Một số biện pháp giúp học sinh nhận thức chậm, tiến bộ trong học tập và các hoạt động giáo dục ở lớp 4

pdf27 trang | Chia sẻ: Chan Chan | Ngày: 10/02/2026 | Lượt xem: 1 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Một số biện pháp giúp học sinh nhận thức chậm, tiến bộ trong học tập và các hoạt động giáo dục ở lớp 4, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút TẢI VỀ ở trên
 MỤC LỤC 
NỘI DUNG ............................................................................................................ 2 
I. PHẦN MỞ ĐẦU ............................................................................................... 2 
1. Lý do chọn biện pháp ....................................................................................... 2 
2. Mục đích nghiên cứu ........................................................................................ 3 
3. Nhiệm vụ nghiên cứu ....................................................................................... 3 
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu ....................................................................... 4 
5. Phương pháp nghiên cứu ................................................................................. 4 
II. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU ........................................................................... 4 
1. Cơ sở lý luận ..................................................................................................... 4 
2. Cơ sở thực tiễn .................................................................................................. 6 
3. Các biện pháp ................................................................................................. 11 
3.1. Biện pháp 1: Tìm hiểu, thống kê tình hình học sinh nhận thức chậm 
trong lớp chủ nhiệm; Tạo mối quan hệ tốt đẹp về tình thầy - trò. ................ 11 
3.2. Biện pháp 2: Xây dựng tập thể lớp đoàn kết, luôn yêu thương giúp đỡ nhau . 13 
3.3. Biện pháp 3: Tích hợp giáo dục tư tưởng đạo đức, trách nhiệm của học 
sinh trong các tiết học, các hoạt động tập thể, HĐ ngoài giờ lên lớp,... ........ 15 
3.4. Biện pháp 4: Đề ra các biện pháp cụ thể đối với từng đối tượng học sinh .. 16 
3.5. Biện pháp 5: Phối kết hợp thường xuyên với phụ huynh học sinh, kết 
hợp giáo dục với các đoàn thể trong và ngoài nhà trường. ............................ 23 
III. KẾT QUẢ VÀ ỨNG DỤNG ....................................................................... 23 
1. Kết quả ............................................................................................................ 23 
2. Ứng dụng ......................................................................................................... 24 
IV. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ..................................................................... 25 
1. Kết luận ........................................................................................................... 25 
2. Kiến nghị ......................................................................................................... 26 
TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................................. 27 
 2 
 NỘI DUNG 
 I. PHẦN MỞ ĐẦU 
 1. Lý do chọn biện pháp 
 Trong giai đoạn hiện nay, đất nước ta đã vượt qua nhiều khó khăn, thách 
thức, đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Nước ta đã thoát ra khỏi 
tình trạng kém phát triển, bước vào nhóm nước đang phát triển. Tuy nhiên, những 
thành tựu về kinh tế của nước ta chưa vững chắc, chất lượng nguồn nhân lực và 
sức cạnh tranh của nền kinh tế chưa cao, môi trường văn hoá còn tồn tại nhiều hạn 
chế, chưa hội đủ các nhân tố để phát triển nhanh và bền vững. Để bảo đảm phát 
triển bền vững, nhiều quốc gia đã không ngừng đổi mới giáo dục để nâng cao chất 
lượng nguồn nhân lực, trang bị cho các thế hệ tương lai nền tảng văn hoá vững 
chắc và năng lực thích ứng cao trước mọi biến động của thiên nhiên và xã hội. Đổi 
mới giáo dục đã trở thành nhu cầu cấp thiết và xu thế mang tính toàn cầu. Trong 
bối cảnh đó, nước ta đã và đang thực hiện “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục” 
với mục tiêu: “Nhằm tạo chuyển biến căn bản, toàn diện về chất lượng và hiệu quả 
giáo dục phổ thông; kết hợp dạy chữ, dạy người và định hướng nghề nghiệp; góp 
phần chuyển nền giáo dục nặng về truyền thụ kiến thức sang nền giáo dục phát 
triển toàn diện cả về phẩm chất và năng lực, hài hoà đức, trí, thể, mĩ và phát huy 
tốt nhất tiềm năng của mỗi học sinh.” 
 Giáo dục có vai trò đặc biệt quan trọng, đào tạo ra lực lượng lao động có chất 
lượng cao và sáng tạo có khả năng tự học, tự nghiên cứu suốt đời, có đạo đức, tri 
thức, sức khỏe, thẩm mĩ và nghề nghiệp; trung thành với lí tưởng độc lập dân tộc 
và chủ nghĩa xã hội. Hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực 
công dân đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đó cũng là mục tiêu đã 
được đề ra trong nội dung “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo” mà 
nước ta đã và đang cụ thể hóa ở đổi mới chương trình giáo dục phổ thông theo 
thông tư 32/2018/TT-BGDĐT. 3 
 Chính vì vậy, mỗi bậc học lại có những yêu cầu thiết thực. Đối với học sinh 
Tiểu học, các em chính thức được học tập và rèn luyện, được tiếp thu kiến thức 
khoa học, được xây dựng nền móng các chuẩn mực xã hội,... không tránh khỏi 
những bỡ ngỡ, khó khăn, trở ngại, thậm chí còn thất bại nếu không được giúp đỡ 
kịp thời. Người giáo viên có vai trò quan trọng đối với các em đặc biệt là giáo viên 
chủ nhiệm. Để có chất lượng giáo dục thì công tác chủ nhiệm lớp càng quan trọng 
hơn bao giờ hết bởi người giáo viên không chỉ là người truyền thụ kiến thức mà 
còn phải quan tâm đến sự phát triển của các em về mọi mặt. 
