Biện pháp nâng cao chất lượng giải bài toán bằng hai bước tính cho học sinh lớp 3

pdf23 trang | Chia sẻ: Chan Chan | Ngày: 10/02/2026 | Lượt xem: 4 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Biện pháp nâng cao chất lượng giải bài toán bằng hai bước tính cho học sinh lớp 3, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút TẢI VỀ ở trên
 UBND HUYỆN YÊN THẾ 
 UBND HUYỆN YÊN THẾ 
 TRƯỜNG TIỂU HỌC TAM TIẾN 
 TRƯỜNG TIỂU HỌC TAM TIẾN 
 BÁO CÁO BIỆN PHÁP THAM GIA HỘI THI 
 GIÁO VIÊN DẠY GIỎI CẤP HUYỆN CHU KỲ 2024-2026 
Tên biện pháp: Biện pháp nâng cao chất lượng giải bài toán bằng hai bước 
 tính cho học sinh lớp 3 
 BIỆN PHÁP 
 Tên biện pháp: Biện pháp nâng cao chất lượng giải bài toán bằng 
 hai bước tính cho học sinh lớp 3 
 Họ và tên: Dương Thúy Hậu 
 Môn giảng dạy: Văn hóa 
 Trình độ chuyên môn: Đại học 
 Chức vụ: Tổ phó tổ 2 + 3 
 Họ và tên: ĐơnDương vị côngThúy tác: Hậ uTrư ờng TH Tam Tiến 
 Đơn vị: Trường Tiểu học Tam Tiến, huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang 
 TÁC GIẢ XÁC NHẬN CỦA NHÀ TRƯỜNG 
 (Kí, ghi rõ họ tên) (Ký tên, đóng dấu) 
 XÁC NHẬN CỦA NHÀ TRƯỜNG NGƯỜI VIẾT 
 P. HIỆU TRƯỞNG (Ký ghi rõ họ tên) 
Dương Thúy Hậu Trần Ngọc Khương 
 Trần Ngọc Khương Dương Thúy Hậu 
 Tam Tiến, ngày 23 tháng 4 năm 2025 
 KẾT QUẢ ĐÁNH GIÁ, NHẬN XÉT CỦA NHÀ TRƯỜNG 
 . 
 . 
 THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ 
 (ký và đóng dấu) 
 ĐÁNH GIÁ, NHẬN XÉT, CỦA BAN GIÁM KHẢO 
 GIÁM KHẢO 
 (Kí, ghi rõ họ tên) 
 MỤC LỤC 
I. PHẦN MỞ ĐẦU 3 
1. Lý do chọn đề tài 3 
2. Mục đích nghiên cứu 5 
3. Nhiệm vụ nghiên cứu 5 
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 6 
5. Phương pháp nghiên cứu 6 
II. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 6 
1. Cơ sở lý luận 6 
2. Cơ sở thực tiễn 7 
3. Các biện pháp 8 
III. KẾT QUẢ VÀ ỨNG DỤNG 17 
1. Kết quả 17 
2. Ứng dụng 18 
VI. KẾT LUẬN 19 
1. Kết luận 19 
2. Kiến nghị 21 
3. Cam kết 21 
4. Tài liệu tham khảo 22 
 3 
 I. PHẦN MỞ ĐẦU 
 1. Lý do chọn đề tài 
 Trong thư gửi học sinh nhân ngày khai trường đầu tiên của nước Việt 
Nam Dân chủ cộng hòa, ngày 15-9-1945 Bác Hồ có căn dặn: “Non sông Việt 
Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh 
quang để sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không, chính là 
nhờ một phần lớn ở công học tập của các em”. 
 Qua lời căn dặn của Bác mỗi chúng ta đều hiểu được tầm quan trọng của 
giáo dục. Giáo dục được coi là nền móng vững chắc cho sự phát triển nhân 
cách của học sinh. Đặc biệt ở Tiểu học Toán là một môn học có vị trí rất quan 
trọng. Môn học này không chỉ cung cấp kiến thức và kỹ năng cơ bản về số 
học, hình học, mà còn phát triển tư duy logic và khả năng giải quyết vấn đề 
cho học sinh. Khi học Toán, học sinh sẽ được khám phá những khái niệm 
toán học cơ bản như số, phép tính cộng, trừ, nhân, chia, các mối quan hệ giữa 
chúng. Từ đó giúp học sinh phát triển khả năng tính toán nhanh, cải thiện khả 
năng xử lý số học và logic, cũng như rèn luyện kỹ năng suy luận của các em. 
 Bên cạnh đó, môn Toán còn tạo điều kiện cho học sinh hiểu và ứng dụng 
kiến thức toán học vào thực tiễn cuộc sống hàng ngày. Từ việc đếm số lượng 
đồ vật, phân loại, so sánh, đo đạc, học sinh có thể áp dụng toán học vào thực 
tế để giải quyết các vấn đề cụ thể. Việc rèn kỹ năng giải bài toán cho học sinh 
trong môn Toán 3 là cực kỳ quan trọng, vì đây là giai đoạn đầu tiên mà học 
sinh tiếp xúc với cácd ạng bài toán phức tạp hơn. Qua việc giải quyết bài toán, 
học sinh học cách phân tích vấn đề, tìm ra phương pháp giải quyết hiệu quả 
và áp dụng kiến thức toán học đã học vào thực tế. 
 Dạng toán có lời văn giải bài toán bằng hai bước tính là một dạng bài 
toán trong môn Toán 3, học sinh cần thực hiện hai bước tính để tìm ra đáp 
án cuối cùng. 4 
 Đặc điểm của dạng toán này là đề bài sẽ cung cấp một lời văn mô tả 
vấn đề cần giải quyết. Lời văn này thường mô tả một tình huống, một bối 
cảnh hoặc một vấn đề trong thực tế. 
 Ví dụ, Bài toán có thể nói về việc phân chia bánh cho một nhóm học 
sinh hoặc việc tính toán số lượng quả táo, quả cam trong rổ. 
 Để giải quyết dạng toán này, học sinh cần thực hiện hai bước tính. Mỗi 
bước có thể đại diện cho một phép tính cơ bản như cộng, trừ, nhân, chia hoặc 
một hành động như phân chia, sắp xếp, phân loại. Thông qua hai bước này, 
học sinh sẽ dần tiến tới giải quyết vấn đề được đề bài đưa ra. Học sinh cần áp 
dụng các phép tính, quy tắc và công thức toán học tương ứng với bài toán để 
thực hiện các bước giải. Đặc biệt, dạng toán này khuyến khích học sinh phải 
suy nghĩ, phân tích và áp dụng logic để giải quyết vấn đề. Học sinh cần suy 
luận và lựa chọn các bước giải phù hợp để đạt được kết quả đúng. Do đó, 
dạng toán có lời văn giải bài toán bằng hai bước tính giúp học sinh phát triển 
năng lực giải quyết bài toán, tư duy logic và áp dụng kiến thức toán học vào 
thực tế. Vì vậy nó cũng đóng góp vào việc rèn luyện khả năng đọc hiểu và 
phân tích vấn đề của học sinh. 
 Trong quá trình dạy học, một trong những bất cập phổ biến nhất đó là
học sinh khá thụ động, chưa mạnh dạn tương tác với giáo viên và các bạn. 
Nội dung giảng dạy thiếu tính thực tế, không gần gũi với học sinh. Nếu các 
bài học không có tính ứng dụng thực tế hoặc không liên quan đến cuộc sống 
hàng ngày của học sinh, các em có thể mất hứng thú và không nhìn thấy ý
nghĩa của việc học toán. Học sinh lớp 3 mới tiếp cận chương trình về giải bài 
toán bằng hai phép tính, kĩ năng đọc hiểu của các em chưa cao nên việc xác 
định đề gặp nhiều khó khăn. Một số em vốn tiếng Việt còn hạn chế nên việc 
đọc hiểu ngữ liệu của bài toán còn gặp nhiều khó khăn. Một số em chưa nắm 
chắc hệ thống các bài toán đơn đã được học, chưa xác định được dạng bài 
toán dẫn đến lúng túng, gặp khó khăn trong việc phát hiện mối liên hệ giữa 5 
các dạng bài toán, thiếu tự tin trong việc tìm tòi lời giải. Khả năng vận dụng 
kiến thức mới học vào để giải bài tập của các em còn hạn chế. 
 Chính vì những bất cập trên đã khiến kết quả học tập của các em không 
cao, các em thụ động trong việc học tập cũng như chưa thật sự có niềm yêu 
thích đối với môn Toán. 
