Nâng cao chất lượng học tập phát triển phẩm chất, năng lực cho học sinh bằng phương pháp “Rèn nền nếp học tập tích cực

docx9 trang | Chia sẻ: Chan Chan | Ngày: 10/02/2026 | Lượt xem: 6 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Nâng cao chất lượng học tập phát triển phẩm chất, năng lực cho học sinh bằng phương pháp “Rèn nền nếp học tập tích cực, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút TẢI VỀ ở trên
 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
 Độc lập – Tự do - Hạnh phúc
 BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ
 NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HỌC TẬP PHÁT TRIỂN PHẨM CHẤT, 
 NĂNG LỰC CHO HỌC SINH BẰNG PHƯƠNG PHÁP “RÈN NỀN NẾP 
 HỌC TẬP TÍCH CỰC”.
1. Tên chuyên đề: Nâng cao chất lượng học tập phát triển phẩm chất, năng lực 
cho học sinh bằng phương pháp “Rèn nền nếp học tập tích cực”.
2. Hiện trạng
 Về giáo viên:
 - Giáo viên thường chú trọng truyền thụ kiến thức cho học sinh.
 - Giáo viên thường áp đặt cách thức thực hiện, không tạo nhiều cơ hội cho 
học sinh phát huy khả năng sáng tạo.
 - Nhiều phụ huynh chưa qua tâm đến việc học của con, còn phó mặc cho 
thầy cô và nhà trường.
 - Chưa có sự động viên, khuyến khích kịp thời.
 Về học sinh:
 - Học sinh chưa thực sự chủ động, tích cực tham gia học tập.
 - Học sinh chưa mạnh dạn, tự tin trong các hoạt động.
 - Học sinh thường xuyên quên đồ dùng, sách vở. Trong giờ học hay mất 
tập trung, còn làm việc riêng.
 - Nhiều học sinh hiếu động, khả năng tập trung kém.
3. Sự cần thiết phải áp dụng giải pháp: 
 Tiểu học là một môi trường giáo dục đặc biệt. Đây là một bậc học quan 
trọng đối với sự phát triển của trẻ em, là thời gian hình thành nhân cách và năng 
lực trí tuệ cho trẻ.
 Mục tiêu chung của chương trình giáo dục tiểu học này là giúp học sinh 
phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản, 
phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo, hình thành nhân cách 
con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm công 
dân; chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động, 
tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
 Giáo viên chủ nhiệm trong trường Tiểu học phải dựa vào tình hình thực tế, 
vạch kế hoạch giúp lớp tổ chức thực hiện chương trình đào tạo (học tập, rèn 
luyện) trong từng tuần, từng tháng, học kỳ và năm học.
 1 Lớp 1 có vai trò đặc biệt quan trọng trong hệ thống giáo dục phổ thông 
nói chung và trong bậc học tiểu học nói riêng. Từ mầm non lên lớp 1 là một 
bước ngoặt quan trọng đối với mỗi học sinh. Quá trình chuyển đổi hoạt động 
chủ đạo từ vui chơi ở mầm non sang học tập ở tiểu học, trẻ phải tham gia vào 
một cuộc sống mới, một môi trường mới, hoạt động mới, yêu cầu mới điều đó 
sẽ gây cho trẻ rất nhiều khó khăn, trong đó có những khó khăn về tâm lý. Vì 
vậy, nếu hiểu được những khó khăn tâm lí của trẻ và có biện pháp giúp trẻ khắc 
phục thì trẻ sẽ thích nghi với hoạt động học tập tốt hơn, tiếp thu sự giáo dục 
được thuận lợi hơn. Từ đó giúp trẻ đạt kết quả cao trong hoạt động học tập và 
phát triển tốt tâm lí cũng như nhân cách của trẻ. 
 Học sinh tiểu học như một tờ giấy trắng dễ vẽ nên một bức tranh đẹp 
nhưng cũng dễ bị vấy bẩn. Chính vì thế, là một giáo viên tiểu học công việc 
không đơn giản chút nào. Chúng ta không đơn thuần chỉ là dạy học, truyền đạt 
kiến thức từ sách vở đến học sinh mà chúng ta còn giáo dục, uốn nắn đạo đức, 
rèn cho các em từng hành vi đạo đức đơn giản nhất, để từ đó giúp các em hình 
thành một nhân cách, phẩm chất tốt đẹp. Điều này quả là không dễ, bởi lẽ mỗi 1 
em là một tính cách, tâm lý, đạo đức khác nhau. Có em ngoan ngoãn, vâng lời, 
có em hiếu động, có em lại trầm tĩnh, ít biểu lộ cảm xúc, ... Thật khó để đưa các 
em vào một khuôn khổ nhất định. Để làm được điều này, đòi hỏi người giáo 
viên phải có những cách giáo dục khác nhau phù hợp với từng đối tượng. Theo 
tinh thần đổi mới của Bộ Giáo Dục, Chương trình giáo dục phổ thông 2018 
không chỉ chú trọng đến việc truyền tải kiến thức mà việc dạy học để phát triển 
năng lực, phẩm chất cho học sinh là rất cần thiết nhất là đối với học sinh lớp 1 
bắt đầu thực hiện theo chương trình, sách giáo khoa mới. 