 Nhận thấy rõ vai trò, trách nhiệm của một giáo viên chủ nhiệm lớp, tôi luôn 
tìm tòi nghiên cứu mong muốn tìm được các biện pháp hữu hiệu áp dụng giáo dục 
học sinh. Trong quá trình công tác, nhiều năm liền, tôi được nhận công tác chủ 
nhiệm lớp 4 của trường. Mặc dù tôi đã thực hiện nhiều biện pháp giáo dục nhưng 
vẫn còn nhiều học sinh nhận thức chậm tiến bộ. Điều đó làm tôi luôn trăn trở và suy 
nghĩ tìm các biện pháp mới để áp dụng trong công tác chủ nhiệm lớp của mình nhằm 
nâng cao chất lượng giáo dục. Chính vì thế tôi đã nghiên cứu và quyết định thực 
hiện: “Một số biện pháp giúp học sinh nhận thức chậm, tiến bộ trong học tập và 
các hoạt động giáo dục ở lớp 4” với mong muốn nâng cao chất lượng giáo dục học 
sinh, góp phần thực hiện thành công chương trình giáo dục phổ thông 2018. 
 2. Mục đích nghiên cứu 
 - Tìm hiểu thực trạng việc giáo dục học sinh lớp 4 ở trường; 
 - Tìm hiểu những khó khăn của học sinh trong giáo dục học sinh nhận thức 
chậm ở lớp 4 của trường; 
 - Phân tích nguyên nhân và đề ra biện pháp giáo dục học sinh nhận thức chậm. 
 3. Nhiệm vụ nghiên cứu 
 3.1. Tìm hiểu cơ sở lí luận về những khó khăn trong việc phát triển của 
học sinh tiểu học. 4 
 3.2. Nội dung và thực trạng về việc giáo dục học sinh nhận thức chậm ở 
lớp, trường (đơn vị công tác) hiện nay; 
 3.3. Nghiên cứu các biện pháp giáo dục học sinh nhận thức chậm, tiến 
bộ trong học tập và các hoạt động giáo dục ở lớp 4. 
 3.4. Lựa chọn một số biện pháp giáo dục phù hợp, hiệu quả cho sự phát 
triển của học sinh; sau đó áp dụng thử nghiệm các biện pháp đã lựa chọn. 
 3.5. Bước đầu đề xuất một số biện pháp góp phần nâng cao chất lượng 
giáo dục học sinh lớp 4 của trường Tiểu học. 
 4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 
 4.1. Đối tượng nghiên cứu 
 Các biện pháp giáo dục học sinh nhận thức chậm, tiến bộ trong học tập và 
các hoạt động giáo dục ở lớp 4 trường Tiểu học. 
 4.2. Phạm vi nghiên cứu 
 Hoạt động giáo dục học sinh lớp 4 ở trường (nơi công tác). 
 5. Phương pháp nghiên cứu 
 5.1. Phương pháp nghiên cứu lí thuyết 
 5.2. Phương pháp quan sát 
 5.3. Phương pháp điều tra 
 5.4. Phương pháp đàm thoại 
 5.5. Phương pháp thống kê 
 5.6. Phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh 
 5.7. Phương pháp thực nghiệm 
 II. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 
 1. Cơ sở lý luận 
 Theo các nhà tâm lý học, nhân cách được nhìn nhận với những góc độ như sau: 
 - Nhân cách là cá thể hóa ý thức xã hội (V.X.Mukhina). 5 
 - Con người sinh ra không phải đã có sẵn nhân cách và cũng không phải nó 
bộc lộ dần từ các bản năng nguyên thủy. Nhân cách là một cấu tạo tâm lý được hình 
thành và phát triển trong quá trình sống, hoạt động giao tiếp của mỗi người. Hay 
như nhà tâm lý học nổi tiếng người Nga A.N. Leonchiep đã nói "Nhân cách là cái 
được hình thành, không phải cái được sinh ra". Dưới góc nhìn giáo dục học thì: 
 + Nhân cách là tổ hợp của những phẩm chất và năng lực, là đạo đức và tài 
năng được kết tinh ở mỗi con người. 
 + Con người khi mới sinh ra chưa có nhân cách, nhân cách phản ánh bản chất 
của xã hội của mỗi cá nhân và chỉ được hình thành, phát triển trong hoạt động giao 
lưu. Chính trong quá trình sống, hoạt động, giao tiếp, học tập, lao động, vui chơi, 
giải trí... con người đã tự hình thành và phát triển nhân cách của mình. 
 Đặc biệt là trong quá trình giáo dục, nhân cách của học sinh không ngừng 
hình thành và phát triển. Vì vậy, xây dựng và phát triển con người toàn diện cho 
thế hệ tương lai là nhiệm vụ quan trọng, là “Quốc sách”. 
