Một số biện pháp rèn chữ viết cho học sinh lớp 1

pdf9 trang | Chia sẻ: Chan Chan | Ngày: 10/02/2026 | Lượt xem: 5 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Một số biện pháp rèn chữ viết cho học sinh lớp 1, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút TẢI VỀ ở trên
 1 
 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM 
 Độc lập – Tự do – Hạnh phúc 
 THUYẾT MINH MÔ TẢ GIẢI PHÁP 
 1. Tên giải pháp: Một số biện pháp rèn chữ viết cho HS lớp 1 
 2. Ngày giải pháp được áp dụng lần đầu: 
 Ngày 1/09/2019 đến 25/7/2020. 
 3. Các thông tin cần bảo mật: Không 
 4. Mô tả các giải pháp cũ thường làm: 
 Chất lượng chữ viết của học sinh là vấn đề luôn được thầy cô giáo và phụ 
huynh học sinh quan tâm, bởi từ trước người xưa đã nói: "Nét chữ, nết người". 
 Chúng ta đang ở trong một thời đại công nghệ 4.0, đất nước ngày càng phát 
triển, con người luôn luôn tiếp cận với nhiều loại máy móc hiện đại mà ít quan tâm 
đến chữ viết nên việc rèn chữ cũng bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Học sinh Tiểu học 
còn ngây thơ, trong sáng như một tờ giấy trắng mà giáo viên muốn vẽ gì lên đó thì 
sẽ thành như thế. Ngoài ra các em còn hay thích bắt chước giáo viên từ điệu bộ, cử 
chỉ, tác phong, lời ăn tiếng nói, chữ viết,... đặc biệt là học sinh lớp 1. Đối với bậc 
Tiểu học chữ viết có tầm quan trọng đặc biệt. Đọc, viết giúp trẻ chiếm lĩnh được 
ngôn ngữ vận dụng trong giao tiếp và trong học tập. Ngoài ra, việc rèn chữ viết cho 
học sinh còn góp phần vào việc rèn luyện phẩm chất đạo đức học sinh cũng như 
tính kỷ luật, óc thẩm mỹ và tính kiên trì trong học tập. 
 5. Sự cần thiết phải áp dụng giải pháp: 
 Ở lớp 1 các em mới được làm quen với cách viết chữ nên khả năng viết chữ 
của học sinh còn hạn chế. 
 Thực tế hiện nay tình trạng học sinh viết chữ xấu, sai lỗi chính tả chiếm một tỉ 
lệ không nhỏ ở bậc Tiểu học. Một số học sinh chưa biết cách cầm bút, chưa thuộc 
hết bảng chữ cái và chữ số, nhận thức chậm, chưa thấy được tầm quan trọng của 
chữ viết, không cẩn thận, viết cho nhanh, viết cho xong không cần viết đẹp,... Thực 
trạng này sẽ dẫn đến chữ viết của học sinh ngày càng lệch chuẩn. Đây là vấn đề 
đang được các nhà giáo dục quan tâm. 
 Các em đều là con em nông thôn, bố mẹ làm ruộng, kinh tế gia đình còn khó 
khăn, nhiều em thuộc đối tượng gia đình hộ nghèo nên việc quan tâm đến các em 
còn nhiều hạn chế. Một số em ý thức tự giác học tập chưa cao, các em còn ham 
chơi và rất hiếu động. 
 2 
 Qua điều tra cơ bản đầu năm tôi thu được kết quả sau: 
 TSHS Đẹp, đúng Đúng Sai lỗi chính tả 
 SL % SL % SL % 
 25 3 12 4 16 18 72 
 72% các em sai lỗi chính tả là chữ viết chưa đều nét, chưa chính xác và 
khoảng cách giữa các con chữ và chữ chưa đúng. Một số em ngồi viết chưa đúng 
tư thế: ngồi vẹo lưng, ngồi nghiêng ngoẹo đầu hoặc cúi sát vở. Cầm bút còn sai 
quy cách: cầm quá thấp, cao quá hoặc các ngón tay quá cứng hoặc tay cầm bằng 
cả 4 ngón tay Một số em để vở còn sai quy cách (nghiêng hoặc gần mặt quá). 
 6. Mục đích của giải pháp: 
 Nhằm khắc phục tính cẩu thả và viết sai chính tả cho học sinh, đồng thời nâng 
cao chất lượng chữ viết cho học sinh lớp1. 
