Biện pháp rèn kỹ năng đọc Tiếng Việt cho học sinh lớp 1
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Biện pháp rèn kỹ năng đọc Tiếng Việt cho học sinh lớp 1, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút TẢI VỀ ở trên
UBND HUYỆN YÊN THẾ TRƢỜNG TIỂU HỌC HỒNG KỲ BÁO CÁO BIỆN PHÁP THAM GIA HỘI THI GIÁO VIÊN DẠY GIỎI CẤP HUYỆN CHU KỲ 2024-2026 Tên biện pháp: “Biện pháp rèn kỹ năng đọc Tiếng Việt cho học sinh lớp 1”. Họ và tên: Nguyễn Thị Hạnh Môn giảng dạy: Văn hóa Trình độ chuyên môn: Đại học Đơn vị công tác: Trƣờng Tiểu học Hồng Kỳ. TÁC GIẢ XÁC NHẬN CỦA NHÀ TRƢỜNG (Kí, ghi rõ họ tên) ( Kí tên, đóng dấu) Nguyễn Thị Hạnh Nguyễn Đức Hải Hồng Kỳ, ngày 24 tháng 4 năm 2025 2 KẾT QUẢ ĐÁNH GIÁ NHẬN XÉT CỦA NHÀ TRƢỜNG “Biện pháp rèn kỹ năng đọc Tiếng Việt cho học sinh lớp 1”có tính mới, phù hợp với đối tƣợng học sinh, áp dụng có hiệu quả. THỦ TRƢỞNG ĐƠN VỊ (ký và đóng dấu) Nguyên Đức Hải ĐÁNH GIÁ, NHẬN XÉT, CỦA BAN GIÁM KHẢO .................................................................................................................................. GIÁM KHẢO (ký, ghi rõ họ tên) 1 MỤC LỤC TT Nội dung Trang 1 I. PHẦN MỞ ĐẦU 2 2 1. Lý do chọn đề tài 2 3 2. Mục đích nghiên cứu 4 4 3. Nhiệm vụ nghiên cứu 5 5 4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 5 6 5. Phương pháp nghiên cứu 5 7 II. PHẦN NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 6 8 1. Cơ sở lý luận 6 9 2. Cơ sở thực tiễn 8 10 2.1. Thực trạng của vấn đề nghiên cứu 8 11 2.2. Kết quả, hạn chế bất cập và nguyên nhân 9 12 3. Các biện pháp thực hiện 10 13 3.1. Biện pháp 1: Hướng dẫn cách phát âm, đánh vần, phân 11 tích vần và đọc trơn 3.2. Biện pháp 2: Hướng dẫn học sinh đọc to, rõ ràng và 14 đúng tốc độ 13 3.3. Biện pháp 3: Thực hiện tốt đánh giá thường xuyên để nắm 15 bắt khó khăn của học sinh 15 3. 4. Biện pháp 4: Rèn kỹ năng đọc thông qua trò chơi học tập 16 16 17 3.5. Biện pháp 5: Xây dựng thói quen đọc sách cho học sinh 18 18 3.6. Biện pháp 6: Kết hợp giữa giáo viên với phụ huynh học 20 sinh 19 III. KẾT QUẢ VÀ ỨNG DỤNG 21 20 1. Kết quả 21 21 2. Ứng dụng 22 22 IV. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 22 23 1. Kết luận 22 24 1.1. Ý nghĩa của biện pháp 22 25 1.2. Bài học kinh nghiệm 22 26 2. Những kiến nghị, đề xuất 23 27 3. Cam kết 24 28 V. TÀI LIỆU THAM KHẢO 25 2 I. PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lí do chọn biện pháp Bậc tiểu học đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành và phát triển cơ bản của học sinh. Đây không chỉ là giai đoạn đầu tiên trong hệ thống giáo dục mà còn là nền tảng quan trọng để xây dựng kiến thức, kỹ năng và tư duy của học sinh. Trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp công nghệ thông tin hiện nay với bước phát triển vượt bậc, việc học STEM (Khoa học, Công nghệ, Kỹ thuật, Toán học) trở nên ngày càng quan trọng. Những kiến thức và kỹ năng thu được từ những môn này không chỉ giúp học sinh hiểu rõ hơn về thế giới quan xung quanh mình mà còn trang bị cho học sinh khả năng giải quyết vấn đề và sáng tạo, là chìa khoá mở cánh cửa cho sự phát triển cá nhân và sự thành công trong tương lai. Đặc biệt, đối với môn Tiếng việt theo Chương trình Giáo dục Phổ thông 2018 của Việt Nam là