏ trắng không nào? 
 Ở đây học sinh vừa được hóa thân vào câu chuyện của cô giáo kể, vừa 
được học tập Phương pháp giải quyết vấn đề. Học sinh rất hào hứng tham gia 
giúp bạn Thỏ trắng và cũng chính là quá trình các em học tập để hình thành 
kiến thức mới của bài học. 
3.3. Biện pháp 3: Tăng cường sự tương tác giữa thầy cô và học sinh 
 Thu hút học sinh vào bài giảng đôi khi bằng cách rất nhỏ đến từ sự 
tương tác giữa cô và trò. Trước mỗi giờ học, cô và trò cùng giao lưu với nhau 
bằng nhiều cách khác nhau sẽ khiến không khí lớp học trở lên thoải mái, dễ 
chịu và bớt căng thẳng hơn. Có thể cô giáo sẽ đặt ra một vài câu hỏi để học 
sinh trả lời hoặc giúp các em thư giãn bằng việc nói chuyện cùng các em về 
 10 
vấn đề cuộc sống đôi khi liên quan đến bài học nhất là các môn tự nhiên liên 
quan đến đời sống. 
 Ví dụ: 
 + Giáo viên sẽ vào phòng zoom sớm hơn tầm 15 phút để trò chuyện 
với học sinh 
 + Giáo viên có thể hướng dẫn cụ thể cách sử dụng biểu tượng cần thiết. 
 Hình 4 Hình 5 
 Ngoài ra, giáo viên cần kết hợp lời nói và câu lệnh thông qua kí hiệu 
ngôn ngữ riêng của cô và trò. Cô giáo sẽ đưa ra những biểu đạt cảm xúc, biểu 
cảm nội dung muốn chia sẻ tới học sinh khi gặp sự cố học sinh không nghe rõ 
lời cô giáo nói trong bài học. 
 11 
Hình 6 ( Kỹ năng nghe) Hình 7 ( Kỹ năng nhìn) 
 Hình 8( Ký hiệu nói) Hình 9 ( Ký hiệu đếm) 
 12 
 Hình 10 ( Ký hiệu khoanh) Hình 11 (Ký hiệu nhắc lại) 
 Không thể phủ nhận vai trò vô cùng quan trọng đến từ ngôn ngữ giao 
tiếp. Giáo viên nên giảng bài theo cách hài hước, mềm mỏng chính là 
“phương tiện” giúp giáo viên gần gũi với học sinh hơn. Vừa giúp cho giờ dạy 
bớt căng thẳng vừa tạo được không khí lớp học thoải mái. 
 Hình ảnh luôn là thứ thu hút, lôi cuốn khiến học sinh tập trung vào bài 
học, không làm việc riêng trong suốt tiết học. Cho nên việc thiết kế bài giảng 
lôi cuốn học sinh bằng cách lồng ghép âm thanh, hình ảnh trong tiết dạy là 
điều vô cùng quan trọng. 
 Ví dụ: Khi dạy môn Tự nhiên và Xã hội – Lớp 3 
 Hình 12 
 13 
 Tuy nhiên, chúng ta cũng nên điều tiết các hình ảnh, âm thanh một 
cách phù hợp trong mỗi tiết học trách việc học sinh quá thích thú, chú ý quá 
nhiều vào hình ảnh và âm thanh khiến học sinh k tập trung vào nội dung chính 
của bài. 
 3.4. Biện pháp 4: Tăng cường sự tương tác giữa học sinh với học sinh 
 Để tạo được sự tương tác nhịp nhàng giữa học sinh với học sinh thì vai 
trò của giáo viên vô cùng quan trọng. Do đó, giáo viên cần tận dụng trang 
mạng xã hội facebook, zalo chia học sinh trong lớp thành các nhóm để hướng 
dẫn các em thảo luận nhóm hoàn thành các nhiệm vụ học tập được giao. 
 Ví dụ: Nhóm 1 có 5 em trong một nhóm chat Zalo nhận nhiệm vụ 
học tập và tiến hành thảo luận, báo cáo kết quả sau khi hoàn thành. 
 Trước khi dạy môn Tự nhiên và Xã hội - lớp 3. Bài 50: Các bộ 
phận của thực vật và chức năng của chúng 
Giáo viên gửi câu hỏi trước khi học bài khoảng 30 phút.“ Quan sát vào hình 
ảnh và nêu tên các bộ phận của cây đậu tương”. 
 Hình 13 
 14 
 + Giáo viên yêu cầu học sinh nghiên cứu sách giáo khoa kết hợp giữa 
hiểu biết thực tế thảo luận với nhau qua học nhóm giáo viên đã lập sẵn. 
 Hình 14 
 Bước vào bài học, giáo viên kiểm tra kết quả làm việc của các nhóm, 
các nhóm tự thống nhất kết quả những ý tưởng riêng nhóm mình rồi trình bày 
chia sẻ trong tiết học. Giáo viên tổng hợp kiến thức của học sinh và tiếp tục 
học sinh hoàn thành nhiệm vụ của tiết học. 
 III. KẾT QUẢ VÀ ỨNG DỤNG 
 1. Kết quả 
 Tôi tiến hành khảo sát với 30 học sinh lớp tôi chủ nhiệm, tôi thuu được 
kết quả như sau. 
