Một số biện pháp nâng cao chất lượng viết văn tả cảnh cho học sinh lớp 5
Bạn đang xem nội dung tài liệu Một số biện pháp nâng cao chất lượng viết văn tả cảnh cho học sinh lớp 5, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút TẢI VỀ ở trên
MỤC LỤC NỘI DUNG TRANG I. PHẦN MỞ ĐẦU 1 1. Lí do chọn đề tài 1 2. Mục đích nghiên cứu 1 3. Nhiệm vụ nghiên cứu 1 4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 2 5. Phương pháp nghiên cứu 2 II. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 2 1.Cơ sở lí luận 2 2. Cơ sở thực tiễn 2 3. Các biện pháp 3 3.1. Hướng dẫn học sinh phân biệt các dạng bài văn theo yêu cầu của 3 đề bài. 3.2. Hướng dẫn học sinh quan sát và chọn lọc chi tiết miêu tả 4 3.3. Hướng dẫn học sinh sắp xếp ý, đoạn. 7 3.4. Hướng dẫn học sinh tích lũy vốn từ. 7 3.5. Hướng dẫn học sinh tìm ý và lập dàn ý cho bài văn tả cảnh. 8 3.6. Chấm chữa bài, nhận xét tỉ mỉ bài làm của từng học sinh, sửa 10 lỗi sai triệt để. III. KẾT QUẢ VÀ ỨNG DỤNG 10 IV. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 12 V. TÀI LIỆU THAM KHẢO 13 1 I. PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Tiếng Việt là một trong những môn học quan trọng và cần thiết bậc nhất ở bậc tiểu học. Tiếng Việt là tiếng mẹ đẻ giúp cho học sinh hình thành từ những câu nói ban đầu, là công cụ giúp các em hình thành tư duy và là bước đệm cho việc hình thành nhân cách con người. Môn tiếng Việt là tổng hợp của các phân môn: Tập đọc, Kể chuyện, Chính tả, Luyện từ và Câu, Tập làm văn. Cái đích cuối cùng và quan trọng nhất mà môn Tiếng Việt hướng tới chính là tập làm văn. Nhưng trên thực tế hiện nay, học sinh lớp 5 khi học môn Tập làm văn nói chung và nội dung văn miêu tả nói riêng còn gặp phải rất nhiều khó khăn : Các em viết câu, từ lủng củng, làm bài theo mô típ giống nhau, dấu câu đặt tùy tiện, chưa có sự sáng tạo khi làm bài. Đa số học sinh đã biến các bài văn miêu tả thành văn kể, liệt kê các sự vật một cách khô khan, nghèo nàn về từ, diễn đạt câu văn lủng củng chưa theo một trình tự. Vậy làm thế nào để nâng cao chất lượng dạy học Tập làm văn nhất là văn tả cảnh cho học sinh lớp 5? Với những lý do trên, tôi mạnh dạn đưa ra nghiên cứu: “Một số biện pháp nâng cao chất lượng viết văn tả cảnh cho học sinh lớp 5”. 2. Mục đích nghiên cứu - Nhằm tìm ra một số biện pháp có hiệu quả nâng cao chất lượng viết văn tả cảnh, bài viết hay sáng tạo. - Giúp giáo viên rút ra kinh nghiệm từ đó xây dựng kế hoạch dạy học cụ thể mang lại hiệu quả khi hướng dẫn học sinh viết văn tả cảnh. 3. Nhiệm vụ nghiên cứu - Tìm ra những thuận lợi và khó khăn khi tổ chức dạy và học nội dung văn tả cảnh trong phân môn tập làm văn lớp 5. 2 - Đưa ra các giải pháp tốt nhất giúp học sinh có kĩ năng làm văn tả cảnh hay, nâng cao chất lượng dạy và học phân môn tập làm văn nói riêng và môn Tiếng Việt nói chung trong nhà trường. 4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu - Đối tượng : Một số giải pháp nâng cao chất lượng viết văn tả cảnh cho học sinh lớp 5. - Phạm vi: Học sinh lớp 5C 5. Phương pháp nghiên cứu - Quan sát. - Phương pháp điều tra, khảo sát - Phương pháp so sánh đối chiếu - Trao đổi, thảo luận với đồng nghiệp. - Nghiên cứu tài liệu. II. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 1. Cơ sở lý luận - Tập làm văn là một phân môn mang tính tổng hợp và sáng tạo cao từ đó học sinh tổng hợp và sử dụng được kiến thức học trong nhà trường, kiến thức trong cuộc sống một cách linh hoạt để tạo lập văn bản. - Bài Tập làm văn nếu không được sáng tạo thì sẽ trở thành một bài văn khô khan, nghèo nàn về hình ảnh, khi góp nhặt ý của người khác, nội dung bài văn sẽ không còn hồn nhiên, trong sáng, mới mẻ như tâm hồn của các tác giả nhỏ tuổi. - Dạy Tập làm văn lớp 5 phải đảm bảo về mục tiêu, yêu cầu cần đạt về kiến thức, kĩ năng của chương trình giáo dục cấp Tiểu học theo chuẩn kiến thức, kĩ năng của từng môn học và phù hợp với trình độ của từng học sinh trong lớp. 2. Cơ sở thực tiễn - Khi dạy Tập làm văn cho học sinh lớp 5, tôi thấy học sinh gặp phải một số khó khăn như sau: + Nhiều em thường liệt kê, diễn đạt lủng củng và chưa biết dừng lại để tả kĩ một vài chi tiết cụ thể nổi bật. 3 + Chưa biết quan sát sự vật miêu tả theo trình tự. + Bài văn sơ sài, còn thiên về kể, câu văn chưa giàu hình ảnh. Đây là bảng kết quả khảo sát với đề bài: Tả cảnh cánh đồng lúa chín ở địa phương em. Tổng số Thời HS chưa có bố HS viết bài văn có HS viết bài văn có HS gian cục, viết bài văn bố cục, nhưng câu bố cục, bài văn có chưa đủ ý văn chưa hay, sáng tạo, có cảm chưa có cảm xúc xúc Đầu SL % SL % SL % 30 năm 10 33,3 20 66,7 0 0 Thực trạng học sinh còn nhiều hạn chế như vậy đã làm cho tiết Tập làm văn trở thành một gánh nặng, một thách thức đối với giáo viên tiểu học. Ý nghĩ cho rằng Tập làm văn là một phân môn khó dạy, khó học và khó đạt hiệu quả cao đã là nhận thức chung của nhiều thầy cô giáo dạy lớp 5.Đâu là nguyên nhân dẫn đến tình trạng chất lượng Tập làm văn của học sinh không đạt yêu cầu ? Qua quá trình giảng dạy lớp 5, tôi nhận thấy học sinh học chưa đạt Tập làm văn là do những nguyên nhân như sau: + Học sinh chưa có kĩ năng và thói quen quan sát. Chưa biết chọn lọc chi tiết tiêu biểu của đối tượng cần miêu tả để quan sát. + Chưa có thói quen lập dàn ý trước khi viết văn. + Vốn từ ngữ của các em còn nghèo nàn, kĩ năng viết câu còn hạn chế. + Học sinh chưa biết vận dụng linh hoạt các từ ngữ miêu tả, các biện pháp tu từ như so sánh, nhân hóa, vào bài viết của mình. + Ở các lớp dưới các em đã quen làm văn dựa vào các câu chuyện, các bài tập đọc hay văn kể nên giờ làm quen với dạng văn mới là tả cảnh các em ngại suy nghĩ, sợ sai nên không dám sáng tạo, ít biết dùng từ gợi tả, gợi cảm để viết câu văn, đoạn văn, bài văn, nhiều em còn lẫn giữa kể và tả. 3. Các biện pháp 4 3.1. Hướng dẫn học sinh phân biệt các dạng bài văn theo yêu cầu của đề bài. - Nắm chắc yêu cầu của đề bài là việc làm vô cùng quan trọng. Học sinh đọc kĩ đề , nắm chắc yêu cầu của đề và xác định đúng thể loại và đối tượng miêu tả. Khi học về văn miêu tả, các em hay nhầm lẫn với văn kể ở các lớp dưới. Vì vậy khi viết văn tả học sinh thường kể lại chứ không phải là tả, làm cho bài văn khô khan, thiếu cái hay của văn tả cảnh. Bài văn tả cảnh là thể loại văn bản mang tính nghệ thuật cao, mang tính sáng tạo, ngôn ngữ giàu sức gợi cảm. Tả là mô phỏng, là vẽ lại, là so sánh ví von, nhân hóa đối tượng có hình ảnh chứ không thể là liệt kê các chi tiết. Ví dụ: Khi tả cảnh sân trường em giờ ra chơi học sinh hay viết : “Em nhìn thấy các bạn từ các lớp chạy ùa ra sân như đàn ong vỡ tổ. Em nghe thấy tiếng các bạn cười đùa rất vui vẻ ở giữa sân trường.” Những câu văn như trên nặng về kể. Vậy giáo viên có thể hướng dẫn các em sửa lại như sau: “ Từ các cửa lớp, học sinh chạy ùa ra sân như đàn ong vở tổ. Tiếng cười, đùa vui vẻ của các bạn vang lên từ phía sân trường.” Đây mới chính là những câu văn miêu tả. Như vậy, giáo viên hướng dẫn học sinh khi viết các em chỉ cần bỏ bớt những cụm từ : em nhìn thấy, em nghe thấy, .. .v.v rồi thêm vào những từ phù hợp với câu văn tả để không lẫn với văn kể chuyện. 3.2. Hướng dẫn học sinh quan sát và lựa chọn hình ảnh miêu tả. - Quan sát là một trong những bước quan trọng nhất của văn tả cảnh, học sinh quan sát tỉ mỉ, chính xác về đối tượng miêu tả, tìm được những chi tiết miêu tả tiêu biểu, không dễ lẫn nó với đối tượng khác. Hình thành kĩ năng quan sát và miêu tả cho học sinh theo một trình tự hợp lí. Thông thường có một số trình tự quan sát cảnh vật tương ứng với trình tự miêu tả: a) Hướng dẫn tả theo trình tự không gian. - Tôi đã hướng dẫn học sinh từ quan sát toàn bộ đến quan sát từng bộ phận hoặc ngược lại, từ trái sang phải, từ trên xuống dưới, từ ngoài vào trong... Ví dụ: Tả ngôi trường của em 5 Tôi hướng dẫn học sinh sử dụng các giác quan như thị giác, thính giác, xúc giác, khứu giác để quan sát ngôi trường. Quan sát hình ảnh ngôi trường từ xa tới gần, từ ngoài vào trong, từ trái qua phải hoặc ngược lại. Tả ngôi trường với những chi tiết nổi bật như khu lớp học, dãy văn phòng, sân trường, các hoạt động của học sinh, ... b) Hướng dẫn tả theo trình tự thời gian. - Tôi hướng dẫn học sinh quan sát từ sáng đến tối; quan sát từ lúc bắt đầu đến khi kết thúc.... Trình tự này thường được áp dụng khi làm bài văn tả cảnh vật hay tả cảnh sinh hoạt của con người. Ví dụ: Tả cánh đồng lúa quê em vào buổi sáng sớm Tôi đã hướng dẫn học sinh sử dụng các giác quan để quan sát và miêu tả các sự vật theo trình tự thời gian bắt đầu từ khi trời chưa sáng hẳn cho đến lúc ánh nắng lên cao thì cảnh vật thay đổi như thế nào? c) Kết hợp quan sát bằng nhiều giác quan. Đây là bước quan trọng nhất và có tính chất quyết định. Thông thường các em chỉ dùng mắt để quan sát, các nhận xét thu được thường gắn liền với thị giác. Đây là điểm mạnh nhưng cũng là điểm yếu của các em. Tôi đã hướng dẫn học sinh sử dụng kết hợp các giác quan khác để quan sát như: hướng dẫn các em dùng mũi để ngửi hương thơm của cây hoa cỏ, dùng tai để nghe âm thanh của sự vật, lắng nghe tiếng kêu, tiếng động của sự vật hiện tượng, dùng làn da để cảm nhận hơi thở, cảm nhận làn gió thổi, không khí....Với sự kết hợp đó thì học sinh sẽ có sự hình dung sinh động về sự vật hiện tượng qua bài viết hơn. Khi quan sát sự vật học sinh cần phải biết tiếp thu đặc điểm đặc sắc hay độc đáo ở cảnh vật do từng giác quan mang lại. Nhờ cách quan sát này mà các em sẽ ghi nhận được nhiều ý, nhiều hình ảnh, đoạn văn sẽ trở nên