 Cụ thể kết quả khảo sát làm toán lớp 3A1, 3A2 giải bài toán bằng hai 
bước tính vào tháng đầu 12/2023 cụ thể như sau: 
 Lớp 3A1 
 Hoàn thành tốt Hoàn thành Chưa hoàn thành 
 Sĩ số 
 SL % SL % SL % 
 31 6 19,4% 19 61,3% 6 19,4% 
 Lớp 3A2 
 Hoàn thành tốt Hoàn thành Chưa hoàn thành 
 Sĩ số 
 SL % SL % SL % 
 32 6 18,8% 20 62,5% 6 18,8% 
 Nhìn vào bảng số liệu khảo sát trên, tôi thất chất lượng 2 lớp là ngang 
nhau và không cao. 
 Từ thực tế giảng dạy, quá trình quan sát và đúc kết kinh nghiệm của tôi 
cũng như nhận thức được tầm quan trọng của môn Toán 3, tôi đã tìm hiểu và 
lựa chọn đề tài “Biện pháp nâng cao chất lượng giải bài toán bằng hai bước 
tính cho học sinh lớp 3” để đảm bảo kết quả dạy học đạt hiệu quả nhất. 
 2. Mục đích nghiên cứu 
 Nghiên cứu cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của việc rèn kỹ năng giải bài 
toán bằng hai bước tính cho học sinh trong môn Toán 3. 
 Đưa ra một số biện pháp nâng cao chất lượng giải bài toán bằng hai bước 
tính cho học sinh lớp 3 nhằm phát triển phẩm chất, năng lực của học sinh. 
 3. Nhiệm vụ nghiên cứu 6 
 - Thực trạng dạy và học về giải toán bằng hai bước tính của giáo viên và 
học sinh ở địa phương nơi tôi đang công tác. 
 - Tìm ra nguyên nhân dẫn đến thực trạng đó. Từ đó có những giải pháp 
nhằm nâng cao chất lượng giải bài toán bằng hai bước tính cho học sinh lớp 3 
 4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 
 - Thực trạng giải bài toán bằng hai bước tính của học sinh lớp 3. 
 - Học sinh lớp 3A1, 3A2 năm học 2023 – 2024 tại trường Tiểu học 
nơi tôi công tác. 
 5. Phương pháp nghiên cứu 
 Để thực hiện biện pháp này, tôi đã áp dụng các phương pháp nghiên 
cứu sau: 
 - Phương pháp nghiên cứu cơ sở lý luận. 
 - Phương pháp phân tích, xử lý thông tin. 
 - Phương pháp thống kê. 
 - Phương pháp nghiên cứu, khảo sát thực nghiệm. 
 - Phương pháp phân tích tổng hợp. 
 II. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 
 1. Cơ sở lý luận 
 Môn Toán lớp 3 là một phần quan trọng trong chương trình học Tiểu 
học. Nó cung cấp các kiến thức cơ bản và nền tảng cho việc phát triển năng 
lực toán học của học sinh. 
 Giải bài toán bằng hai bước tính là một phương pháp giải quyết bài toán 
bằng cách chia quá trình giải thành hai phần tuần tự và riêng biệt. Mỗi bước 
đều có mục tiêu và hoạt động riêng, đóng góp vào quá trình giải quyết toàn bộ
bài toán. Phương pháp này giúp học sinh tiếp cận, giải quyết bài toán một
cách cụ thể, logic và dễ dàng hơn. 
 Việc phân chia bài toán thành hai bước cần phải được thực hiện một 
cách hợp lý. Cần xác định rõ ràng rằng mỗi bước đóng góp vào việc giải
quyết bài toán và không có sự chồng chéo hoặc lặp lại giữa hai bước. Phương 7 
pháp hai bước thường phù hợp với các bài toán có độ phức tạp trung bình 
hoặc cao, nếu giải quyết bằng một bước duy nhất không hiệu quả. Hai bước 
giải trong dạng này cần có sự liên kết logic với nhau. Bước đầu tiên cần cung 
cấp thông tin và dẫn đến bước thứ hai một cách mạch lạc. Nếu không có sự
tương quan rõ ràng, việc chia thành hai bước có thể làm mất đi tính logic và 
khả năng giải quyết vấn đề. 