một bước tiến quan trọng trong việc hình thành và phát triển nền tảng ngôn ngữ và văn hoá cho học sinh ở các khối lớp. Mục tiêu chính của chương trình là xây dựng kỹ năng ngôn ngữ toàn diện cho học sinh, tập trung vào 4 kỹ năng đọc – viết – nói – nghe. Ngay từ khi bước vào lớp 1 các em học sinh bắt đầu làm quen với các kĩ năng đọc- viết- nói- nghe qua việc học âm, học vần, học tiếng rồi phát triển đến đọc từ, đọc câu, đọc văn bản. Chính vì vậy mà việc rèn đọc cho học sinh lớp 1 ở trường Tiểu học là một nhiệm vụ vô cùng quan trọng và cần thiết bởi: Muốn viết được thì phải đọc được. Muốn làm Toán được thì phải biết đọc yêu cầu Vậy nên nhất thiết học sinh phải biết đọc từ lớp 1. PGS.TS Nguyễn Thị Hạnh phân tích: Việc chú trọng trang bị các kỹ năng nói để đáp ứng mục tiêu phát triển năng lực ngôn ngữ của trẻ. Tầm quan trọng của mỗi kĩ năng được thể hiện từ cao nhất đến thấp hơn theo trình tự: Đọc - Viết - Nói - Nghe. HS biết nói và nghe tự nhiên, khi các em còn chưa đi học. Hai kĩ năng này được tiếp tục phát triển ở những năm học trường mầm non. Nhưng chỉ khi đi học tiểu học, các em mới chính thức học đọc và học viết một cách có hệ 3 thống. Do đó đọc, viết trong chương trình được tập trung dạy và học nhiều hơn nói và nghe. Quá trình đi học ở cả bậc phổ thông nói chung là quá trình HS tiếp cận và hiểu tri thức, kinh nghiệm mang tính phổ thông của nhân loại. Để làm được điều này các em cần có một công cụ sắc bén đủ để tiếp cận kho tri thức kinh nghiệm khổng lồ ấy. Công cụ đó chính là đọc. Hoạt động đọc hướng tới mục tiêu phát triển năng lực không chỉ là hoạt động đọc trơn, đọc thành tiếng để chuyển chữ viết thành âm thanh (đọc trơn thành tiếng còn gọi là đọc thông, kĩ thuật đọc). Hoạt động đọc không chỉ được hiểu là đọc sách báo in mà còn là đọc và xem các văn bản điện tử có cả chữ và hình ảnh. Chương trình sách giáo khoa môn Tiếng Việt mới, chú trọng cả kĩ năng đọc trơn và kĩ năng đọc hiểu, chú trọng cả kĩ năng đọc hiểu văn bản in và đọc hiểu văn bản điện tử. Sau đọc mới đến viết, là bởi lẽ, sau khi HS tiếp nhận tri thức và kinh nghiệm, các em phải thể hiện mình đã hiểu tri thức, đã dùng được những kinh nghiệm của người đi trước. Việc đọc trơn là kĩ năng trung gian. Việc đọc hiểu văn bản mới là kĩ năng mục đích, bởi mục đích của việc đọc là để hiểu, để tiếp nhận tri thức và kinh nghiệm của người viết. Ngày nay, văn bản đọc không chỉ gồm có văn bản in mà còn bao gồm cả văn bản điện tử. Kỹ năng đọc là một trong những nền tảng quan trọng nhất trong môn Tiếng việt đối với học sinh Tiểu học mà trọng tâm là lớp Một. Việc phát triển và nắm bắt kỹ năng này không chỉ mang lại những lợi ích ngay trong quá trình học, mà còn ảnh hưởng sâu rộng đến sự phát triển toàn diện của học sinh. Đọc không chỉ là một kỹ năng cá nhân mà còn là một công cụ mạnh mẽ giúp các em học sinh phát triển cả về khía cạnh giao tiếp và học tập. Khi đọc, các em không chỉ nắm bắt thông tin mà còn mở rộng vốn từ vựng và hiểu biết ngữ pháp, nâng cao sự tập trung, khả năng kiên nhẫn khi đọc. Từ đó làm phong phú ngôn ngữ và khả năng giao tiếp của mình. 4 Chính vì vậy mà ngành giáo dục đã xây dựng chương trình tổng thể 2018 thiên về môn Tiếng Việt, lấy môn học này làm trọng tâm chương trình khi