 Trong giai đoạn hiện nay, chúng ta đang phấn đấu “công nghiệp hóa, hiện đại 
hóa nước nhà”. Đây là định hướng chiến lược đúng đắn, phù hợp với yêu cầu thời 
đại. Thời đại trí tuệ con người được coi là tài sản quý báu. Trong đó giáo dục đóng 
vai trò quan trọng để thực hiện mục tiêu chiến lược quốc gia: “Phát triển giáo dục 
nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, đào tạo những con 
người kiến thức văn hóa, khoa học kỹ thuật, có kỹ năng nghề nghiệp, lao động tự 
chủ, sáng tạo và có kỷ luật, giàu lòng nhân ái, yêu nước, sống lành mạnh đáp ứng 
yêu cầu phát triển của đất nước”. Nằm trong lộ trình đổi mới đồng bộ phương pháp 
dạy học và kiểm tra, đánh giá ở các trường phổ thông theo định hướng phát triển 
năng lực của từng học sinh trên tinh thần nghị quyết 29-NQ/TƯ về “Đổi mới căn 
bản, toàn diện giáo dục và đào tạo”. Thực hiện tốt phương châm phát huy tính chủ 
động, sáng tạo, tự tin, mạnh dạn, dám nghĩ, dám làm, tạo cảm hứng cho học sinh, 
phát triển tối đa năng lực của từng học sinh. Để cụ thể hóa các nội dung đổi mới 6 
trong giáo dục là việc thực hiện kế hoạch số 85-KH/HU ngày 24/10/2014 về việc 
Xây dựng kế hoạch thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 của Ban 
Chấp hành Trung ương Đảng, chương trình hành động số 63- CTr/TU của Tỉnh 
Ủy Bắc Giang về việc đổi mới căn bản toàn giáo dục và đào tạo, áp dụng mạnh 
mẽ, hiệu quả lộ trình của chương trình giáo dục phổ thông 2018. Đó là các yêu 
cầu, nhiệm vụ đặt ra cho mỗi nhà giáo dục. Vậy làm gì? Làm thế nào để giáo dục 
đạt hiệu quả cao nhất? Điều đó thôi thúc chúng ta cần cố gắng hơn nữa trong quá 
trình làm công tác giáo dục. 
 2. Cơ sở thực tiễn 
 Thời gian qua, nâng cao chất lượng giáo dục là nhiệm vụ hàng đầu được nhà 
trường luôn quan tâm, song trong quá trình thực hiện gặp không ít khó khăn, trở ngại. 
 Trong các năm học, thực hiện công tác chủ nhiệm, bản thân tôi đã áp dụng 
nhiều biện pháp giáo dục mong muốn nâng cao chất lượng giáo dục nhưng các 
biện pháp giáo dục đó chỉ chú tâm đến học sinh chưa ngoan mà chưa chú ý đến 
học sinh nhận thức chậm trong học tập và các hoạt động giáo dục. Để nâng cao 
chất lượng giáo dục cần có các biện pháp giáo dục mới giúp học sinh phát triển 
toàn diện về kiến thức kĩ năng cũng như năng lực, phẩm chất cơ bản. Do vậy các 
biện pháp giúp học sinh nhận thức chậm, tiến bộ trong học tập và các hoạt động 
giáo dục được coi là biện pháp mới mang tính giáo dục toàn diện giúp học sinh 
phát triển. 
 Qua kinh nghiệm nhiều năm làm công tác chủ nhiệm lớp cho thấy học sinh 
tiểu học là lứa tuổi đang hình thành và phát triển các năng lực phẩm chất, các em 
có đặc điểm tâm sinh lý khác nhau ảnh hưởng nhiều đến nhận thức cũng như năng 
lực phẩm chất của mỗi cá nhân. Thực tế, hầu hết học sinh nhận thức chậm trong 
học tập và các hoạt động giáo dục chủ yếu do thực hiện chưa tốt các năng lực 
phẩm chất cơ bản. 
 7 
 2.1. Thực trạng về việc nhận thức của học sinh 
 - Năm học 2022 - 2023 tôi được nhận công tác chủ nhiệm lớp 4A của trường 
với số HS là 32 em, sau khi nhận lớp tôi bắt tay vào điều tra khảo sát và thu được 
kết quả: 
 HS thực hiện Học sinh chậm tiến bộ 
 tốt các nhiệm 
 Tiếp thu PT năng lực tự Phát triển phẩm 
 Số vụ HT và rèn 
 chủ, tự học chất chăm chỉ, 
 HS luyện kiến thức 
 trách nhiệm 
 SL TL SL TL SL TL SL TL 
 32 18 56,25% 5 15,6% 5 15,6% 5 15,6% 
 Qua khảo sát học sinh của lớp cho thấy: việc nhận thức chậm của học sinh 
chủ yếu do việc phát triển các năng lực tự chủ, tự học, phẩm chất chăm chỉ, trách 
nhiệm của các em còn chưa tốt. Chính vì thế tôi đi sâu vào nghiên cứu chủ yếu 
vào các năng lực, phẩm chất này với mong muốn có biện pháp hữu hiệu nhất để 
giúp học sinh tiến bộ nhằm nâng cao chất lượng giáo dục. 
 * Về việc tiếp thu kiến thức của học sinh: 
 - Trong giờ học, những học sinh có nhận thức chậm là học sinh chưa nắm 
được các kiến thức cơ bản hoặc quên kiến thức cũ dẫn tới việc thực hành, vận 
dụng gặp khó khăn. 
 - Mạch kiến thức là một chuỗi mắt xích có mối liên hệ mật thiết với nhau nên 
chỉ cần một nội dung kiến thức bị hổng sẽ dẫn đến việc các em không tiếp thu 
được lượng kiến thức cần thiết. 
 - Các em phải thực hành lại nhiều lần nhưng vẫn gặp khó khăn do quên hoặc 
chưa hiểu bản chất. 8 
 - Kinh nghiệm trong giáo dục cho thấy, học sinh nhận thức tốt là những học 
sinh phát triển tốt về năng lực tự chủ, tự học luôn chăm chỉ trách nhiệm với mọi 
công việc được giao, ngược lại tiếp thu kiến thức chậm của học sinh là do sự phát 
triển năng lực tự chủ, tự học, phẩm chất chăm chỉ, trách nhiệm chưa được tốt. Vì 
vậy những năng lực phẩm chất này có mối liên quan với nhau, chúng là tiền đề hỗ 
trợ nhau phát triển. 
 * Phẩm chất chăm chỉ, trách nhiệm 
 Học sinh có nhận thức chậm đều là các em trốn tránh công việc, làm việc 
không nhiệt tình hoặc bỏ dở nhiệm vụ. Các em là những người thường xuyên được 
bạn bè và giáo viên nhắc nhở, giúp đỡ nên thường trông chờ, ỷ lại. 