 Giúp học sinh có kỹ năng viết đúng, viết đẹp và viết nhanh. 
 Giúp cho học sinh có ý thức và ham thích rèn luyện viết chữ đẹp. 
 Giúp cho phụ huynh học sinh thấy được vai trò và trách nhiệm của mình đối 
với việc rèn chữ viết cho con cái. 
 7. Nội dung: 
 7.1. Thuyết minh giải pháp mới hoặc cải tiến 
 - Nội dung: 
 Xuất phát từ suy nghĩ trên và thực trạng của học sinh lớp 1C tôi đã nghiên 
cứu, theo dõi trong quá trình giảng dạy, tôi xin đưa ra “Một số biện biện pháp rèn 
chữ viết cho học sinh lớp 1” 
 - Các bước tiến hành thực hiện biện pháp : 
 Biện pháp 1: Tư thế ngồi viết 
 Để viết đúng và đẹp thì tư thế ngồi viết đúng là một việc hết sức quan trọng. 
Ngay từ buổi học đầu tiên tôi đã cho các em biết được tầm quan trọng của việc 
ngồi viết không ngay ngắn sẽ ảnh hưởng rất lớn đến chữ viết. Ngồi nghiêng vẹo sẽ 
kéo theo chữ viết không thẳng, bị lệch dòng. Không những thế còn có hại cho sức 
khoẻ: sẽ bị cận nếu cúi sát vở, vẹo cột sống, gù lưng... Vì vậy các em phải ngồi 
ngay ngắn, lưng thẳng, đầu hơi cúi, mắt cách vở từ 25 cm – 30 cm; không được tì 
ngực vào cạnh bàn. Vì thế trước khi viết bài tôi thường cho học sinh nhắc lại tư thế 
ngồi viết đúng. 
 3 
 Ngoài việc ngồi đúng tư thế thì cầm bút đúng cách và cách đặt vở trên bàn 
cũng ảnh hưởng không nhỏ đến chữ viết. Tôi đã cầm mẫu bút phân tích, hướng dẫn 
cách cầm bút, yêu cầu học sinh cùng thực hành: cầm bút bằng 3 ngón tay (ngón 
trỏ, ngón cái, ngón giữa) của bàn tay phải, đầu ngón trỏ đặt ở phía trên, đầu ngón 
giữa phía bên trái, phía bên phải của đầu bút tựa vào đầu đốt giữa ngón tay giữa”. 
Trong quá trình viết bài thường xuyên nhắc nhở học sinh cầm bút đúng tư thế và 
uốn nắn những học sinh còn cầm bút sai: như cầm bút bằng 4 ngón tay, cầm bút 
sát xuống ngòi bút, cầm bút quá xa,... 
 Biện pháp 2: Viết đúng, viết đẹp các nét cơ bản và các chữ cái. 
 Hướng dẫn cho học sinh nắm chắc và viết tốt các nét cơ bản của chữ; nắm 
được tên gọi và cấu tạo của từng nét cơ bản bao gồm: Nét ngang, nét sổ, nét xiên 
trái, nét xiên phải, nét móc xuôi, nét móc ngược, nét móc hai đầu (là kết hợp của 
nét móc xuôi và nét móc ngược), nét cong hở phải, nét cong hở trái, nét cong khép 
kín, nét khuyết trên, nét khuyết dưới, nét thắt. 
 Khi học sinh nắm được tên gọi các nét cơ bản giáo viên dạy học sinh cách 
xác định tọa độ của điểm đặt bút và điểm dừng bút phải dựa trên khung chữ làm 
chuẩn. Hướng dẫn học sinh hiểu điểm đặt bút là điểm bắt đầu khi viết một nét 
trong một chữ cái hay một chữ. Điểm dừng bút là vị trí kết thúc của nét chữ đa số 
điểm kết thúc ở 1/3 đơn vị chiều cao của thân chữ. Riêng đối với con chữ o vì là 
nét cong tròn khép kín nên điểm đặt bút trùng với điểm dừng bút. 