dẫn đầu về số tiết (420 tiết) so với các môn học còn lại (35-70 tiết). Nhưng một thực tế đang diễn ra đối với việc dạy học môn Tiếng Việt trong trường Tiểu học là nội dung chương trình khá nhiều, các em phải học vần sớm hơn, viết những câu dài sớm hơn, do đó đòi hỏi giáo viên phải liên tục tìm hiểu các phương pháp dạy học mới sao cho hiệu quả. Thực tế không phải vào lớp 1 là đọc được ngay mà các em phải trải qua một quá trình luyện tập thực hành nhận biết âm, vần, tiếng, phân tích, đánh vần, rồi mới đọc trơn được các âm, vần và tiếng, dần dần đọc được từ, rồi đọc được câu cuối cùng là đọc được một văn bản từ dễ đến khó từ văn bản ngắn đến văn bản dài. Các em còn đọc được cả câu truyện dài. Qua những năm trực tiếp giảng dạy lớp 1 tôi nhận thấy kỹ năng đọc của các em đọc còn chậm, đọc nhỏ, chưa có nhiều học sinh đọc lưu loát. Các em thường phát âm sai, ngọng thậm chí còn không đọc được, khả năng giao tiếp của các em còn gặp nhiều khó khăn. Làm thế nào để các em nhận biết và đọc được âm, vần, tiếng, từ, câu rồi văn bản. Để trả lời cho điều này tôi đã nghiên cứu và lựa chọn “Biện pháp rèn kỹ năng đọc Tiếng Việt cho học sinh lớp 1” nhằm nghiên cứu những giải pháp khắc phục tình trạng này. 2. Mục đích nghiên cứu Qua việc nghiên cứu: “Biện pháp rèn kỹ năng đọc Tiếng Việt cho học sinh lớp 1” này, tôi mong muốn được trao đổi kinh nghiệm với các đồng nghiệp để học hỏi, rút ra những bài học kinh nghiệm cho bản thân. Góp phần nâng cao hiệu quả việc rèn đọc cho học sinh lớp 1 ở trường Tiểu học đáp ứng theo yêu cầu đổi mới của CTGDPT 2018. Giúp HS phát triển năng lực và phẩm chất sẵn có: Tự tin - chủ động - sáng tạo - say mê và yêu thích học tập. Làm tiền đề cho việc học tập tốt các 5 môn ở lớp trên và phát triển kĩ năng giao tiếp cho học sinh ngay ở lớp 1. Tích cực tham gia các hoạt động trải nghiệm nâng cao hiểu biết về cuộc sống. Cuối năm hoàn thành chương trình môn học 100%. - Khắc phục những tồn tại, khó khăn và đưa ra các giải pháp giúp giáo viên giảng dạy linh hoạt, sáng tạo phù hợp với mục tiêu giáo dục. 3. Nhiệm vụ nghiên cứu - Nghiên cứu những cơ sở lí luận, cơ sở thực tiễn về việc rèn kỹ năng đọc của học sinh lớp 1. - Đưa ra một số giải pháp giúp giáo viên rèn kỹ năng đọc cho học sinh lớp 1 để có kết quả tốt. 4. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu - Đối tượng nghiên cứu: Học sinh lớp 1A năm học 2024- 2025. - Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu các giải pháp rèn kỹ năng đọc trong môn Tiếng Việt lớp 1. - Thời gian nghiên cứu: Biện pháp này được áp dụng trong các giờ học môn Tiếng Việt ở lớp 1 năm học 2024 - 2025. 5. Phƣơng pháp nghiên cứu - Phương pháp điều tra khảo sát thực tế. - Phương pháp thống kê. - Phương pháp quan sát - Phương pháp phân tích tổng hợp. - Phương pháp luyện tập thực hành - Trò chơi - Phương pháp tổng kết kinh nghiệm. 