 * Kỹ năng tự chủ, tự học 
 Các em làm việc theo sự hướng dẫn, máy móc, chưa linh hoạt trong các hoạt 
động, không tự chủ, thường ngồi đợi hoặc ỷ lại cho bạn, cho thầy. Chính vì thế 
năng lực giải quyết các vấn đề của các em cũng bị hạn chế. Các em chưa giải quyết 
được các tình huống học tập thường phải làm đi làm lại bài nhưng vẫn gặp nhiều 
khó khăn. Đó là những hệ lụy dẫn đến những hạn chế trong sự phát triển năng lực 
phẩm chất khác của học sinh. 
 Hình ảnh học sinh nhận thức chậm, khó khăn hoàn thành nhiệm vụ 9 
 Từ thực trạng của học sinh, tôi nhận thấy có những thuận lợi, khó khăn sau: 
 2.2. Thuận lợi 
 - Về phía giáo viên: Trình độ đạt chuẩn, với lòng nhiệt tình, hăng say trong 
công việc, không quản khó, trở ngại có năng lực, yêu nghề và đã áp dụng các 
phương pháp giáo dục phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh. Ngoài giờ 
dạy luôn tự học hỏi, thăm lớp dự giờ để có kinh nghiệm thực tế. Được sự quan tâm 
giúp đỡ của lãnh đạo nhà trường, của các giáo viên về nhiều mặt. 
 Nhà trường luôn quan tâm, chỉ đạo thực hiện công tác chuyên môn có hiệu 
quả, nâng cao tay nghề cho giáo viên. Nhà trường, tổ chuyên môn thường xuyên 
tổ chức chuyên đề sinh hoạt chuyên môn nhằm trao đổi thảo luận tìm các phương 
pháp giáo dục hiệu quả để giúp học sinh tiến bộ trong học tập và rèn luyện. 
 - Về phía học sinh: hầu hết các em đều ngoan, dễ bảo, biết vâng lời nên thực 
nghiệm dễ dàng hơn. Số học sinh thực hiện tốt các nhiệm vụ đạt 56,25% là cơ sở 
cho việc học tập, giúp đỡ lẫn nhau của học sinh. 
 - Về phía lãnh đạo: được sự quan tâm đầu tư và giúp đỡ của Nhà nước và các 
cấp chính quyền về cơ sở vật chất, trang thiết bị. Trường học khang trang, sạch 
đẹp và an toàn đảm bảo cho việc dạy - học theo quy chuẩn của trường chuẩn quốc 
gia mức độ 2. 
 2.3. Khó khăn 
 * Về phụ huynh, học sinh: 
 - Đại bộ phận Phụ huynh đi làm ở các khu công nghiệp, thường xuyên xa 
nhà, phó mặc con cái cho ông bà, nhà trường. 
 - Một số bậc phụ huynh chưa chú tâm trong việc giáo dục con trẻ, chỉ chăm 
chú vào phần học kiến thức, coi điểm số là thước đo giá trị của con em mình mà 
xem nhẹ việc dạy cho con những năng lực phẩm chất cơ bản cần thiết cho mỗi con 
người trong cuộc sống hiện đại. 10 
 - Trong thời đại bùng nổ công nghệ thông tin, học sinh bị chi phối thời gian, 
ảnh hưởng các trò chơi trên internet. 
 - Học sinh ở lứa tuổi nhỏ, tuổi mà nhân cách đang hình thành và phát triển 
nên luôn có những diễn biến nhân cách bất thường. Tâm lí nhanh nhớ hay quên 
cũng là những trở ngại lớn cho quá trình học tập của các em. 
 - Một số học sinh được nuông chiều, mang tính ích kỉ, nên áp dụng các 
biện pháp giáo dục khó thay đổi. 
 2.4. Những nguyên nhân dẫn đến hạn chế trong nhận thức của học sinh 
 - Xã hội ngày một phát triển, đời sống kinh tế xã hội có nhiều thay đổi, học 
sinh đang trải qua nhiều biến động tích cực lẫn tiêu cực, mặt trái của hội nhập 
quốc tế ảnh hưởng lớn tới đời sống vật chất cũng như tinh thần của các em. 
 - Một bộ phận phụ huynh có tư duy lệch lạc, chưa ủng hộ cho giáo dục, không 
tạo điều kiện cho con cháu vì thế học sinh có nếp sống, hoạt động mang tính cá 
nhân liên quan không nhỏ đến công tác giáo dục ở nhà trường. 
 - Một số học sinh sống trong gia đình có hoàn cảnh éo le, khó khăn. Cuộc 
sống của con trẻ không được quan tâm, luôn thiếu bình yên hoặc thiếu thốn tình 
cảm, thiếu sự dạy dỗ, chăm sóc,... 
 - Nhiều em sống trong điều kiện quá đầy đủ vật chất, được bố mẹ nuông 
chiều bao bọc, làm thay mọi việc sẽ sinh hư, ỷ lại, ích kỷ, vô cảm, luôn được người 
khác đáp ứng, dư thừa vật chất, học sinh không có ý thức phấn đấu, không có khả 
năng vượt qua khó khăn. Và như vậy chẳng khác nào cha mẹ sẵn sàng tạo thói hư 
cho con em mình. 
 - Do khả năng hạn chế nhận thức bẩm sinh của bản thân học sinh, có em do 
sự lười học lâu ngày mà thành hổng kiến thức, chưa có động cơ học tập, chưa chịu 
khó, chưa chủ động, tư duy ít, chưa hiểu sâu, hay nắm kiến thức chưa chắc chắn, 
thiếu tự tin, chưa được giúp đỡ kịp thời, 11 
 - Do đặc điểm tâm lí lứa tuổi, các em còn hiếu động, thiếu kiên trì. Một số 
học sinh nhận thức chậm, khả năng tự học, tự giải quyết vấn đề còn hạn chế. 