 15 
 Bảng số liệu so sánh tỉ lệ các mức độ khi chưa áp dụng và sau khi áp dụng biện pháp 
 Khi chưa áp dụng biện 
 Sau khi áp dụng biện pháp 
 Kết quả khảo pháp 
 sát 
 Số lượng Tỉ lệ % Số lượng Tỉ lệ % 
 Tích cực 
 5 16,7% 20 66,7% 
 ( Thích, hiểu) 
 Bình thừơng 7 23,3% 9 30% 
 Chưa tích cực 
 ( Không thích, 18 60% 1 3,3% 
 không hiểu 
 Kết quả khi thực hiện giải pháp: 
 Tích cực (Thích, hiểu): 20 HS = 66,7% 
 Bình thường : 9 HS = 30% 
 Không tích cực ( Không thích, không hiểu): 1 HS = 3,3% 
 Qua bảng khảo sát tôi nhận thấy số lượng học sinh tích cực tăng lên rất 
nhiều từ 16,7% lên 66,7%. Số lượng học sinh chưa tích cực giảm đi rõ rệt từ 
60% xuống còn 3,3%. Tôi nhận thấy đây là một kết quả rất khả quan. 
 2. Ứng dụng 
 Việc áp dụng các biện pháp ở trên đã thực sự đã hiệu quả hơn rất nhiều. 
Học sinh không còn cảm thấy nhàm chán khi tham gia học trực tuyến mà thay 
vào đó các em học sinh đã cảm thấy hào hứng, phấn khích và thích thú mỗi 
khi học trực tuyến. 
 Tôi thiết nghĩ nó phù hợp với lớp tôi chủ nhiệm và có thể nhân rộng với 
các khối lớp khác trong và ngoài nhà trường. 
 16 
 IV. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 
 1. Kết luận. 
 1.1. Ý nghĩa của biện pháp 
 Sau khi áp dụng các giải pháp trên vào các tiết học tại lớp 3A1 do mình 
chủ nhiệm. Tôi thật sự hài lòng với kết quả học tập của học sinh tại lớp mình 
áp dụng. Tiết học trở nên hào hứng hơn, sinh động hơn, sôi nổi hơn, xua tan 
được bầu không khí căng thẳng trong giờ học. Đặc biệt sau khi áp dụng các 
giải pháp trên vào buổi học trực tuyến tại lớp tôi, học sinh đã nhận thức bài tốt 
hơn, khắc sâu kiến thức hơn nhờ vào các trò chơi học tập, các câu chuyện gần 
gũi với các em và sự sinh động từ các hình ảnh, âm thanh của bài học. Không 
có hiện tượng nào ngủ gật, chán ản, nằm nhoài ra bàn trong giờ học, học sinh 
bước vào tiết học với tâm trạng 
 1.2. Bài học kinh nghiệm 
 Qua vận dụng thực tế, tôi nhận thấy rằng để tạo hứng thú cho học sinh 
khi tham gia học trực tuyến điều quan trọng hơn cả là luôn tạo hứng học tập, 
khơi gợi sự tò mòi, ham học hỏi của học sinh trong các tiết học để từ đó thêm 
yêu thích môn và không còn cảm thấy nhàm chán. 
 Giáo viên cần quan tâm đổi mới phương pháp trong dạy học, không 
ngừng nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, tay nghề. Từ chỗ nắm vững 
nội dung, chương trình và cấu trúc sách giáo khoa, chúng ta dạy học sẽ có 
hiệu quả thiết thực và điều chỉnh trên cơ sở tổ chức các hoạt động học tập tích 
cực, chủ động, sáng tạo của học sinh. 
 2. Kiến nghị 
 Giáo viên nên tạo ra không khí học tập thoải mái, vui vẻ, giúp đỡ học 
sinh còn hạn chế mạnh dạn, tự tin hơn trong học tập. 
 Giáo viên luôn luôn sử dụng các phương pháp dạy học linh hoạt, tổ 
chức giờ học sáng tạo phong phú giúp học sinh hứng thú, tích cực hơn trong 
học tập. 
 17 
 Trên đây là một vài kinh nghiệm nhỏ mà bản thân tôi đúc rút được qua 
quá trình giảng dạy. Tuy nhiên, do thời gian có hạn và năng lực còn hạn chế 
chắc hẳn sẽ có những thiếu sót. Rất mong sự góp ý, giúp đỡ của quý thầy cô 
và các bạn đồng nghiệp để sáng kiến của tôi được hoàn thiện hơn. 
 Tôi xin trân trọng cảm ơn! 
 18 
 TÀI LIỆU THAM KHẢO 
[1] Nguyễn Quang Uẩn - Nguyễn Kế Hào - Phan Thị Thanh Mai, Tâm lí học, 
NXBGD, NXBĐHSP, 2007. 
[2] Đỗ Đức Thái ( Tổng chủ biên), Toán 3, NXBĐHSP, 2021 
[3] Mai Sỹ Tuấn ( Tổng chủ biên), Tự nhiên và Xã hội 3, NXBĐHSP, 2021 

File đính kèm:

  • pdftao_hung_thu_hoc_tap_cho_hoc_sinh_lop_3_khi_tham_gia_lop_hoc.pdf
Bài giảng liên quan