6 I. PHẦN NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 1. Cơ sở lý luận Đọc là một dạng hoạt động ngôn ngữ, là quá trình chuyển từ dạng thức chữ viết sang dạng lời nói có âm thanh và thông hiểu nó (ứng với các hình thức đọc thành tiếng), là quá trình chuyển trực tiếp từ hình thức dạng chữ viết thành các đơn vị nghĩa không có âm thanh (ứng với đọc thầm) mà viện sỹ M.R. Lơ vôp - Cẩm nang dạy học tiếng Nga, đã khẳng định. Hoạt động đọc của học sinh tiểu học là quá trình các em học cách nhận diện, hiểu và tương tác với văn bản một cách cơ bản, dần phát triển thành kỹ năng đọc hiểu. Ở lứa tuổi tiểu học, hoạt động đọc không chỉ là việc “nhìn chữ đọc thành tiếng” mà còn bao gồm: - Đọc đúng: Nhận diện mặt chữ, vần, âm. Phát âm rõ ràng, đúng ngữ điệu, ngắt nghỉ đúng chỗ. Đọc trơn sau khi luyện thành thạo. - Đọc hiểu: Hiểu nghĩa từ ngữ trong văn bản. Nắm được nội dung chính của đoạn văn, bài đọc. Trả lời được câu hỏi cơ bản: Ai? Cái gì? Ở đâu? Khi nào? Tại sao? - Đọc có cảm xúc: Biết điều chỉnh giọng đọc theo nội dung (vui, buồn, hồi hộp ). Nhận ra được cảm xúc nhân vật trong truyện hoặc bài thơ. - Phát triển tư duy qua đọc: Biết liên hệ bài đọc với thực tế, với bản thân. Hình thành kỹ năng phân tích, suy nghĩ độc lập, và diễn đạt lại nội dung bằng lời của mình. - Hình thành thói quen đọc: Đọc sách ngoài giờ học. Tò mò, ham tìm hiểu qua việc đọc. 7 Với học sinh tiểu học, hoạt động đọc không chỉ giúp các em học tốt môn Tiếng Việt mà còn là nền tảng để học các môn khác. Đọc không chỉ là công cụ giải quyết bộ mã gồm hai phần chữ viết và phát âm, nghĩa là nó không chỉ là sự đánh vần lên thành tiếng theo đúng như các kí hiệu đã viết mà đọc còn là một quá trình nhận thức để có khả năng thông hiểu nội dung những gì được đọc. Đọc bao gồm những yếu tố như tiếp cận bằng mắt, hoạt động của các cơ quan phát âm, các cơ quan thính giác và thông hiểu những gì đọc được. Nếu không biết đọc con người sẽ không có điều kiện hưởng sự giáo dục dành cho họ, không thể hình thành một cách toàn diện. Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, trong xu thế toàn cầu hoá và phát triển mạnh mẽ về khoa học, công nghệ đòi hỏi con người phải thông hiểu và việc đọc để nắm bắt thông tin lại càng cần thiết để tiếp cận nó như đọc qua báo chí, sách, truyện và khai thác thông tin qua mạng Vì vậy việc dạy đọc có ý nghĩa vô cùng quan trọng và to lớn ở Tiểu học. Đọc trở thành một yêu cầu cơ bản đầu tiên đối với mỗi người đi học. Đọc sẽ giúp trẻ chiếm lĩnh được một ngôn ngữ trong giao tiếp và học tập, nó là công cụ để học các môn khác. Đọc một cách có ý thức sẽ tác động tích cực tới trình độ ngôn ngữ cũng như tư duy của học sinh. Qua bài dạy ta có thể thấy giá trị về nội dung, nghệ thuật giúp các em mở rộng hiểu biết về thiên nhiên, về đời sống con người, về văn hoá và phong tục tập quán của các dân tộc trên thế giới. Các em cảm nhận được cái hay, cái đẹp trong cuộc sống. Bồi dưỡng tư tưởng tình cảm, tâm hồn cho học sinh. Đó là yếu tố quan trọng trong việc hình thành nhân cách của con người Việt Nam Xã hội chủ nghĩa. Vì vậy, để dạy học sinh đọc đúng, đọc chuẩn, giáo viên cần nắm vững phương pháp dạy học kỹ năng đọc, nhằm phát huy tối đa khả năng của học sinh. Kỹ năng đọc không chỉ là khả năng nhận biết chữ và câu mà còn đòi hỏi sự hiểu biết sâu sắc về ngôn ngữ, ngữ cảnh và khả năng tư duy. 8 2. Cơ sở thực tiễn 2.1. Thực trạng của vấn đề nghiên cứu a) Thuận lợi: + Được sự quan tâm và chỉ đạo tốt của các cấp lãnh đạo về chuyên môn, tổ chức bồi dưỡng giáo viên, tổ chức những buổi học chuẩn kiến thức kỹ năng cho học sinh tiểu học .cung cấp đủ tài liệu phương