 Để chữ viết không bị rời rạc, đứt nét giáo viên cần nhấn mạnh chỗ nối nét, 
nhắc các em viết đều nét, liền mạch đúng kĩ thuật 
 Dạy cách rê bút: Rê bútlà nhấc nhẹ đầu bút nhưng vẫn chạm vào mặt giấy 
theo đường nét viết trước hoặc tạo ra việt mờ để sau đó có nét viết khác đè lên. 4 
 Dạy cách lia bút: Lia bút là dịch chuyển đầu bút từ điểm dừng này sang điểm 
đặt bút khác, không chạm vào mặt giấy. Khi lia bút, ta phải nhấc bút lên để đưa 
nhanh sang điểm khác, tạo một khoảng cách nhất định giữa đầu bút và mặt giấy. 
 Trong quá trình hướng dẫn học sinh về quy trình viết một chữ cái, rèn kĩ 
thuật nối chữ, viết liền mạch người giáo viên cần lưu ý sử dụng các thuật ngữ trên 
cho chính xác. 
 Ví dụ: Hướng dẫn học sinh viết chữ n: 
 Nét 1: Đặt bút giữa đường kẻ 2 (ĐK 2) và đường kẻ 3 (ĐK 3), viết nét móc 
xuôi trái chạm ĐK3, dừng bút ở ĐK 1. 
 Nét 2: Từ điểm dừng bút của nét 1, rê bút lên gần ĐK 2 để viết tiếp nét móc 
hai đầu; dừng bút ở ĐK2. 
 Căn cứ vào đặc điểm cấu tạo nét và mối quan hệ về cách viết các chữ cái, để 
học sinh viết đúng kĩ thuật, viết đẹp, nắm chắc mẫu chữ cỡ nhỡ. 
 Chia chữ viết thành các nhóm và xác định trọng tâm đại diện cho mỗi nhóm 
chữ gồm những nét nào, những nét chữ nào học sinh hay viết sai, học sinh gặp khó 
khăn gì khi viết các nhóm chữ đó để khắc phục nhược điểm giúp học sinh viết 
đúng và đẹp mẫu chữ như sau: 
 Nhóm 1: Gồm các chữ: m, n, u, ư, i, t, v,r 
 Với nhóm này, các lỗi học sinh hay mắc là viết chưa đúng nét nối giữa các 
nét, nét móc thường hay bị đổ nghiêng, nét hất lên thường bị choãi chân ra. 
 Cách khắc phục: Cho học sinh luyện viết nét sổ có độ cao 2 ô li, sau đó mới 
viết nét móc xuôi, nét móc ngược, nét móc hai đầu có độ cao 2 ô li thật đúng, thật 
thẳng nét. 
 Khi học sinh viết thành thạo các nét đó, cho học sinh ghép các nét thành 
chữ. Khi ghép chữ luôn chú ý điểm đặt bút, điểm dừng bút, độ cao, độ rộng của 
mỗi nét để chữ viết cân đối, đẹp. 
 Nhóm 2: Gồm các chữ: b, l, h, k, y 
 Các lỗi hay mắc: Học sinh hay viết sai nét khuyết. 
 Hình minh họa bài học sinh hay viết sai nét khuyết. 5 
 Cách khắc phục: Trước tiên cho học sinh viết nét sổ có độ cao 5 ô li một 
cách ngay ngắn, thành thạo để rèn tư thế cầm bút chắc chắn cho học sinh. Sau đó 
dạy học sinh viết nét khuyết trên có độ cao 5 ô li, độ rộng trong lòng 1,5 ô li. 
 Để giúp học sinh viết đúng điểm giao nhau của các nét khuyết, hướng dẫn 
học sinh đặt một dấu chấm nhỏ vào sát đường kẻ dọc, trên dòng kẻ ngang 2 của li 
và rèn cho học sinh luôn đưa bút từ điểm bắt đầu qua đúng chấm rồi mới đưa bút 
lên tiếp viết nét khuyết trên có độ rộng bằng 1,5 li. Tương tự như vậy, dạy học sinh 
viết nét khuyết dưới có độ cao 5 ô li, độ rộng 1,5 ô li. 
 VD: Khi dạy viết chữ h, hướng dẫn viết nét khuyết trên trước, từ điểm dừng 
bút của nét khuyết trên ở ĐK ngang 1 rê bút viết tiếp nét móc hai đầu có độ cao 2 
li, độ rộng 1,5 li dừng bút ở ĐK ngang 2. Tương tự như vậy với các chữ còn lại. 