 - Trong quá trình giáo dục, giáo viên là người tổ chức, hướng dẫn để các em 
phát triển nhưng lại chưa có những biện pháp phù hợp với từng đối tượng học sinh, 
chưa lôi cuốn được sự tập trung, chưa giúp đỡ triệt để hoặc chưa có sự chú ý đúng 
mức tới việc làm thế nào cho đối tượng học sinh nắm vững được cách thức để phát 
triển toàn diện. Đặc biệt hơn là chưa tạo cơ hội trong các hoạt động giáo dục phù 
hợp với đối tượng học sinh để xây dựng, hình thành năng lực, phẩm chất, nhân 
cách cốt lõi cho các em. Khi thực hiện giáo dục mới chú ý đến các biện pháp giáo 
dục các em chưa ngoan, tức là mới chú ý đến các em về mặt đạo đức. Các nội dung 
khác như tiếp thu kiến thức phát triển năng lực, phẩm chất cho học sinh còn coi 
nhẹ hoặc chưa chú ý đến sự phát triển toàn diện của các em, chưa trang bị những 
đầy đủ kỹ năng để các em vững vàng trong cuộc sống muôn màu. 
 - Gia đình chưa quan tâm đến việc học tập và rèn luyện của các em. Gia đình 
có sự mâu thuẫn giữa bố và mẹ, thiếu sự quan tâm của gia đình hoặc có thể bị bạn 
bè, kẻ xấu lôi kéo. Do điều kiện kinh tế còn khó khăn, nhận thức của phụ huynh 
về việc phối hợp rèn các kỹ năng thực hiện của các em chưa tốt, chưa thường 
xuyên. Trình độ học vấn của phụ huynh chưa đáp ứng được yêu cầu đổi mới về 
giáo dục đào tạo nên chưa có biện pháp rèn luyện đúng cho con. 
 3. Các biện pháp 
 3.1. Biện pháp 1: Tìm hiểu, thống kê tình hình học sinh nhận thức chậm 
trong lớp chủ nhiệm; Tạo mối quan hệ tốt đẹp về tình thầy - trò. 
 Sau khi tìm hiểu, khảo sát học sinh tôi thống kê được kết quả như sau: 
 - Tôi dành thời gian đi tìm hiểu đặc điểm, hoàn cảnh gia đình của học sinh, 
tâm sinh lý lứa tuổi của các em bằng nhiều hình thức như đến thăm gia đình, giao 
nhiệm vụ và theo dõi, đánh giá kết quả thực hiện của các em, kết hợp với phụ 12 
huynh, học sinh đánh giá (thực hiện đánh giá công bằng, khách quan) và có kết 
luận như sau: 
 + Các em thực hiện tốt các nhiệm vụ học tập và rèn luyện đều là những học 
sinh ngoan, được bố mẹ quan tâm, dạy bảo đến nơi đến chốn, thường xuyên nghe 
lời dạy bảo, thực hiện mọi công việc có trách nhiệm, nề nếp ngay từ khi còn nhỏ. 
 + Các em chậm tiến bộ: Một số em có hoàn cảnh gia đình khó khăn, sống 
thiếu tình thương yêu dạy bảo như: mồ côi, bố mẹ luôn mâu thuẫn, bố mẹ đi làm 
ăn xa, bố sa vào các tệ nạn xã hội,... hầu như các em không được gia đình quan 
tâm, dạy bảo, sống tự do không nề nếp, hoặc không nghe lời dạy bảo, mải chơi, 
nói trước quên sau,... 
 Trong lớp có các em: Nông Thị Ánh Tuyết, Nông Văn Tráng, Ngô Văn 
Dương gia đình các em đều có hoàn cảnh khó khăn như thuộc hộ nghèo, bố mẹ đi 
làm xa nhà. Các em thiếu sự chăm sóc của cha mẹ, sống với ông bà đã già và phải 
tự mình làm rất nhiều việc nên chểnh mảng việc học hành. Đặc biệt là việc bố mẹ 
mâu thuẫn, thường xuyên tranh cãi cũng ảnh hưởng đến tâm lí của các em như học 
sinh Trần Như Quỳnh. Em Dương Quyết Thắng không có cha từ nhỏ, mẹ đi lấy 
chồng, thiếu tình cảm chăm sóc của cha mẹ, các em luôn buồn, trầm tính, sống 
khép mình ít chia sẻ, mải chơi, không tập trung học tập, thường xuyên mắc lỗi và 
là những học sinh nhận thức chậm trong lớp. 
 * Tạo môi trường thân thiện giữa Thầy-Trò, luôn quan tâm, gần gũi và 
yêu thương các em để hiểu và chia sẻ cùng các em. 
 - Từ việc nắm bắt được tâm tư, đặc điểm của từng học sinh, đặc biệt là những 
học sinh chậm tiến bộ, tôi dành cho các em sự quan tâm, chăm sóc, dạy bảo, giúp 
đỡ các em nhiều hơn như tăng cường thăm gia đình học sinh, trò truyện tâm sự. Khi 
được yêu thương các em sẵn sàng chia sẻ, giãi bày nỗi khó khăn của bản thân. Cũng 
chính như vậy, tôi càng có thêm cơ hội gần gũi và động viên các em. Thầy đã hiểu 
trò và trò yêu mến thầy, công việc dạy dỗ, giáo dục các em ngày một hiệu quả. 13 
 - Ngoài ra tôi luôn tổ chức cho các em những trò chơi học tập, vừa học vừa 
chơi, tạo hứng thú học tập quên đi những mặc cảm bản thân và có tâm thế học tập 
bổ ích. 