4. Mục đích của chuyên đề:
 Sau khi tìm hiểu được nguyên nhân, để có những biện pháp khắc phục tốt 
nhất. Tôi hi vọng những chia sẻ của mình không chỉ giúp ích trực tiếp với bản 
thân tôi mà còn giúp cho những đồng nghiệp ở trường học nơi tôi công tác và xa 
hơn nữa sẽ lan tỏa tới các đồng nghiệp khác đón nhận và áp dụng thích hợp. 
Điều này sẽ góp phần nâng cao hiệu quả trong công tác giảng dạy.
 Tìm ra các giải pháp giúp cho học sinh vui thích đến trường, tích cực hợp 
tác với giáo viên tạo niềm say mê, hứng thú trong học tập và rèn luyện cho các 
 2 emtinh thần năng động; giữ lửa lòng say mê, sáng tạo; cố gắng học tập, tự cải 
tạo mình để theo kịp sự tiến bộ của thời đại.
 Đưa ra được các giải pháp hữu hiệu để dạy học sinh tự hiểu hành vi của 
mình, có trách nhiệm đối với sự lựa chọn của mình, biết tôn trọng mình và tôn 
trọng người khác. Nói cách khác giúp học sinh phát triển tư duy và có các hành 
vi tích cực có thể ảnh hưởng lâu dài đến cả cuộc đời sau này.
 Bồi dưỡng và phát triển được các năng lực chung: Tự chủ, tự học; Giải 
quyết vấn đề sáng tạo; Giao tiếp và hợp tác. Các năng lực đặc thù: Ngôn ngữ, 
thẩm mĩ, tính toán., Các phẩm chất: Chăm chỉ, nhân ái, trung thực, trách nhiệm, 
yêu nước, của học sinh theo đúng độ tuổi thông qua các giờ học hàng ngày.
 Tăng cường sự phối kết hợp với gia đình học sinh trong việc giáo dục.
5. Các giải pháp được đưa ra:
 Giải pháp thứ nhất:
 Mỗi một học sinh là một cá tính, một hoàn cảnh khác nhau. Chính vì vậy, 
giáo viên muốn làm tốt được công tác giảng dạy của mình bắt buộc phải nắm rõ 
được hoàn cảnh, cá tính của từng học sinh trong lớp. Từ đó đưa ra những 
phương pháp giáo dục riêng phù hợp với từng nhóm đối tượng học sinh. Khảo 
sát đối tượng học sinh là cơ sở và tiền đề để giáo viên dựa vào đó đưa ra các 
biện pháp giáo dục chuyên biệt cho các nhóm đối tượng. Giải pháp này được 
thực hiện qua các bước sau:
 Bước 1: Khảo sát đối tượng thông qua hồ sơ học bạ, qua giáo viên chủ 
nhiệm cũ, qua học sinh trong lớp hoặc qua phụ huynh (ở lớp 1 có thể thông qua 
cô giáo chủ nhiệm của bé ở mầm non).
 Bước 2: Tiến hành phân loại đối tượng để đưa đưa ra được biện pháp giáo 
dục phù hợp. Thường có các nhóm đối tượng học sinh sau:
 - Học sinh chưa mạnh dạn, tự tin, có hành vi đạo đức chưa đúng.
 - Học sinh có bố mẹ đi làm xa nhà không có thời gian quan tâm giáo dục con 
em mình.
 - Học sinh có năng khiếu.
 - Học sinh hiếu động, khả năng tập trung kém.