 Nhóm 3: Gồm các chữ: o, ô, ơ,a, ă, â, c, x, d, đ, q, g, e, ê 
 Giáo viên cần cho học sinh viết đúng, viết đẹp chữ o, cần cho các em thấy 
được tầm quan trong của chữ o. Vì chữ o là cơ sở để viết đúng các chữ nhóm 3 
Khi thực hành viết tôi nhận thấy các lỗi học sinh hay mắc: viết chữ o chiều ngang 
quá rộng hoặc quá hẹp, nét chữ không tròn đều đầu to, đầu bé, chữ o méo. 
 Hình minh họa bài học sinh hay viết sai độ rộng. 
 Cách khắc phục: Để viết được đúng và đẹp nhóm chữ này thì cần phải viết 
chữ o đúng và đẹp tròn theo quy định. 
 Để chữ viết không bị rời rạc, đứt nét phải nhấn mạnh hơn chỗ nét nối, nhất 
là chỗ rê bút, từ điểm dừng bút của con chữ vừa viết, rê bút lên viết liền mạch đến 
đâu mới được nhấc bút. 
 Ở phần đầu học chữ ghi âm, học sinh đã được hướng dẫn rất kĩ về độ cao, độ 
rộng của từng nét chữ, con chữ. 
 Khi dạy sang phần vần giáo viên vẫn thường xuyên cho học sinh nhắc lại độ 
cao các chữ cái, những chữ cái nào có độ cao bằng nhau, nét nối giữa các chữ cái 
trong một chữ ghi tiếng, khoảng cách giữa các chữ ghi tiếng ( bằng một con chữ o), 
vị trí đặt dấu thanh( đặt ở âm chính). 6 
 Khi hướng dẫn học sinh viết chữ nét thanh, nét đậm, giáo viên vừa viết mẫu 
vừa nói rõ quy trình viết (viết như quy trình). Chú ý, viết các nét rê lên đưa nhẹ tay 
hơn một chút tạo nét thanh bé, nét kéo xuống theo chiều đầu ngòi bút tạo nét đậm 
hơn nét thanh một chút. Đối với bút mực học sinh cần viết úp ngòi xuống, cổ tay, 
cánh tay để vuông góc. 
 Nét chữ có độ mịn, mượt, không sần sùi. Chữ viết thẳng đứng, các nét chữ 
song song với nhau, đều nét, liền mạch, ngay ngắn và sạch đẹp. 
 “Khi dạy học sinh cỡ chữ nhỏ cũng thường xuyên luyện theo cách đó giúp 
các em nhớ lâu và viết đều nét, liền mạch, đúng độ cao, độ rộng các chữ cái. 
 Việc áp dụng các phương pháp, biện pháp khéo léo, linh hoạt giúp cho giờ 
học Tiếng Việt diễn ra một cách nhẹ nhàng, học sinh hứng thú say mê học tập từ 
đó nâng cao chất lượng về chữ viết. 
 Để đạt hiệu quả cao trong việc rèn chữ viết cho học sinh thì người giáo viên 
cần nghiên cứu kỹ các mẫu chữ viết trong trường tiểu học, nghiên cứu kỹ nội dung 
bài dạy trong các bài Tập viết, nắm vững mục đích yêu cầu của từng bài. 
 Mục đích để lựa chọn phương pháp, hình thức tổ chức dạy sao cho phù hợp 
với đối tượng học sinh đảm bảo yêu cầu chuẩn kiến thức kĩ năng của môn học. 
Đồng thời cần tạo điều kiện cho mỗi cá nhân học sinh bộc lộ và phát triển khả 
năng, năng khiếu của mình. 
 Biện pháp 3: Viết đúng luật chính tả 
 Chương trình Tiếng Việt lớp 1, luật chính tả đã được đưa vào sử dụng như: 
luật chính tả về viết hoa, luật chính tả âm đệm, luật chính tả e, ê, i.... Nó là nền 
tảng ban đầu giúp các em nắm chắc luật chính tả cũng như viết đúng chính tả ở các 
lớp sau này. Muốn vậy, học sinh cần thông thạo về cách viết đúng quy tắc chính tả. 