 Dạng bài này cần khuyến khích học sinh phát triển các năng lực toán học 
khác nhau bao gồm cả năng lực tính toán, tư duy logic, phân tích vấn đề và áp 
dụng kiến thức. Điều này đảm bảo rằng học sinh không chỉ tập trung vào quá 
trình giải quyết bài toán một cách cơ bản mà còn phát triển năng lực toán học 
tổng quát. 
 2. Cơ sở thực tiễn 
 2.1. Thực trạng của vấn đề nghiên cứu 
 Hiện nay, các trường học vẫn đang không ngừng đổi mới và phát triển 
các phương pháp học tập khoa học, để đảm bảo cho học sinh có điều kiện học 
tập tốt nhất. Tuy nhiên, môn Toán là môn học mà đa số học sinh nào cũng sợ 
sệt và căng thẳng khi đối mặt với những con số, những công thức Toán học. 
Từ đó, tạo ra trong suy nghĩ của học sinh một cái nhìn không tốt về Toán học, 
sợ học Toán. 
 Nhìn chung, phương pháp giảng dạy của giáo viên trong môn Toán vẫn 
chưa được quá chú trọng, nhiều thầy cô vẫn còn giữ những cách dạy cũ dẫn 
đến sự khô khan trong môn học này. Giáo viên chưa thật sự nhận thức được 
tác dụng và tầm quan trọng của các trò chơi trong giờ học Toán. Điều đó đã 
dẫn đến một lớp học toán thụ động và thiếu sự thoải mái trong quá trình học. 
 2.2. Kết quả, hạn chế bất cập và nguyên nhân 
 Kết quả, hạn chế bất cập: 
 - Năng lực giải toán của học sinh chưa cao. 
 - Tỉ lệ học sinh hoàn thành tốt bài tập thấp. 
 - Học sinh không thực sự hứng thú, chủ động trong giờ học. 8 
 - Khả năng làm việc nhóm và giao tiếp, giải quyết vấn đề của học sinh 
chưa được phát triển. 
 Nguyên nhân: 
 - Học sinh chưa nghiên cứu kĩ đề toán, vốn tiếng Việt của các em còn 
hạn chế nên việc tư duy mối quan hệ giữa các dữ kiện của bài toán còn gặp 
nhiều khó khăn. 
 - Một số học sinh chưa nắm chắc hệ thống các bài toán đơn đã được học, 
dẫn đến còn lúng túng trong việc phát hiện mối quan hệ logic giữa các bài
toán này. 
 - Học sinh còn thiếu tự tin trong việc tìm cách giải, còn bị hạn chế trong 
việc lựa chọn các phép giải. 
 - Các em chưa chú ý đến kiểm tra lại, thường coi bài toán đã giải xong, 
tìm ra đáp số là xong. 
 - Trong quá trình giảng dạy môn toán, giáo viên còn coi nhẹ một số bước 
trong quá trình giải toán như: Tìm hiểu đề toán, kiểm tra cách giải toán. Giáo 
viên chưa dành nhiều thời gian đến việc rèn kĩ năng giải toán cho học sinh. 
 Từ những thực trạng, kết quả, hạn chế bất cập và nguyên nhân trên, để 
công việc đạt hiệu quả tốt hơn, giúp các em học sinh có hứng thú trong học 
tập, nâng cao chất lượng giáo dục trong nhà trường, tôi đã mạnh dạn đưa ra 
một số biện pháp như sau: 
 3. Các biện pháp 
 3.1. Biện pháp 1. Hỗ trợ học sinh nắm chắc các bài toán đơn, bài toán 
cơ bản và phân biệt các dạng toán 
 Biện pháp này nhằm mục đích xây dựng nền tảng toán học vững chắc 
cho học sinh, giúp học sinh nắm vững kiến thức cơ bản về các phép tính, quy 
tắc và công thức trong việc giải bài toán. Đồng thời, biện pháp này còn nhằm 
giúp học sinh phân biệt và nhận biết các dạng toán khác nhau, học sinh có thể 
phát triển khả năng phân loại cũng như nhận biết các dạng toán, từ đó xác 
định được phương pháp giải quyết hiệu quả nhất cho mỗi loại toán. 9 
 Việc nắm vững kiến thức giải bài toán cơ bản giúp xây dựng nền tảng 
vững chắc cho học sinh. Đây là những khái niệm và quy tắc căn bản, đóng vai
trò quan trọng trong việc hiểu và áp dụng vào các bài toán phức tạp hơn. Khi 
học sinh đã nắm chắc những kiến thức này, các em có thể tiếp tục phát triển 
và nâng cao khả năng giải toán ở các cấp học tiếp theo. Việc phân biệt các 
dạng toán giúp học sinh xác định được cách tiếp cận và giải quyết từng loại 
bài toán một cách chính xác và hiệu quả hơn. 