sinh động, bài văn đa dạng phong phú. Ví dụ: Đề bài “Em hãy tả một cơn mưa mùa hè.” - Tôi hướng dẫn học sinh quan sát bằng các giác quan như sau: 6 + Thị giác: Thấy những màu sắc thay đổi của đám trước cơn mưa, thấy hạt mưa rơi, thấy cây cối khi có gió,hoạt động của con người (trước, trong và sau cơn mưa)... + Xúc giác: cảm nhận được làn gió thổi làm xua tan cái nóng mà nhường chỗ cho luồng khí mát lạnh. + Thính giác: Nghe thấy tiếng gió thổi, tiếng mưa rơi, tiếng sấm, tiếng kêu của động vật... d) Lựa chọn hình ảnh tiêu biểu và nội dung để tả. - Trong văn miêu tả, quan sát rất quan trọng và quan sát luôn đi liền với ghi chép. Ghi chép giúp học sinh ghi nhớ được những đặc điểm nổi bật của cảnh vật. Từ đầu năm học khi được nhận lớp tôi đã cho mỗi em ở trong lớp làm riêng một quyển sổ tay văn học và hướng dẫn các em cách ghi chép: Khi quan sát một cảnh hoặc một người nào đó thì các em cần lựa chọn những chi tiết, những hình ảnh đặc sắc tiêu biểu, đẹp và khác biệt của đối tượng để miêu tả.Lựa chọn hình ảnh, hoạt động của đối tượng để tả khái quát, bổ trợ tạo nên hình ảnh tổng thể về đối tượng có thể lồng ghép các hình ảnh, sự việc gắn bó mật thiết với đối tượng sau đó ghi vào quyển sổ tay của mình. Hay thông qua các bài tập đọc, các bài thơ, bài đọc thêm hay các tác phẩm văn học mà các em đã từng đọc khi các em phát hiện 1 ý hay, 1câu văn hay thì nên ghi ngay vào số của mình để khi viết văn có thể tham khảo hoặc áp dụng vào bài văn của mình. 7 Ảnh minh hoạ sổ tay văn học của bạn Nguyễn Thị Thu Huyền 3.3. Hướng dẫn học sinh sắp xếp ý, đoạn. - Sau khi quan sát xong, tôi hướng dẫn học sinh sắp xếp các ý theo đoạn với thứ tự đã quan sát cho phù hợp logic để khi đọc bài văn người đọc sẽ hình dung cảnh rõ dàng hơn. - Hướng dẫn các em không tả dài dòng mà cần nắm bắt được cái thần, cái hồn, những điểm đặc biệt của cảnh; bằng ngôn ngữ ngắn gọn, xúc tích làm sao để hiện lên trước mắt người đọc một khung cảnh rất thực, sống động. Nói viết ngắn gọn không có nghĩa là các em chỉ viết vài câu rồi chấm hết một bài văn mà khi tả cảnh không nên viết lan man, cái nào cũng tả. Cần phải biết chọn lọc những đặc điểm nổi bật của cảnh và sắp xếp ý cho phù hợp.Cần phải biết chọn lọc những đặc điểm nổi bật của cảnh. Khi tả cảnh các em cần chú ý: + Tả bao quát toàn cảnh, nêu khung cảnh chung của cảnh vật và nêu cảm tưởng, cảm nhận chung của em về cảnh vật. 8 + Tả từng bộ phận của cảnh theo một trình tự nào đó. Chú ý đặc điểm của cảnh vật về đường nét, màu sắc, âm thanh, quy mô, chỉ ra những nét riêng, vẻ riêng của cảnh. - Khi tả cảnh bao giờ ta cũng tả bao quát trước rồi mới đến cụ thể, chi tiết. Tôi hướng dẫn để các em viết các đoạn văn đủ ý và đảm bảo mỗi đoạn chứa một nội dung rõ ràng, hướng dẫn để học sinh viết đoạn văn theo cách quy nap hay cách diễn dịch. 3.4. Hướng dẫn học sinh tích lũy vốn từ. - Đa số học sinh đều thiếu vốn từ để làm văn, vậy vốn từ ở đâu ra? Vốn từ của các em được tích lũy từ trong giao tiếp hàng ngày, trao đổi với bạn bè; thầy cô giáo cung cấp và qua các môn học. Đặc biệt là môn Luyện từ và câu là môn có thể giúp học sinh làm giàu vốn từ nhiều nhất khi dạy các tiết