 Học sinh hứng thú, vui vẻ khi tham gia trò chơi học tập tại tiết Sinh hoạt lớp 
 3.2. Biện pháp 2: Xây dựng tập thể lớp đoàn kết, luôn yêu thương giúp đỡ nhau 
 - Như chúng ta đã biết xây dựng một đội ngũ Cán sự quản lý tốt là việc rất 
quan trọng, người giáo viên làm công tác chủ nhiệm phải có kế hoạch thực hiện. 
Hơn nữa, để đội ngũ Cán sự lớp cùng giáo viên chủ nhiệm đôn đốc, nhắc nhở việc 
thực hiện nề nếp học tập của các bạn là công việc thật sự cần thiết và có ích. 
 - Trước hết, những học sinh được làm Cán sự lớp bao giờ cũng phải do tập 
thể lớp chọn, đó là những học sinh gương mẫu trước các bạn về mọi mặt: học tập, 
kỷ luật, tham gia các hoạt động, đối xử với bạn bè,.... 
 - Ban cán sự lớp là những con chim đầu đàn, giúp đỡ, động viên, hướng dẫn 
các bạn trong lớp thực hiện và hoàn thành các nhiệm vụ học tập. Tập thể lớp luôn 
cùng nhau trao đổi xây dựng và thực hiện nội quy của lớp. Sau đó tiến hành phát 14 
động thi đua giữa các thành viên trong tổ, giữa các tổ, thực hiện thi đua là nòng 
cốt phấn đấu của mỗi học sinh. 
 - Ban cán sự lớp thường xuyên làm các công việc sau: 
 Đầu giờ (trước giờ truy bài): Các tổ kiểm tra và đôn đốc thực hiện tốt những 
việc sau: soạn sách vở theo đúng thời khóa biểu, chuẩn bị đầy đủ đồ dùng học tập, 
học bài cũ, có ý thức xem bài trước, đi học đúng giờ,... 
 Trong giờ học: theo dõi các bạn trong tổ về thái độ học tập, phát biểu xây 
dựng bài, những sự tiến bộ của các bạn và được tổng kết ngay cuối buổi học, 
 Đến giữa học kì I, các nề nếp đã trở thành thói quen của mỗi cá nhân. Các em 
đã tự chủ trong mọi hoạt động, trong đó năng lực tự chủ tự học ngày càng phát 
triển cho mọi học sinh trong lớp. 
 - Tổ chức và duy trì tốt hoạt động tự quản, hoạt động các câu lạc bộ sở thích, 
phát huy tác dụng của các góc trang trí lớp học, hoạt động thư viện thân thiện, thư 
viện xanh... Tôi mạnh dạn giao các em thực hiện các nhiệm vụ tự chủ quản lí lớp, 
duy trì tổ chức sinh hoạt lớp, giờ chào cờ đầu tuần, khuyến khích các em tích cực 
tham gia trang trí lớp, tự tổ chức các hoạt động vui chơi, đăng kí tham gia các câu 
lạc bộ, tránh làm thay, làm hộ học sinh. Giáo viên chỉ đóng vai trò là người tư vấn 
giúp đỡ. Làm như vậy các em mới có cơ hội bộc lộ khả năng của bản thân, rèn 
luyện các phẩm chất, năng lực cần thiết và sống thương yêu, đoàn kết với bạn bè. 
 * Sử dụng hiệu quả việc nêu gương và khen thưởng, đánh giá học sinh 
theo sự đổi mới. 
 - Nắm được tâm lý của học sinh tiểu học rất thích được khen, thích được động 
viên nên tôi hướng dẫn Ban cán sự lớp, lập bảng chấm điểm thi đua từng học sinh. 
 - Trong cuộc họp phụ huynh đầu năm tôi đã đề xuất với Ban đại diện cha mẹ 
học sinh về việc khen thưởng các học sinh trong lớp thực hiện tốt các phong trào 
học tập cũng như các phong trào khác như: mỗi đợt kiểm tra định kỳ tặng quà trao 
tay cho mỗi môn đạt kết quả cao, có tiến bộ vượt bậc; tặng một phần quà cho HS 
đạt giải của các phong trào nhà trường tổ chức. Sau mỗi tuần thi đua, Ban cán sự 15 
lớp cùng giáo viên đánh giá chung các mặt hoạt động, tổ trưởng đánh giá cụ thể 
các mặt học tập cũng như hoạt động của từng thành viên trong tổ thông qua bảng 
điểm. Sau đó bầu chọn một học sinh tuyên dương trước lớp và nhận thưởng. Học 
sinh trong lớp luôn nỗ lực thi đua phấn đấu. Đặc biệt chú ý đến học sinh nhận thức 
chậm, chỉ cần tiến bộ một chút là đề nghị Ban thi đua lớp tuyên dương và khen 
thưởng, để khuyến khích các em. 
 - Ngoài ra, tôi còn tổ chức sinh nhật cho các em theo tháng để tạo không khí 
vui vẻ và thân thiện khi các em tới trường. 
 - Thực hiện linh hoạt trong đánh giá học sinh theo thông tư 22, 27- Bộ Giáo 
dục và Đào tạo, lấy tuyên dương, khen thưởng là mấu chốt để giúp các em vượt 
qua mặc cảm của bản thân. 
 3.3. Biện pháp 3: Tích hợp giáo dục tư tưởng đạo đức, trách nhiệm của 
học sinh trong các tiết học, các hoạt động tập thể, HĐ ngoài giờ lên lớp,... 
 - Trong các giờ học, tôi luôn tổ chức các hoạt động mang lại niềm vui, tình 
đoàn kết, giúp đỡ nhau trong học tập,... để xóa đi những mặc cảm đồng thời giúp 
các em nhận rõ trách nhiệm của bản thân để cố gắng vươn lên. 