 3 Bước 3: Áp dụng các phương pháp giáo dục phù hợp với từng loại đối 
tượng:
 Đối với những học sinh chưa mạnh dạn, tự tin, có hành vi đạo đức chưa 
đúng:
 Tìm hiểu nguyên nhân qua gia đình: Việc trao đổi, giao tiếp hàng ngày ở 
nhà. Gia đình có sự mâu thuẫn giữa bố vàmẹ, gia đình thiếu quan tâm hoặc có 
thể bị bạn bè, kẻ xấu lôi kéo Hoặc trẻ cónhững tính xấu mà bản thân gia đình 
chưa giáo dục được 
 Dùng phương pháp tác động tình cảm, nghiêm khắc đối với học sinhnhưng 
không cứng nhắc. Tuyệt đối không sử dụng phương pháp trách phạt, chúý gần 
gũi các em và thường xuyên nhắc nhở động viên kịp thời. Giao cho cácem đó 
một nhiệm vụ trong lớp nhằm gắn các em với trách nhiệm để từ đó từngbước tự 
điều chỉnh mình.
 Học sinh có bố mẹ đi làm xa nhà không có thời gian quan tâm giáo dục con 
em mình:
 Điều tra để nắm bắt nhóm học sinh có bố mẹ đi làm xa nhà. 
 Giáo viên lập kế hoạch giúp đỡ đối tượng bằng những việc cụ thể như sau:
 + Giảng lại bài mà các em chưa hiểu, chưa nắm chắc vào những thời 
gianngoài giờ lên lớp.
 + Đưa ra những câu hỏi từ dễ đến khó để học sinh có thể trả lời được 
nhằmtạo hứng thú và củng cố niềm tin ở các em.
 + Thường xuyên kiểm tra các đối tượng đó trong quá trình lên lớp.
 + Tổ chức cho học sinh học theo nhóm để học sinh học tốt giúp đỡ các 
bạncùng tiến bộ.
 + Gặp gỡ phụ huynh học sinh trao đổi về tình hình học tập, cũng như sựtiến 
bộ của con em để phụ huynh giúp đỡ thêm việc học ở nhà cho các em.
 + Ngay từ cuộc họp phụ huynh đầu năm cần trao đổi cụ thể về chương trình 
học để phụ huynh nắm được hướng thay đổi từ đó biết cách hướng dẫn các em 
trongviệc học ở nhà. Có thể tư vấn trực tiếp cho phụ huynh khi phụ huynh có 
thắcmắc hoặc cần giúp đỡ trực tiếp.
 + Trong các buổi học tăng cường thời lượng để kịp thời giúp đỡ những 
họcsinh này.
 4 + Tránh thái độ miệt thị, phân biệt đối xử làm cho các em nhụt chí, xấu 
hổtrước bạn bè.
 Đối với những học sinh có năng khiếu:
 - Điều quan trọng là phát hiện những năng lực đặc biệt ở học sinh về vănhoá 
văn nghệ, thể dục thể thao, hội hoạ, viết chữ, 
 - Cùng với nhà trường lập kế hoạch bồi dưỡng thường xuyên cho các 
đốitượng này.
 - Bồi dưỡng, khơi dậy ở các em lòng say mê hứng thú học tập thông 
quanhững buổi giao lưu, những buổi nói chuyện ngoại khoá hoặc gần gũi nhất 
ngay trongtiết học chính khoá.
 Tóm lại, dù với đối tượng nào bản thân giáo viên phải lưu ý dùng 
phươngpháp tác động tình cảm, động viên khích lệ kịp thời, phối hợp với phụ 
huynh đểgiáo dục và đặc biệt xác định vấn đề giáo dục đạo đức là then chốt.
 + Học sinh hiếu động, khả năng tập trung kém:
 Nắm được đối tượng học sinh thông qua các biểu hiện:
 - Không tập trung vào bài giảng thường xuyên lơ đãng việc học hành và 
không có cái nhìn chi tiết. 
 - Không lắng nghe khi được hỏi trực tiếp một vấn đề nào đó và không theo 
kịp tiến độ học tập đối với các bạn bè cùng trang lứa, hay trì trệ và không đạt 
yêu cầu giáo viên đã giao. 
 - Tránh né và không muốn làm những việc trí tuệ suy nghĩ.
 - Liên tục cựa quậy bàn tay, chân hoặc ngọ nguậy trên ghế không chịu ngồi 
yên một chỗ. 
 - Thích leo trên lên bàn ghế, chạy nhảy lung tung không chịu ngồi yên và nói 
nhiều hay chọc ghẹo bạn bè. Thậm chí có nhiều trường hợp đánh bạn vô cớ.
Sau khi phân loại được nhóm đối tượng trên giáo viên cần lên kế hoạch và thực 
hiện một số nhiệm vụ cụ thể như: 
 - Xây dựng kế hoạch riêng giáo dục trẻ hiếu động. Thiết kế các bài học có 
 nhiều hoạt động để học sinh được thực hành hướng học sinh tập trung 
 vào bài học.