 - Nhận biết từ khoá và phép tính trong bài toán: 
 Với những bài toán cơ bản, khi các em học sinh gặp những từ khóa như 
“nhiều hơn” thì sẽ biết được đây đang nói về phép cộng, “ít hơn” thì nói về 
phép trừ, “gấp lên một số lần” nói về phép nhân, “giảm đi bao nhiêu lần” nói 
về phép chia,... Ngoài ra, học sinh cũng cần được học sinh nhấn mạnh thêm 
các bài toán ngược lại của các bài toán có các từ khóa trên thì thực hiện phép 
tính ngược lại đây chính là những bài toán nâng cao. 
 Đặc biệt, học sinh cần phải đặc biệt chú ý để không bị nhầm lẫn giữa 
"bao nhiêu lần" với "bao nhiêu đơn vị" và có thể hiểu đúng khái niệm này. 
 Củng cố cho học sinh thói quen đọc đề và hiểu đúng yêu cầu của đề bài. 
 Giúp các em học sinh nắm chắc ý nghĩa, khái niệm của phép chia và
phép nhân. Thêm vào đó giúp các em hiểu rõ và hiểu đúng những từ khóa 
quan trọng có trong đề bài toán. 
 - Nhận biết bài toán "chia thành phần bằng nhau" và "chia theo nhóm": 
 Hai dạng bài toán này thường bị nhầm lẫn, thực chất đây là hai loại bài 
toán khác nhau về mặt ý nghĩa cụ thể nhưng lại giống nhau về mặt ý nghĩa 
toán học. 
 Học sinh cần được giáo viên hướng dẫn cách để vượt qua sự khác biệt 
tâm lý, từ đó học sinh tập trung vào quá trình tìm và tiến hành thực hiện phép 
tính phù hợp. 
 - Sử dụng hình vẽ, sơ đồ và trí tưởng tượng để xác định yêu cầu đề bài: 
 Cần phải nâng cao yêu cầu về trừu tượng hóa, sử dụng sơ đồ đoạn thẳng. 10 
 Việc sử dụng sơ đồ và hình vẽ là cách để giúp tỉnh lược hoá các từ ngữ 
trong đề toán. Từ đó sẽ giúp các em học sinh có thể tiếp cận với nội dung của 
bài toán một cách tốt hơn, hiệu quả hơn. 
 Hầu hết khi các em học sinh đã nắm vững kiến thức cơ bản về giải bài 
toán. Việc tạo ra các bước giải chi tiết và rõ ràng giúp các em có thể hiểu rõ 
nguyên lý và quy trình giải quyết mỗi bài toán. Điều này đồng nghĩa với việc 
học sinh có khả năng áp dụng kiến thức một cách chính xác và tự tin vào việc 
giải quyết các bài toán cơ bản. Thêm vào đó, giải pháp này đã giúp học sinh 
phân biệt và nhận biết các dạng toán khác nhau, các em đã phát triển khả năng 
tư duy, sự logic và sự linh hoạt trong giải quyết bài toán. 
 Điểm mới của biện pháp này là tập trung vào việc xây dựng nền tảng 
vững chắc cho học sinh. Thay vì chỉ đơn thuần truyền đạt kiến thức thì sẽ tập
trung vào việc giúp học sinh hiểu rõ nguyên tắc đằng sau từng bước giải quyết 
bài toán. Điều này giúp các em phát triển khả năng tư duy và sự linh hoạt 
trong việc áp dụng kiến thức vào những tình huống khác nhau. Hơn nữa, biện 
pháp này cũng cung cấp phương pháp phân biệt các dạng toán. Thay vì chỉ 
tập trung vào việc giải quyết một bài toán cụ thể, biện pháp giúp học sinh 
nhận biết và phân loại các dạng toán khác nhau dựa trên đặc điểm và yêu cầu 
của chúng. 