 Học sinh được tham gia các hoạt động giáo dục tập thể nhằm thấy rõ trách nhiệm của bản thân. 16 
 Qua hoạt động tập thể các em được học tập nhiều những tấm gương, lòng 
dũng cảm của các anh hùng, tấm gương vượt khó tiêu biểu của lớp của trường của 
các bạn cùng trang lứa. 
 Thường xuyên tổ chức cho các em tham gia phong phú các hoạt động như: 
hoạt động nhân đạo, đền ơn đáp nghĩa, học tập gắn liền với lao động sản xuất,...Lấy 
thực tiễn cuộc sống làm nền móng cho sự phát triển để bài học gắn chặt với cuộc 
sống, từ đó thu hút được sự hứng thú thực hiện và hoàn thành các nhiệm vụ học tập. 
 Trong giờ học, tôi luôn chú ý tới những học sinh nhận thức chậm, tổ chức 
hoạt động nhóm, bố trí học sinh thực hiện tốt kèm cặp, giúp đỡ các em. Không 
những thế, trong quá trình dạy học, tôi luôn tìm tòi và áp dụng các phương pháp 
mới vào dạy học để giúp các em củng cố kiến thức đã học, nắm bắt kiến thức dễ 
dàng và nhớ lâu. 
 3.4. Biện pháp 4: Đề ra các biện pháp cụ thể đối với từng đối tượng học sinh 
 * Tổ chức hiệu quả phong trào phát triển học sinh có năng khiếu 
 - Thực hiện công tác chủ nhiệm lớp, tôi không chỉ quan tâm tới học sinh nhận 
thức chậm mà tôi còn đề ra kế hoạch giáo dục toàn diện đối với tất cả học sinh. 
Điều đó giúp học sinh hoàn thành tốt luôn cố gắng không ngừng phấn đấu để vươn 
lên và đó cũng là những tấm gương sáng để cho các bạn chậm tiến bộ học tập. 
 - Từ đầu năm học tôi đã dựa vào kế hoạch của nhà trường và các đoàn thể 
trong trường đề ra chỉ tiêu cụ thể cho lớp cùng phấn đấu trong các phong trào 
chung của nhà trường. 
 - Tôi luôn theo dõi và phát hiện những năng lực đặc biệt ở học sinh về văn 
hoá văn nghệ, thể dục thể thao, mĩ thuật, Phối hợp với phụ huynh lập kế hoạch 
bồi dưỡng thường xuyên cho các học sinh có năng khiếu nói trên. 
 - Bồi dưỡng, khơi dậy ở các em lòng say mê hứng thú học tập thông qua 
những hội giao lưu. Tổ chức các sân chơi ở lớp, trường như: Phụ trách Đội giỏi, 
Văn nghệ thể dục thể thao, em yêu tiếng Việt, em yêu khoa học, giải Toán nhanh, 17 
Đấu trường Toán, Văn hay chữ đẹp, Trạng Nguyên nhỏ tuổi các tiết Hoạt động 
ngoài giờ lên lớp để phát huy và chọn lọc những học sinh có năng khiếu để tham 
gia các câu lạc bộ, các cuộc giao lưu do nhà trường, cấp trên tổ chức. Học sinh 
được khuyến khích, động viên nên tích cực tham gia và đạt thành tích cao trong 
học tập và rèn luyện các giải về giao lưu trạng nguyên nhỏ tuổi, chữ viết,... cấp 
trường, cấp huyện. 
 Học sinh đạt thành tích trong giao lưu Trạng nguyên nhỏ tuổi 
 * Đối với học sinh có hoàn cảnh khó khăn, éo le: 
 - Nhiều HS có hoàn cảnh khó khăn về các mặt như: về kinh tế, hoàn cảnh éo 
le: cha mẹ ly hôn, bố mẹ đi làm ăn xa sống với ông bà, bác, bá, Với những học 
sinh này, tôi sắp xếp thời gian tới thăm gia đình các em để phần nào nắm rõ hơn 
hoàn cảnh cụ thể của từng em và tìm ra giải pháp phối hợp giữa gia đình và nhà 
trường. Tôi thường xuyên tới thăm gia đình học sinh với thái độ gần gũi, chân 
thành, tôi hỏi han, chia sẻ và cảm thông với từng khó khăn của họ. Với những học 
sinh trong hoàn cảnh này, tôi quan tâm tới các em nhiều hơn về tình cảm, động 18 
viên các em để các em coi mình là người anh, người thân, người bạn... để các em 
vượt qua khó khăn đi học đều, cố gắng vươn lên trong học tập, rèn luyện. 
 - Với những học sinh khác, tôi chia sẻ và khuyên các em nên có thái độ cảm 
thông với bạn và cùng giúp đỡ nhau trong mọi hoạt động để cùng nhau tiến bộ. 
Tôi cũng vận động các em ủng hộ sách vở, đồ dùng học tập, quần áo,... để cho bạn 
mượn, tặng bạn, đảm bảo cho các em yên tâm về điều kiện học tập. Tôi báo cáo 
với nhà trường và cũng được mọi thầy cô ủng hộ về vật chất và tình cảm để giúp 
đỡ các em. 
 * Đối với HS chậm tiến bộ về tiếp thu kiến thức: 
 - Bên cạnh dạy kiến thức mới, tôi nỗ lực ôn tập kiến thức cũ cho các em. Giúp 
các em hiểu và thực hiện được các mạch kiến thức từ dễ đến khó. 