tiện để nghiên cứu, học hỏi, giảng dạy. + Sự giúp đỡ của Ban Giám Hiệu trường, tổ chức thao giảng, dự giờ hàng tháng, tổ chức những buổi học chuyên đề thảo luận về chuyên môn để rút ra những ý kiến hay, những đề xuất kinh nghiệm tốt áp dụng trong việc giảng dạy. + Ở độ tuổi 6 - 7 của học sinh lớp 1. Các em đa số rất ngoan, vâng lời, nghe lời cô giáo, thích học tập và thi đua với các bạn, dễ khích lệ động viên khen thưởng... + Có được sự quan tâm về việc học tập của con em mình của một số phụ huynh có ý thức trách nhiệm, không khoán trắng cho nhà trường cho giáo viên, mà tích cực đồng hành với giáo viên trong việc học tập của con em mình như: Chuẩn bị đầy đủ sách vở, đồ dùng học tập, thường xuyên nhắc nhở, đôn đốc và tạo điều kiện tốt cho con em mình đến lớp cũng như học tập ở nhà. b) Khó khăn - Là giáo viên trẻ còn ít kinh nghiệm thực tế trong nghề nghiệp. - Các em học sinh vừa chuyển tiếp từ bậc học mầm non lên, bước sang môi trường mới nên còn rất nhiều bỡ ngỡ chưa làm quen được với việc học ở trường Tiểu học. - Trình độ học sinh không đồng đều, một số em yếu về thể chất, bé nhỏ hơn so với các bạn bình thường kèm theo phát triển chậm về trí nhớ, học trước quên sau, chậm tiến. - Học sinh lớp Một còn nhỏ chưa ý thức được tầm quan trọng của việc học và tự học. Vốn từ của các em còn quá ít ỏi, việc hiểu nghĩa của từ còn hạn chế. Bên cạnh đó kĩ năng đọc - viết - nói - nghe chưa thực sự tốt. - Một số em còn rụt rè chưa mạnh dạn trong giao tiếp. 9 - Một số em còn nói ngọng, phát âm chưa chuẩn và chưa thực sự chú ý đến lời nói trong giao tiếp hàng ngày. - Phụ huynh hầu hết đi làm công nhân chưa quan tâm sát sao hàng ngày đến việc học tập, chưa tạo điều kiện tốt để kèm cặp con em mình học bài, đọc bài ở nhà. - Một số trường hợp phụ huynh khoán trắng việc học cho giáo viên và nhà trường nên phần nào cũng ảnh hưởng đến việc học tập của các em. Vì vậy, trong quá trình dạy học, tôi đã áp dụng nhiều biện pháp, không ngừng học hỏi đồng nghiệp để giúp học sinh đọc tốt hơn. Và sau thời gian thực hiện, tôi cảm thấy rất hiệu quả. Chính vì những lý do trên mà tôi đã xây dựng: “Biện pháp rèn kỹ năng đọc Tiếng Việt cho học sinh lớp 1” để chia sẻ với các thầy cô để góp một phần nào cho việc rèn luyện kỹ năng đọc cho học sinh lớp 1 được tốt hơn. 2.2. Kết quả, hạn chế bất cập và nguyên nhân + Hạn chế bất cập: Trên thực tế, trong quá trình giảng dạy tôi nhận thấy trình độ nhận thức của các học sinh trong một lớp không đều nhau: Em tiếp thu nhanh - em tiếp thu chậm. Ở lứa tuổi này các em chưa ý thức được tầm quan trọng của việc học, chưa có nề nếp, cũng chưa có ý thức tự học ở nhà. Đến lớp chưa chú ý vào các hoạt động học tập, còn thích chơi, hay chọc ghẹo bạn, hay nói leo, nói tự do trong giờ học. Một số học sinh nhận thức chậm nên việc tiếp thu khó khăn khi không được giúp đỡ hoặc hướng dẫn. Một số học sinh do không được bố mẹ thúc giục, quan tâm, kiểm tra thường xuyên nên sao nhãng việc học. Tôi thấy học sinh phát âm chưa chuẩn ở một số âm trong học kì 1. Đọc tiếng nhầm lẫn (dấu thanh, âm đầu, vần) ví dụ: ngã/ ngá, tranh/ trăn, xinh/ xin, hỏi/ họi 10 Trong quá trình giảng dạy tôi đã khảo sát kết quả đọc của lớp đầu năm học như sau: TSHS HS đọc HS chƣa HS đọc đúng sai - ngọng HS đọc chậm đọc đƣợc SL % SL % SL % SL % 36 8 22,2 7 19,5 13 36,1 8 22,2 + Nguyên nhân: Khả năng nhận thức âm vần của một số học sinh còn chậm. Phát âm chưa chuẩn còn ngọng giữa ch/tr ; d/r; nhầm lẫn dấu thanh ngã với thanh sắc: nữa/ nứa; thanh hỏi với thanh nặng: quả/quạ; vần: anh/ăn Một số em bố mẹ làm công nhân ở các khu công nghiệp đi làm đêm, không có nhiều thời gian rèn con thêm ở nhà. Sách giáo khoa theo chương trình mới phụ huynh chưa cập nhật được phương pháp phù hợp. + Kết quả: Qua khảo sát học sinh đầu năm tôi thấy kết quả chưa cao. Tôi cảm thấy lo lắng và băn khoăn. Chính vì vậy, trong quá trình dạy học, tôi không ngừng học hỏi đồng nghiệp để giúp học sinh của lớp tôi đọc tốt hơn. Và tôi đã áp dụng nhiều biện pháp, vận dụng linh hoạt nhiều hình thức tổ chức dạy học trong giảng dạy. Kết quả ngay sau 1 thời gian thực hiện, tôi thấy chuyển biến rất tích cực và hiệu quả. Cuối năm học sinh đọc được: 36/36 = 100%. Từ những lý do trên mà tôi đã nghiên cứu và đưa ra một số biện pháp để rèn kỹ năng đọc cho học sinh lớp 1 cụ thể như sau: 1. Các biện pháp thực hiện Từ những vấn đề đã nêu, để xây dựng cho học sinh lớp 1 kỹ năng đọc nhằm góp phần nâng cao chất lượng học tập của học sinh, tôi đã thực hiện một số biện pháp như sau: 11 3.1. Biện pháp 1: Hướng dẫn cách phát âm, đánh vần, phân tích vần và đọc trơn. Chương trình học vần lớp 1 bộ sách Cánh Diều được giảng dạy trong học kì I, với 18 chủ đề tương ứng với 18 tuần. Các âm được sắp xếp theo thứ tự bảng chữ cái. Sau mỗi tuần, có 1 bài ôn tập, củng cố các âm đã học trong tuần. Sau khi học xong phần âm trong 6 tuần thì chuyển sang học các vần. Chính vì vậy, việc học sinh nắm chắc các âm, vần có ý nghĩa quan trọng trong việc hình thành kĩ năng đọc thông, viết thạo cho học sinh lớp 1. *Về phần âm: Tôi phát âm mẫu chuẩn để học sinh phát âm theo. Chỉ phát âm một lần, nhưng phải rõ ràng, chính xác. Đối với các em còn chậm, tôi quan tâm chú trọng đến các em nhiều hơn. Nếu các em phát âm sai, tôi sửa lỗi và phát âm lại 2- 3 lần, để giúp các em sửa chữa và nắm chắc âm đó. GV hướng dẫn học sinh luyện đọc bảng chữ cái thường. *Về phần vần: Để học tốt phần vần Tiếng việt lớp 1, trước hết các em phải nắm được hết bảng chữ cái để từ đó ghép vần, cơ chế đánh vần và phân tích vần. Để giúp học sinh học tốt, tôi hướng dẫn học sinh nhận dạng vần trên bảng lớp rồi phân tích để nắm được vị trí của các âm trong vần, cho học sinh thực hành ghép vào bảng cài và đọc vần đó. 12 Học sinh thực hành ghép bảng cài *Về phần tiếng: Sau khi có vần mới, học sinh chọn thêm phụ âm, dấu thanh để tạo tiếng. Khi yêu cầu học sinh đọc tiếng đó, tôi cho học sinh nêu cấu tạo tiếng. Học sinh nêu cấu tạo của tiếng 13 *Về phần câu hoặc đoạn thơ: Để học sinh nhận và nhớ được mặt chữ nhanh và đúng. Tôi cho học sinh đọc nhẩm tìm tiếng chứa vần vừa học sau đó gạch chân các tiếng học sinh tìm được và hướng dẫn học sinh đọc sau đó đánh vần từng tiếng còn lại rồi ghép đọc trơn đến khi hết câu văn hoặc đoạn thơ. VD: Khi dạy bài 24 “qu- r ”Sách Tiếng Việt 1 Tập 1 trang 46 Bộ cánh Diều. Tôi thực hiện các hình thức tổ chức rèn kỹ năng đọc như sau: Nghe đọc mẫu, đọc đồng thanh cả lớp, đọc thầm, đọc theo dãy, nhóm đôi và cuối cùng đến đọc cá nhân