 3.2. Biện pháp 2. Hỗ trợ học sinh nắm chắc quy trình giải bài toán 
bằng hai bước tính 
 Biện pháp thực hiện nhằm mục đích nhằm giúp học sinh nắm vững quy
trình giải toán. Thông qua sự hướng dẫn và thực hành, học sinh sẽ được tập 
trung vào việc hiểu rõ từng bước giải và quan hệ giữa chúng, học sinh xây 
dựng được một nền tảng vững chắc về quy trình giải toán, từ đó tạo điều kiện 
thuận lợi cho việc áp dụng quy trình này vào các bài toán tương tự. Hơn nữa, 
biện pháp này cũng hướng đến việc phát triển khả năng tư duy và logic của 
học sinh, giúp các em phát triển khả năng tư duy logic, phân tích và kết nối 
các khái niệm toán học một cách mạch lạc, nhất quán. 11 
 Tất cả các bài toán đều được tạo nên từ 3 yếu tố cơ bản, đó là: 
 - Yếu tố đầu tiên chính là dữ kiện của bài toán, đây là những cái đã được 
cho biết ở đầu bài toán. 
 - Yếu tố thứ hai là ẩn số, đây là những cái chưa biết và đề bài đang cần 
tìm (thông thường các ẩn số được diễn đạt dưới dạng câu hỏi của bài toán). 
 - Yếu tố thứ ba là điều kiện, đây là quan hệ giữa các dữ kiện và ẩn số. 
 Học sinh sẽ dựa vào 3 yếu tố được nêu trên để từng bước bắt đầu tóm tắt 
đầu bài toán dưới dạng ý chính ngắn gọn, cô động hoặc học sinh cũng có thể 
minh họa trên sơ đồ đoạn thẳng. 
 Tôi sẽ tiến hành hướng dẫn cho các em học sinh nắm chắc quy trình giải 
bài toán bằng hai bước tính theo trình tự dưới đây: 
 a) Tìm hiểu và phân tích bài toán: 
 Trước tiên, tôi sẽ hướng dẫn cho học sinh cách tìm hiểu ngôn ngữ của 
bài toán bao gồm các yếu tố như: Ngôn ngữ tự nhiên, thuật ngữ toán học và
ngôn ngữ kí hiệu (chữ số, các dấu phép tính, các dấu quan hệ và dấu ngoặc) 
để các em bước đầu hiểu được những gì đề bài đang đề cập. 
 Sau đó, tôi cho học sinh đọc lại đề bài 2 - 3 lần nhằm giúp các em có thể 
nắm chắc được ba yếu tố cơ bản. “Dữ kiện” chính là những cái đã được cho
sẵn trong đầu bài toán, còn những cái chưa biết đó là “ẩn số” cần tìm và “điều 
kiện” là mối quan hệ giữa ẩn số với các dữ kiện. 
 Sau khi học sinh đã hoàn thành việc đọc đề bài nhiều lần, các em sẽ bắt 
đầu tập viết phân tích đề bài, từ đó đưa ra cách giải bài toán phù hợp. Lúc 
này, học sinh cần phải kết hợp nhiều phương pháp lại với nhau để đạt được 
kết quả tốt nhất bao gồm: phương pháp phân tích và tổng hợp, thiết lập cách 
tìm hiểu, phân tích bài toán theo sơ đồ dưới dạng các câu hỏi. 
 Ví dụ: 
 Bài 1, trang 82, Sách giáo khoa Toán 3 - Kết nối tri thức với cuộc sống. 
 Can thứ nhất đựng 5 l nước mắn, can thứ hai đựng số lít nước mắm gấp 3 
lần can thứ nhất. Hỏi cả hai can đựng bao nhiêu lít nước mắm? 12 
 Trước tiên, tôi cho sẽ yêu cầu học sinh phải xác định được 3 yếu tố cơ 
bản của bài toán gồm dữ kiện, ẩn số và điều kiện như sau: 
 + Bài toán cho biết gì? 
 + Bài toán hỏi gì? 
 + Muốn tìm cái đó ta cần biết gì? 
 + Muốn tìm cái chưa biết ta cần dựa vào đâu? Làm như thế nào? 