 - Giáo viên nên thường xuyên liên kết với nhà trường và giáo viên bộ môn 
 để tạo cơ hội hòa nhập và phát triển cho các em.
 Giải pháp thứ hai:Tạo môi trường học tập thân thiện tích cực
 5 - Xây dựng nội quy lớp học: 
 + Học sinh được tham gia thiết lập nội quy, sẽ làm cho các em thể hiện 
trách nhiệm của bản thân tốt hơn.
 + Hướng dẫn cho trẻ phải rõ ràng, cụ thể.
 + Nhắc nhở trẻ để giúp trẻ suy nghĩ và nhớ lại sau đó quyết định hành động.
 Sự tham gia của học sinh trong việc xây dựng nội quy lớp học là cần thiết vì:
 + Giúp học sinh hiểu, tôn trọng và thực hiện tốt nội quy do các em đề ra.
 + Giúp học sinh rèn luyện khả năng giao tiếp, nâng cao tinh thần trách 
nhiệm của học sinh.
 Một số nội dung trong nội quy lớp học:
 + Đi học đầy đủ, đúng giờ. Không nói tục, chửi bậy. 
 + Vệ sinh trường, lớp sạch sẽ.
 + Giúp đỡ bạn bè và mọi người xung quanh. 
 + Chú ý nghe giảng.
 + Không hái hoa, bẻ cành.
 + Những học sinh thực hiện tốt các quy định trên sẽ được khen thưởng.
 Những học sinh vi phạm các quy định trên tuỳ theo mức độ sẽ bị phạt.
 - Tạo sự mới mẻ, tích cực trong các giờ học:
 Hướng dẫn học sinh mạnh dạn thực hiện các việc trong các giờ học, giờ 
sinh hoạt. Tạo các trò chơi học tập tạo hứng thú.
 Biết ghi nhận điểm tốt của bạn thay vì chỉ nhìn thấy những điểm chưa tốt 
cuả bạn.
 Ngoài ra giáo viên cũng cần khuyến khích, tạo điều kiện để các em tham 
gia các hoạt động phong trào, vui chơi của nhà trường. Qua đó các em được rèn 
luyện một số kĩ năng: hợp tác, tinh thần đồng đội, sức khỏe 
 - Hãy thay chê bai bằng khen ngợi.
 Dựa trên cơ sở động viên, khuyến khích, nêu gương, tìm hiểu nhằm 
thúc đẩy học sinh có thái độ cư xử, hành vi đúng.
 Cảm xúc được yêu thương, tôn trọng và cảm giác vui thích lại củng cố 
thêm các cảm xúc tích cực khác bên trong học sinh. Khi học sinh có một hành vi 
tích cực, người lớn có những phản ứng mang tính chất củng cố. Cứ như vậy một 
thói quen tốt dần được hình thành.
 6 Ví dụ: thay vì chê "Bạn A nói trống không" thì nên nói "Bạn A đã ngoan 
rồi, nghe lời cô rồi tuy nhiên khi trả lời câu hỏi của cô hay câu hỏi của các bạn 
thì em nên trả lời đủ câu để ngoan hơn nữa nhé!".
 Ngoài việc giáo viên khen ngợi học sinh, phải lưu ý khuyến khích những 
đối tượng khác cùng hợp tác: Cha mẹ học sinh, học sinh .
 Giải pháp thứ ba: Ứng xử tích cực trong lớp học
 Ứng xử tích cực trong lớp học là những hành vi tương tác giữa giáo viên - 
học sinh, học sinh - học sinh, mang tính tích cực chủ động của mỗi chủ thể và 
thể hiện sự quan tâm, tôn trọng, lắng nghe ý kiến của người khác trong quá trình 
thực hiện các nhiệm vụ để đạt mục tiêu dạy học và giáo dục đã đề ra.Khích lệ 
học sinh tích cực chia sẻ, hỗ trợ bạn cùng học.
 Ví dụ:Trong giờ học, giáo viên gọi học sinh trả lời câu hỏi. Học sinh không 
trả lời được. Giáo viên nên khuyến khích học sinh cố gắng suy nghĩ bằng các 
câu hỏi gợi mở. Nếu học sinh vẫn không trả lời được có thể mời các bạn khác hỗ 
trợ sau đó để học sinh nhắc lại câu trả lời. Hạn chế chê bai học sinh hoặc nói 
trống không như:
 1. Không chú ý. Học thì dở, nói chuyện thì hay! Đứng im đấy!
 2. Ai trả lời?
 3. Nhắc lại!
 4. Ngồi xuống!Lần sau còn vi phạm thì...
 Ngoài ra, giáo viên còn tạo cho học sinh biết đối xử thân thiện, hòa nhã 
với nhau, xưng hô lịch sự, biết dùng lời hay ý đẹp để nói với nhau.