và tổ chức thi đọc (thi đọc theo nhóm, theo cặp, cá nhân). Khi cho học sinh đọc từ: rổ cá. Học sinh thường đọc sai rổ cá thành rộ cá; cá quả đọc là cá quạ Tôi đã hướng dẫn cho học sinh phát âm đúng và phân tích cụ thể. (Ví dụ: Môi, răng, lưỡi luồng hơi phát ra ). Học sinh thực hành luyện đọc tương đối hiệu quả. Học sinh hào hứng thi đọc 3.2. Biện pháp 2: Hướng dẫn học sinh đọc to, rõ ràng và đúng tốc độ Để giúp học sinh đạt tốc độ đọc khoảng 40 - 60 tiếng /1 phút ở cuối học kì I. Giáo viên phải luyện cho học sinh đọc nhiều nhưng không gây áp lực cho học sinh. Khi học sinh phát âm còn nhỏ, đọc bài còn chậm thì giáo viên phải kiên trì cho các em ôn đọc lại đi đọc lại các âm vần đã học nhiều lần. 14 Tăng cường rèn đọc cá nhân để rèn đọc cho học sinh Đối với các em học sinh rụt rè hoặc là chưa tự tin. Khi hướng đẫn học sinh phát âm phải mở rộng miệng và lưu ý giáo viên phải đứng xa học sinh. Khuyến khích học sinh tương tác lẫn nhau trong học tập. Hoạt động dạy học luôn được thực hiện trong mối quan hệ tương tác giáo viên với học sinh, học sinh với giáo viên, học sinh với học sinh. Một tiết học diễn ra nếu thiếu sự tương tác như vậy thì tiết học sẽ trở nên đơn điệu không phát huy được tính chủ động, tích cực của học sinh. Trong quá trình rèn kĩ năng phát âm cho học sinh, tôi luôn đặc biệt quan tâm đến mối quan hệ tương tác giữa học sinh với học sinh và chú trọng việc rèn luyện cho các em kĩ năng nghe - nhận xét - sửa sai giúp bạn và tự sửa sai cho mình. Các hình thức này tôi áp dụng thường xuyên trong các tiết học trở thành thói quen cho học sinh tự điều chỉnh lẫn nhau từ đó tiết học trở nên gần gũi, các em phát huy được tối đa các năng lực. 15 Học sinh tương tác giúp đỡ nhau trong giờ Tiếng việt 3.3.Biện pháp 3: Thực hiện tốt đánh giá thường xuyên để nắm bắt khó khăn của học sinh. Đánh giá học sinh tiểu học là quá trình thu thập, xử lý thông tin thông qua các hoạt động quan sát, theo dõi trao đổi, kiểm tra, nhận xét quá trình học tập, rèn luyện của học sinh; tư vấn hướng dẫn, động viên học sinh, đánh giá về sự hình thành và phát triển một số phẩm chất, năng lực của học sinh tiểu học. Khen ngợi là một phần thưởng tinh thần to lớn đối với học sinh tiểu học. Lời khen giúp các em tạo động lực và cải thiện kết quả học tập. Hiện nay, cả giáo viên và phụ huynh đều đánh giá cao sự khích lệ, động viên học sinh theo thông tư 27/2020/TT-BGD&ĐT ngày 04 tháng 9 năm 2020 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và đào tạo Việc động viên, khích lệ học sinh kịp thời sẽ giúp học sinh tự tin, nhân cách của học sinh ngày càng được kiện toàn, hành vi tích cực sẽ được phát huy. Ngược lại, phê bình, trách mắng, chỉ trích làm cho lòng tự trọng của trẻ bị tổn thương. Vì vậy trong quá trình dạy âm, vần nói riêng, dạy học nói chung tôi đã thực hiện khen thưởng. Hình thức khen thưởng bằng cách tặng sticker cho học sinh ngay khi trả lời đúng, có cố gắng, có tiến bộ. Cuối mỗi tháng sẽ tổng kết sticker, ai được nhiều sticker sẽ có quà trong buổi sinh hoạt cuối tháng. Cuối buổi học, luôn cho học sinh bình chọn 3- 4 bạn tích cực nhất và tặng sticker. 