 Tôi sẽ hướng dẫn học sinh phân tích xuôi rồi bắt đầu tổng hợp ngược 
lên, từ đó các em sẽ nắm được bài kĩ hơn, các em cũng có thể tự mình giải 
được bài toán. 
 b) Tìm cách giải và xác định phép tính: 
 Sau khi học sinh đã đọc kĩ đề toán, các em cũng biết lược bớt những câu 
chữ, rút gọn lại bài toàn, cũng chính vì vậy mà mối quan hệ giữa những cái đã
cho và ẩn số phải tìm hiện rõ hơn. Mỗi em cần phải cố gắng để tóm tắt được 
các đề toán và biết cách nhìn vào tóm tắt ấy để nhắc lại được đề toán, đây
chính là bước đầu tiên cũng là bước quan trọng nhất để các em có hướng giải 
bài toán tốt nhất. 
 Ví dụ: 
 Bài toán nêu trên có thể được trình bày lại như sau: Có 2 cái can. Can 
thứ nhất đựng được 5l nước mắm. Can thứ 2 đựng số lít nước mắm gấp 3 lần 
can thứ nhất. Bài toán yêu cầu tính tổng số lít nước mắm của cả hai can. 
 Sơ đồ: 
 5 l 
 Can thứ nhất: 
 ? l 
 Can thứ hai : 
 Việc tóm tắt bài toán này sẽ giúp cho học sinh có thể tư duy được cách 
giải bài toán một cách nhanh chóng và dễ dàng hơn nhờ vào việc học sinh xác 
định được chính xác các từ khóa quan trọng có trong bài và hệ thống được 
những thông tin đã biết, thông tin chưa biết và thông tin cần biết dưới dạng 
mối quan hệ với nhau. 
 Để học sinh có thể xác định được phép tính cần sử dụng, tôi sẽ đưa ra 13 
một thủ thuật nhỏ như sau: 
 + Đối với những bài sử dụng phép tính cộng thường có các từ: cộng, 
thêm, tổng, cộng vào, tổng cộng, tất cả, có bao nhiêu?,... 
 + Đối với những bài sử dụng phép tính trừ thường có các từ: trừ, lấy đi, 
còn lại, mất, bớt đi, chênh lệch, ít hơn, còn lại bao nhiêu?,... 
 + Đối với những bài có phép nhân thường có các từ: tích, gấp, lần, số 
lần, mỗi lần, cộng dồn, 
 + Đối với những bài sử dụng phép tính chia thường có các từ: chia đều, 
chia thành, mỗi phần, giảm đi số lần, số lượng mỗi phần là bao nhiêu?, 
 Ví dụ: 
 Đối với bài toán trên có hỏi “Cả hai can đựng bao nhiêu lít nước mắm?” 
nên cần thực hiện phép cộng. 
 c) Đặt lời giải và trình bày 
 Đối với môn Toán lớp 3, mô hình trình bày bài giải bài toán có lời văn 
yêu cầu mỗi phép tính, mỗi biểu thức đều phải kèm theo câu lời giải, cuối bài 
có ghi đáp số. 
 Ví dụ: 
 Bài giải 
 Can thứ hai đựng được số lít nước mắm là: 
 5 x 3 = 15 (l) 
 Cả hai can đựng được số lít nước mắm là: 
 5 + 15 = 20 (l) 
 Đáp số: 20l nước nắm. 
 d) Kiểm tra lại các bước giải toán 
 Cuối cùng, học sinh cần kiểm tra lại các bước giải toán bao gồm: 
 + Đọc lại lời giải. 
 + Kiểm tra từng bước giải trong bài xem đã hợp lý với yêu cầu của bài 
hay chưa, các câu văn diễn đạt trong lời giải đúng chưa. 
 + Thử lại các kết quả vừa tính từ bước đầu tiên. 14 
 + Thử lại kết quả đáp số xem đã phù hợp với yêu cầu của đề bài chưa. 
 + Tôi sẽ cho học sinh kiểm tra chéo nhau để học tập kỹ năng viết câu lời 
giải và trình bày của bạn. 
 Biện pháp đã giúp học sinh nắm vững quy trình giải toán, phát triển khả 
năng tư duy logic và phân tích. Điều này góp phần tạo nền tảng vững chắc 
cho học sinh trong lĩnh vực toán học và trang bị cho các em những kỹ năng 
quan trọng trong giải quyết bài toán. 