Từ đó hình thành, phát triển và hoàn thiện kĩ năng viết đúng Tiếng Việt văn hóa , 
Tiếng Việt chuẩn mực theo hướng “giữ gìn sự trong sáng của Tiếng Việt “, cũng 
như xây dựng chuẩn ngôn ngữ cho mỗi vùng miền của Tổ quốc, trong đó nhà 
trường là môi trường quan trọng bậc nhất đóng vai trò chủ đạo trong việc thực hiện 
chuẩn hóa ngôn ngữ và chữ viết. 
 Khi dạy về luật chính tả e, ê, i để học sinh khắc sâu và ghi nhớ luật chính tả 
tôi yêu cầu học sinh học thuộc luật chính tả. Nhấn mạnh để học sinh biết được âm 
ngờ kép( ngh), âm k , âm gờ kép( gh) chỉ đứng trước 3 âm duy nhất e, ê, i, không 
đứng trước các còn lại. Khi học sinh viết sai luật chính tả yêu cầu nhắc lại luật 
chính tả và đọc cho các em viết một số tiếng có luật chính tả e, ê, i. 
 Trước khi đọc cho học sinh viết tôi gọi một vài em nhắc lại luật chính tả 
mà có liên quan nhiều trong bài bằng cách nêu câu hỏi cho các em trả lời. 
 Trong quá trình đọc cho học sinh viết giáo viên phải đọc chính xác, sau mỗi 
cụm từ, mỗi câu phải nhắc lại 3 lần để học sinh theo dõi và luôn theo sát. 
 Khi nhận xét, đánh giá bài viết của học sinh sửa lỗi cụ thể, chi tiết, yêu cầu 
học sinh viết lại chữ sai. 7 
 Thông qua việc viết đúng chính tả để giữ gìn sự trong sáng của Tiếng Việt. 
Viết đúng chính tả là một dấu hiệu cho thấy người viết có văn hóa. Người ở các địa 
phương có thể khác nhau, nhưng viết phải giống nhau, theo luật chính tả. 
 Biện pháp 4: Xây dựng phong trào “ Giữ vở sạch – Viết chữ đẹp” 
 Phát động phong trào“ Giữ vở sạch – Viết chữ đẹp” ngay từ đầu năm học. 
Cuộc họp phụ huynh đầu năm học giáo viên chủ nhiệm tuyên truyền đến phụ 
huynh về phong trào “ Giữ vở sạch – Viết chữ đẹp” để phụ huynh thấy được tầm 
quan trọng của chữ viết. Thông qua đó hướng dẫn phụ huynh mua sắm đồ dùng 
học tập. 
 Trước khai giảng đầu năm học mới hướng dẫn HS cách giữ gìn sách vở, đồ 
dùng, các tiêu chuẩn cần phấn đấu để đạt danh hiệu “Vở sạch – Chữ đẹp”. 
Không chỉ hướng dẫn học sinh cách viết đúng, viết đẹp mà còn hướng dẫn các em 
cách trình bày theo từng loại bài, cách kẻ khi hết bài. 
 Khảo sát chữ viết ngay từ đầu năm để phân loại đối tượng học sinh và có 
kế hoạch bồi dưỡng những học sinh có năng khiếu về chữ viết, kèm cặp học sinh 
chữ viết chưa đúng, chưa đẹp. 
 Thường xuyên nhận xét, đánh giá bài viết của học sinh. Sữa chữa lỗi sai chi 
tiết, cụ thể và có kế hoạch cụ thể để học sinh khắc phục lỗi sai. Tuyên dương, 
động viên khích lệ những học sinh viết đúng ,viết đẹp. 
 Hàng tháng sau khi xếp loại“Giữ vở sạch – Viết chữ đẹp” giáo viên biểu 
dương, khen ngợi những học sinh đã có nhiều cố gắng về chữ viết trong tháng. 
 Bồi dưỡng lòng say mê và tinh thần quyết tâm rèn chữ, giữ vở bằng cách 
kể cho học sinh nghe những tấm gương rèn chữ viết như: Nguyễn Ngọc Ký, Cao 
Bá Quát, cụ thể là những tấm gương ngay ở lớp, ở trường. Cho học sinh tham thảo 
những bài đạt giải tại các cuộc thi chữ đẹp các cấp. 
 Trưng bày những bài viết đẹp, những quyễn vở sạch- chữ đẹp để học sinh 
tham khảo, học tập. 