 Ví dụ: Uốn nắn học sinh thay đổi cách xưng hô “tao - mày” sang xưng hô 
“mình - bạn”, “cậu - tớ”, xưng tên.
 Một số kỹ năng giúp giáo viên ứng xử tích cực:
 + Lắng nghe tích cực là:
 - Lắng nghe một cách chân thành, gợi mở (cả bằng ánh mắt và trái tim);
 - Hiểu rõ nội dung học sinh cần nói;
 - Hiểu rõ đựơc cảm xúc của học sinh.
 Các rào cản lắng nghe tích cực:
 - Không chú ý, xao nhãng, mất tập trung, gây mất hứng thú của học sinh;
 - Phán xét, chỉ trích, trách mắng học sinh;
 - Đỗ lỗi cho học sinh mà không xem xét rõ vấn đề;
 - Hạ thấp, xem thường học sinh;
 7 - Ngắt lời khi học sinh đang nói;
 - Đưa ra lời khuyên, giải pháp, thuyết trình, giảng giải về đạo đức;
 - Đồng tình kiểu thương hại.
 - Ra lệnh, đe dọa
 + Khích lệ nâng cao lòng tự trọng, tự tin và động cơ cho học sinh.
 Giải phápthứ tư:Thường xuyên động viên, khen thưởng
 Đặc điểm chung của học sinh tiểu học là thích được khen. Vì vậy, giáo 
viên cần có sự động viên, khích lệ một cách kịp thời để các em cùng nhau phấn 
đấu, cùng nhau tiến bộ là một điều vô cùng quan trọng trong quá trình dạy học. 
 Nhóm 1 đoàn kết, biết hỗ trợ bạn 
 trong nhóm
 GIÁO VIÊN CHỦ NHIỆM
 Vũ Thanh Giang
 Phiếu khen học sinh
 Đối với giáo viên, mọi sự cố gắng của học sinh đều được khen ngợi. 
Khuyến khích, động viên đúng lúc, kịp thời và đúng đối tượng học sinh sẽ có tác 
dụng tạo hứng thú cho các em trong học tập.
6. Lợi ích của giải pháp:
 Nhà trường: việc áp dụng thành công giải pháp này vào thực tiễn sẽ giúp 
mỗi giáo viên làm tốt công tác giảng dạy của mình hơn đồng thời xây dựng tập 
thể lớp kỉ luật tốt giúp nhà trường có những tập thể kỉ luật từ đó hình thành một 
tập thể nhà trường kỉ luật tốt. 
 Giáo viên: bản thân giáo viên khi thấy lớp mình đạt được những mục tiêu 
mà mình đề ra là một sự thành công lớn. Nhìn các em vui khi nhận huy hiệu 
thưởng, thư khen; thấy các em hăng hái thi đua học tốt, tích cực hoạt động 
phong trào sẽ thực sự thấy hạnh phúc, thấy vui cùng niềm vui của các em và sự 
 8 phấn khởi của phụ huynh học sinh. Đó chính là thành quả to lớn nhất mà người 
giáo viên nào cũng mong muốn đạt được.
 Phụ huynh: Tin tưởng, yên tâm đối với việc dạy bảo của giáo viên. Bên 
cạnh đó phụ huynh cũng thường xuyên theo dõi được việc học hành, các hành vi 
của con em và có nhiều sự hỗ trợ đối với giáo viên. Phụ huynh cũng cảm thấy 
phấn khởi hi thấy con em mình được giáo viên quan tâm, các em có nhiều tiến 
bộ, các em ngày càng hoàn thiện và thành những đứa trẻ ngoan, học tốt.
 Học sinh: hứng thú học tập, các em có nhiều tiến bộ rõ rệt trong học tập 
cũng như rèn luyện đạo đức. Các em thi đua nhau thực hiện tốt các hoạt động 
mà giáo viên đưa ra.
 Tân Sỏi, ngày 10 tháng 12 năm 2023
 Tổ trưởng
 Vũ Thanh Giang
 9

File đính kèm:

  • docxnang_cao_chat_luong_hoc_tap_phat_trien_pham_chat_nang_luc_ch.docx