 - Trong quá trình giảng dạy, tôi luôn tạo hứng thú học tập cho các em bằng 
các trò chơi học tập, sử dụng hiệu quả các phương pháp mới để tạo tư duy, hứng 
thú học tập, vận dụng linh hoạt, sáng tạo các phương pháp dạy học lấy học sinh 
làm trung tâm, các kĩ thuật dạy học tích cực: Khăn trải bàn, Sơ đồ tư duy, Nhóm 
cộng tác... Đây là các phương pháp, kĩ thuật dạy học tương đối dễ áp dụng ở tiểu 
học, không đòi hỏi phải đầu tư nhiều phương tiện, đồ dùng học tập, song lại là cơ 
hội tốt để các em rèn tính hợp tác, kĩ năng chia sẻ, lắng nghe, óc tư duy, kĩ năng 
ra quyết định. Ngoài ra, tôi còn thu hút các em tham gia học tập bằng các hoạt 
động tập thể, hoạt động ngoài giờ bổ ích với tinh thần tập thể, đoàn kết, yêu thương 
nhau cho học sinh. 
 - Mặt khác, tôi lập “Đôi bạn cùng tiến”- Bạn học tập tốt giúp bạn chậm hơn 
để các em có tinh thần vượt khó cùng nhau tiến bộ. 
 - Tôi luôn bên cạnh các em khi cần sự giúp đỡ, động viên, khuyến khích các 
em mọi lúc, mọi nơi. 
 - Tôi kết hợp với phụ huynh để lập quỹ, khen thưởng kịp thời cho các em có 
sự tiến bộ. 19 
 - Tôi thường xuyên theo dõi sự tiến bộ của các em để có được kết quả tiến bộ 
đúng nhất. 
 * Đối với HS chậm tiến bộ về phát triển năng lực 
 + Đối với học sinh có ý thức tự chủ, tự học chưa cao: 
 - Tôi gặp gỡ phụ huynh học sinh trao đổi về tình hình học tập, sinh hoạt ở 
nhà của học sinh. Trao đổi với phụ huynh một số việc phục vụ cho học tập như: 
chuẩn bị sách vở, đồ dùng học tập ở lớp, ở nhà, cách bố trí thời gian học tập ở lớp 
cũng như ở nhà... Đặc điểm của học sinh là mau nhớ nhanh quên, vì vậy việc rèn 
luyện cho các em ý thức tự quản, tự phục vụ cần được làm thường xuyên, liên tục 
ở mọi nơi, mọi lúc. Ngoài sự giáo dục của thầy cô ở lớp, việc cha mẹ giúp đỡ rèn 
luyện ở nhà là một việc quan trọng. Vì vậy, ngay buổi họp đầu tiên của năm học 
tôi đã trao đổi rất kĩ tầm quan trọng của giáo dục cho học sinh và phổ biến cách 
dạy các em ở nhà cho thống nhất với mọi giáo viên ở trường. Tôi mạnh dạn trình 
bày trên bảng cách đánh giá học sinh theo thông tư 22; 27/BGD&ĐT, các kế hoạch 
hoạt động giáo dục tới cha mẹ học sinh để cha mẹ học sinh cùng phối hợp với giáo 
viên chủ nhiệm trong việc giảng dạy và giáo dục các em. Rèn các kỹ năng cơ bản 
như: tự chủ trong chuẩn bị đồ dùng học tập đến việc xếp đồ dùng học tập gọn 
gàng, ngăn nắp, cách bố trí thời gian học tập ở lớp cũng như ở nhà sao cho phù 
hợp; tự chủ trong hoạt động học tập, trong giao tiếp, biết tìm kiếm sự trợ giúp khi 
gặp khó khăn, tự chủ trong học tập bằng cách chia sẻ với bạn với thầy những điều 
đã biết, những điều chưa biết,... 
 - Tôi giao nhiệm vụ cho một số bạn có ý thức tự chủ cao theo dõi giúp đỡ các 
bạn còn hạn chế. 
 - Hàng tuần có đánh giá nhận xét cụ thể của Ban cán sự lớp. 20 
 Học sinh tích cực tự chủ, tự học trong “Ngày hội đọc sách” 
 - Đối với học sinh hạn chế về các năng lực đặc thù, tôi chủ động phân các 
em vào các nhóm theo những đặc tính riêng như nhóm “Vui học Toán”, nhóm 
“Vui học Tiếng Việt”,... Mỗi nhóm đều có những học sinh học tốt để hướng dẫn, 
giúp đỡ các em hoàn thành nhiệm vụ và phát triển các năng lực đó theo hướng 
nắm chắc các yêu cầu cơ bản. 
 - Tôi kết hợp với giáo viên dạy bộ môn lập kế hoạch giúp đỡ học sinh bằng 
những việc cụ thể: đưa ra những câu hỏi từ dễ đến khó để học sinh có thể trả lời 
được nhằm tạo hứng thú và củng cố niềm tin ở các em. Một mặt thường xuyên 
kiểm tra các đối tượng đó trong quá trình lên lớp, giảng dạy mặt khác tôi tổ chức 
cho học sinh học theo nhóm để học sinh có năng lực giúp đỡ học sinh chậm tiến 
bộ, từ đó thôi thúc các em tích cực hoàn thành công việc và thi đua phấn đấu với 
bạn. Trong quá trình học tập và rèn luyện, tôi luôn động viên khuyến khích các 
em kịp thời. Các em có tiến bộ rõ rệt. Đặc biệt là những học sinh chưa có thói quen 
tự học thì nay thay đổi hoàn toàn, các em phấn khởi với những thành tích tiến bộ 
trong học tập, thay vì trước đây các em chán nản do còn gặp nhiều khó khăn trong 
học tập, chưa tự giải quyết được. 

File đính kèm:

  • pdfmot_so_bien_phap_giup_hoc_sinh_nhan_thuc_cham_tien_bo_trong.pdf