Mở rộng vốn từ. Trong các tiết này có các bài tập mở rộng vốn từ rất cụ thể, thiết thực như tìm từ, sử dụng câu mẫu để phát triển ý tưởng, học sinh đặt câu và so sánh với câu mẫu, phân tích mẫu câu. Tôi luôn đưa ra các hình ảnh hay, mới lạ cho học sinh lựa chọn và tìm những từ ngữ phù hợp miêu tả cho hình ảnh đó. Ví dụ: Với đề bài tả dòng sông - Tôi đã hướng dẫn học sinh: + Tìm từ láy gợi tả âm thanh trên dòng sông (ì ọp, ì ầm, xôn xao, ào ào, bì bõm, lao xao, ...) + Tìm những hình ảnh so sánh để so sánh với dòng sông: dòng sông như dải lụa, dòng sông như con trăn khổng lồ, dòng sông như người mẹ hiền ôm ấp đồng lúa chín vàng... + Tìm những hình ảnh nhân hóa dòng sông: dòng sông hiền hòa, dòng sông điệu đà, dòng sông ấm áp, Qua đó, học sinh tích lũy cho mình kho vốn từ đa dạng, phát triển được ý tưởng giúp các em dễ dàng viết được bài văn tả cảnh hay, sáng tạo. 3.5. Hướng dẫn học sinh tìm ý và lập dàn ý cho bài văn tả cảnh. - Tìm ý và lập dàn ý trong làm văn nói chung và trong văn tả cảnh nói riêng là một thao tác, một bước chuẩn bị không thể thiếu, có thể nói nó có vai trò 9 rất quan trọng đối với học sinh đặc biệt là học sinh Tiểu học. Đối với học sinh lớp 5 thì dàn ý không có gì xa lạ nhưng để lập được một dàn ý chi tiết, đủ ý và theo đúng bố cục của một bài văn miêu tả để mà học sinh có thể dựa vào đó viết thành một đoạn văn hay một bài văn hay thì quả thật là rất khó. - Sau khi học sinh đã quan sát đối tượng miêu tả, tôi sẽ đặt câu hỏi gợi ý để học sinh hồi tưởng lại những gì đã quan sát được. - Khi học sinh đã quan sát và tìm đủ ý rồi thì tôi hướng dẫn các em lập dàn ý bài văn. Dàn ý phải đủ 3 phần: mở bài, thân bài, kết bài. 10 Dàn ý của em Nguyễn Yến Nhi (Lớp 5C) 3.6. Chấm chữa bài, nhận xét tỉ mỉ bài làm của từng học sinh, sửa lỗi sai triệt để. - Khi trả bài cho học sinh tôi thường tiến hành cách bước: Bước 1: Giáo viên nhận xét bài làm của học sinh - Giúp học sinh xác định lại yêu cầu của đề bài để tự đối chiếu với kết quả bài viết xem mình đã thực hiện được đến đâu. - Nêu ưu điểm, hạn chế của học sinh trong việc thực hiện yêu cầu của đề bài, kết hợp nhận xét về chữ viết, cách trình bày bài văn, tuyên dương học sinh có bài làm tốt, tiến bộ và động viên các bạn khắc phục hạn chế trong bài văn. Bước 2: Hướng dẫn học sinh chữa bài - Trả bài cho học sinh, yêu cầu học sinh đọc thầm lại toàn bộ bài làm, lời nhận xét của giáo viên. - Hướng dẫn học sinh chữa một số lỗi chung về nội dung (sai, thiếu ý hoặc chi tiết sự việc, ) và hình thức (bố cục, cách dùng từ, đặt câu, lỗi chính tả, ). 11 - Tổ chức cho học sinh tự chữa bài làm của cá nhân, sau đó đổi bài để kiểm tra giúp đỡ lẫn nhau về việc chữa lỗi. Bước 3: Đọc tham khảo một số đoạn, hoặc vài bài văn hay của một số em cho cả lớp nghe để học tập và rút kinh nghiệm. III. KẾT QUẢ VÀ ỨNG DỤNG Sau một thời gian áp dụng vào thực tế giảng dạy ở lớp 5C, qua các kết quả kiểm tra, biện pháp đã thu được một số kết quả nhất định. Đến tháng 3 năm học 2022-2023, học sinh đã có những chuyển biến rõ rệt. Tổng Thời gian HS viết bài văn HS viết bài văn HS viết bài văn số chưa có bố cục, có bố cục, nhưng có bố cục, bài HS viết bài văn chưa câu văn chưa hay, văn có sáng tạo, đủ ý chưa có cảm xúc có cảm xúc SL % SL % SL % 30 Đầu năm 10 33,3 20 66,7 0 0 30 Tháng 3/2023 2 6,7 18 60 10 33,3 12 Bài làm có sự tiến bộ của học sinh: Bài văn của em Nguyễn Như Ngọc 13 IV. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ * Ý nghĩa biện pháp: - Nhờ việc áp dụng biện pháp trên vào giảng dạy đã giúp cho cả tôi và học sinh tự tin, chủ động hơn. Tạo không khí thoải mái, hào hứng hơn cho các em mỗi khi học Tập làm văn. Không những thế còn bồi dưỡng thêm tình yêu quê hương, đất nước thông qua tình yêu đối với những cảnh vật quen thuộc quanh mình. Điều này có một ý nghĩa vô cùng quan trọng vì nó góp phần nâng cao hiệu quả giáo dục. - Những lỗi các em thường mắc đã giảm rõ rệt. Câu, từ, ý chau chuốt, có hình ảnh hơn. Bố cục bài văn đúng, đủ. Không còn học sinh làm bài lạc đề. - Điều tôi tâm đắc hơn cả là các em đã thích và có ý thức làm văn. Các em biết lắng nghe, tiếp thu, ghi nhớ khi tìm hiểu nội dung bài tập đọc, kể chuyện, luyện từ và câu và trực tiếp là những tiết học lí thuyết văn miêu tả. cảnh. Khi viết bài các em đã biết tư duy suy nghĩ, vận dụng các biện pháp nghệ thuật như so sánh, nhân hóa, biết chắt lọc ý hay để đưa vào bài viết. - Đến tiết trả bài, các em đã biết lắng nghe, nhận ra lỗi của bạn và của mình, tìm cách chữa và sửa vào vở để rút kinh nghiệm cho mình. * Bài học kinh nghiệm: - Giáo viên phải nắm vững từng đối tượng học sinh, hiểu rõ trình độ và năng lực của mỗi em để có thể áp dụng những phương pháp dạy học phù hợp với từng nhóm đối tượng học sinh, từng cá thể học sinh. - Giáo viên phải thường xuyên nghiên cứu, dự giờ đồng nghiệp, tham dự đầy đủ các lớp tập huấn chuyên môn để nắm bắt những thông tin về nội dung, phương pháp của chương trình môn Tiếng Việt. Từ đó, giáo viên mới có thể lập một kế hoạch bài học cho mình một cách khoa học, có sự tích hợp giữa kiến thức các môn học với nhau, dạy kiến thức, kĩ năng giữa bài trước với bài sau, giữa các phân môn Tiếng Việt với nhau, giữa lớp dưới với lớp trên. - Giáo viên luôn tâm huyết xây dựng kế hoạch dạy học rõ ràng, áp dụng được linh hoạt các biện pháp; tôn trọng, khích lệ động viên khi các em có sự cố gắng dù là đôi chút thì sẽ tạo ra sự chủ động, tích cực, sáng tạo trong cách nghĩ, 14 cách làm của học sinh và chắc chắn chất lượng phân môn Tập làm văn và những môn học khác sẽ có nhiều tiến bộ. Do thời gian nghiên cứu và kinh nghiệm được xây dựng theo quan điểm cá nhân nên còn nhiều hạn chế. Tôi rất mong nhận được sự góp ý, xây dựng để tôi có thêm kiến thức, kinh nghiệm tự tin hơn trong việc nghiên cứu biện pháp giáo dục trong những năm tới. Tôi xin chân thành cảm ơn! V. TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Phương pháp dạy học Tiếng Việt 5, Nhà xuất bản ĐHSP II; 2. Tiếng Việt và phương pháp dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học, Nhà xuất bản Giáo dục, 2002; 3. Sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 5, tập 1, Nhà xuất bản Giáo dục; 4. Sách giáo viên, sách thiết kế lớp 5 tập 1, Nhà xuất bản Hà Nội.
File đính kèm:
mot_so_bien_phap_nang_cao_chat_luong_viet_van_ta_canh_cho_ho.pdf