16 * Đối với những học sinh chưa tích cực đọc bài, chưa hoàn thành trong tiết học, học sinh chậm tiến. Giáo viên cần linh hoạt giảm nhẹ nội dung yêu cầu cần đạt, khuyến khích học sinh hoàn thành mức yêu cầu từ thấp đến cao. Tuyên dương trước những thay đổi nhỏ của các em, để các em có nghị lực hoàn thành các yêu cầu học tập. Bước đầu, những đổi mới này đã đem lại hiệu quả, đồng thời giúp học sinh thích thú, khám phá, nghiên cứu và tìm hiểu các vấn đề, kiến thức trước khi tham gia lớp học. Học sinh tích cực được nhận sticker và phần thưởng 3.4. Biện pháp 4: Rèn kỹ năng đọc thông qua trò chơi học tập Trong chương trình Giáo dục phổ thông 2018, việc giảng dạy ứng, dụng trò chơi trong dạy học rất quan trọng. Khi bắt đầu dạy chương trình Giáo dục phổ thông 2018, Đảng, Nhà nước và Bộ rất quan tâm và đã đầu tư máy móc, trang thiết bị điện tử cho lớp học và giáo viên. Ngoài ra còn đầu tư nhiều đồ dùng cần thiết cho việc dạy để tạo hứng thú cho học sinh, nhằm giúp các em ham học và có cơ hội để tìm tòi, khám phá ( tivi, tranh ảnh, ). Vì vậy, trong quá trình dạy học vần tôi đã sử dụng phương pháp trò chơi để giúp trẻ vừa thoả mãn nhu cầu được chơi, được giải trí của trẻ vừa góp phần phát triển kĩ năng đọc cho trẻ. 17 Các trò chơi tôi thường áp dụng cho hoạt động khởi động. Thông qua trò chơi này, học sinh vừa có thể ôn lại kiến thức cũ hoặc tiếp nhận thêm kiến thức mới một cách chủ động, mới mẻ và đầy hào hứng. Sử dụng phần mềm AI để tạo video hướng dẫn cho học sinh. Tôi xây dựng một ngân hàng trò chơi đơn giản, dễ hiểu, dễ nhớ và dễ tổ chức như: Đi chợ, tìm tiếng chứa vần, ai nhanh hơn, tinh mắt tìm chữ, vòng quay may mắn, Khi tổ chức trò chơi cho học sinh trong giờ học vần cần lưu ý: + Lựa chọn trò chơi phù hợp, vừa sức học sinh + Xác định rõ mục tiêu trò chơi + Luật chơi rõ ràng, dễ hểu + Nhiều học sinh được tham gia chơi trò chơi. Ví dụ: Tôi áp dụng trò chơi “Tinh mắt tìm chữ” Mục đích: Giúp học sinh: + Củng cố, ghi nhớ và nhận diện đúng, nhanh các chữ cái trong bảng chữ cái Tiếng việt. + Ghi nhớ thứ tự các chữ cái trong bảng chữ cái tiếng Việt. + Rèn luyện sự nhanh nhẹn, tinh mắt. 18 Chuẩn bị: - Giáo viên chuẩn bị cho mỗi cặp chơi các thẻ chữ cái, trong đó xếp lộn xộn các chữ cái không theo một chiều nhất định. - Chia lớp học thành các cặp chơi. Mỗi cặp chơi tự chuẩn bị phấn. Cách tiến hành: - Hai người trong cặp chơi sẽ tìm những chữ cái theo hiệu lệnh của giáo viên. Ví dụ giáo viên đọc chữ “a” cả hai sẽ cùng tìm chữ “a”, ai tìm được trước người đó sẽ dùng phấn của mình khoanh lại, sau đó lại tìm chữ cái khác và cứ tiếp tục như vậy cho đến chữ cái cuối cùng trong bảng chữ cái đã chuẩn bị trên bảng. Hết thời gian quy định, hai người sẽ cùng đếm số chữ cái mà mình đã khoanh được, ai tìm được nhiều hơn, người đó là người thắng cuộc. Lưu ý: Thời điểm sử dụng: Trong thời gian khởi động, củng cố tiết 2 hoặc ôn tổng hợp. Học sinh tham gia trò chơi 3.5. Giải pháp 5: Xây dựng thói quen đọc sách cho học sinh Đọc sách có vai trò to lớn cho việc hình thành và phát triển trí tuệ và nhân cách con nguời. Việc đọc sách không chỉ dừng lại ở chỗ tiếp thu kiến thức mà còn tạo thói quen tự học, tự nghiên cứu của học sinh. Bên cạnh đó còn rèn cho học sinh những kĩ năng, tình cảm thói quen tự học, tự nghiên cứu
File đính kèm:
bien_phap_ren_ky_nang_doc_tieng_viet_cho_hoc_sinh_lop_1.pdf