 Hình minh họa góc trưng bày bài viết đẹp 8 
 - Kết quả khi thực hiện giải pháp: 
 Sau một năm học, với sự nhiệt tình trong công việc giảng dạy cũng như rèn 
chữ cho học sinh lớp tôi đã đạt được kết quả: 
 Hầu hết các em viết đúng độ cao, độ rộng, khoảng cách các chữ và chữ số. 
Viết chữ thẳng hàng, tương đối đều nét. Biết nối liền đúng các chữ cái trong một 
tiếng, liền mạch trong một chữ, ...Đảm bảo đúng tốc độ. 
 Cuối năm học chữ viết của các em tiến bộ rõ rệt, cuối năm học 100% học sinh 
đều ở mức đạt. 
 Thi vở sạch chữ đẹp hàng năm do nhà trường tổ chức luôn đạt giải cao cá 
nhân và tập thể theo khối lớp. 
 Cụ thể: Học kì I năm học 2019- 2020 Lớp tôi có 3 em đi thi chữ viết đẹp do 
nhà trường tổ chức đù đạt kết quả cao: Em Vi Bảo Ngọc đạt giải nhất khối 1, em 
Lê Hải My đạt giải nhì, em Nguyễn Hoài An giải ba. 
 Các em có ý thức tự giác rèn chữ viết, giữ vở viết luôn sạch sẽ, gọn gàng. Biết 
trân trọng bộ vở của mình. 
 + Các bảng số liệu, biểu đồ so sánh kết quả trước và sau khi thực hiện giải 
pháp: 
 Trước khi áp dụng: 
 Qua thực tiễn giảng dạy lớp1 tôi thấy chữ viết của học sinh không đồng đều, 
một số em viết chữ tương đối đẹp, còn lại các em viết chữ chưa đẹp, viết cẩu thả, 
chưa biết cách trình bày vở, khoảng cách chưa đều, chưa đúng, tư thế ngồi, cách 
cầm bút sai đa số các em ngồi cúi mặt với vở, người cong vẹo, vai thấp, vai cao 
cầm bút bằng 4 ngón,.... 
 Kết quả khảo sát chữ viết của lớp 1C đầu năm học 2019- 2020 
 TSHS Đẹp, đúng Đúng Sai lỗi chính tả 
 SL % SL % SL % 
 25 3 12 4 16 18 72 
 Sau khi áp dụng: 
 Sau khi áp dụng những biện pháp trên chất lượng chữ viết của học sinh lớp 
tôi đã được nâng lên rõ rệt. Vở viết của học sinh sạch và đẹp, không nhàu nát. 
 Kết quả chữ viết lớp 1C cuối năm học 2019- 2020 
 TSHS Đẹp, đúng Đúng Sai lỗi chính tả 
 SL % SL % SL % 
 25 9 36 10 40 6 24 9 
 7.2. Thuyết minh về phạm vi áp dụng giải pháp 
 Lớp 1C - Trường Tiểu học Tiến Thắng. 
 7.3. Thuyết minh về lợi ích kinh tế, xã hội của giải pháp: 
 Với kết quả nghiên cứu của mình, tôi thấy học sinh trong lớp có chuyển biến 
rõ rệt, chất lượng chữ viết được nâng lên. Học sinh viết chữ đúng độ cao, độ rộng, 
đúng khoảng cách, viết đúng chính tả hơn, từ đó tạo điều kiệncho các em sử dụng 
Tiếng Việt có hiệu quả cao. Nhất là trong giai đoạn hiện nay, nền khoa học, kỹ 
thuật phát triển. Các em có học tập tốt mới cập nhật được nền khoa học, kỹ thuật 
hiện nay. Rèn chữ viết chính là rèn ý thức con người. Vì chữ viết là then chốt, là 
chìa khoá để mở cửa chất lượng văn hoá. 
 *Cam kết: Tôi cam đoan những điều khai trên đây là đúng sự thật và không 
sao chép hoặc vi phạm bản quyền. 
 Xác nhận của cơ quan, đơn vị Tác giả giải pháp 
 HIỆU TRƯỞNG 
 Dương Mạnh Nguyên Nguyễn Thị Thúy 

File đính kèm:

  • pdfmot_so_bien_phap_ren_chu_viet_cho_hoc_sinh_lop_1.pdf