 Điểm mới của biện pháp này đó chính là giúp học sinh xác định rõ ràng 
các bước giải toán. Thông qua hướng dẫn cụ thể, học sinh được hướng dẫn 
từng bước một để giải quyết bài toán. Điều này giúp các em có cái nhìn tổng 
quan về quy trình và biết cách tiếp cận bài toán một cách có hệ thống. Song 
song đó, biện pháp này cũng khuyến khích học sinh áp dụng quy trình giải 
toán vào các dạng bài toán khác nhau. Thay vì chỉ giải quyết một dạng bài 
toán cụ thể, học sinh được hướng dẫn để có thể nhận biết và áp dụng quy trình 
giải toán vào các dạng bài toán tương tự. Điều này giúp học sinh phát triển 
khả năng chuyển đổi và áp dụng kiến thức vào các tình huống mới. 
 3.3. Biện pháp 3. Rèn luyện kỹ năng giải toán bằng hai bước tính và 
hiểu sâu bài toán 
 Biện pháp được thực hiện nhằm giúp học sinh nâng cao khả năng trình 
bày và diễn đạt bài giải toán một cách chi tiết, rõ ràng hoặc thận tiện. Qua 
việc rèn luyện kỹ năng giải toán bằng hai bước tính và hiểu sâu bài toán, học 
sinh sẽ có thể phát triển khả năng tư duy, giải toán và biểu đạt ý tưởng toán 
học một cách chính xác. Từ đó giúp học sinh trở nên tự tin và thành thạo hơn 
trong việc giải quyết bài toán và phát triển kỹ năng tư duy toàn diện. Giải toán 
bằng cách rèn kỹ năng giải toán cho học sinh sẽ giúp học sinh phát triển khả 
năng tư duy logic, sáng tạo và khả năng giải quyết vấn đề, góp phần củng cố 
kiến thức, trang bị cho học sinh những kỹ năng cần thiết để giải quyết các bài 
toán toán nhanh chóng hơn. Tôi đã tiến hành rèn luyện kỹ năng giải toán bằng 
hai bước tính và hiểu sâu bài toán cho học sinh bằng các cách cụ thể như sau: 15 
 a. Giải các bài toán nâng dần mức độ phức tạp của bài toán 
 Ví dụ: 
 Ông Bình có 35 quả táo, ông Hòa có nhiều hơn ông Bình 12 quả táo. Hỏi 
cả hai ông có tất cả bao nhiêu quả táo? 
 Với bài toán trên sau khi học sinh đã làm bài giải xong tôi sẽ đưa ra cho 
học sinh một số bài toán tương tự nhưng ở mức độ cao hơn cho những học 
sinh đã làm xong trước suy nghĩ để làm như sau. 
 Bài 1. 
 Ông Bình có 35 quả táo, ông Hòa có nhiều hơn ông Bình 2 chục quả táo. 
Hỏi cả hai ông có tất cả bao nhiêu quả táo? 
 Bài 2. 
 Ông Bình có 35 quả táo, ông Bình có nhiều hơn ông Hòa 8 quả táo. Hỏi 
cả hai ông có tất cả bao nhiêu quả táo? 
 Qua cách làm này học sinh sẽ được củng cố các dạng bài toán, nắm chắc 
kiến thức, hiểu sâu bài và giải bài toán nhanh, đúng hơn. 
 b. Giải bài toán có nhiều cách giải khác nhau. 
 Ví dụ: 
 Vườn cây có 2 loại cây xoài và vải. Trong đó có 50 cây xoài, số cây xoài 
ít hơn số cây vải là 20 cây. Hỏi tổng số cây trong vườn là bao nhiêu? 
 Cách 1: 
 Số cây vải là: 
 50 + 20 = 70 (cây) 
 Tổng số cây trong vườn là: 
 50 + 70 = 120 (cây) 
 Đáp số: 120 cây. 
 Cách 2: 
 Tổng số cây trong vườn là: 
 (50 + 20) + 50 = 120 (cây) 
 Đáp số: 120 cây. 16 
 Thông qua giải bài toán bằng nhiều cách giải khác nhau học sinh sẽ có 
cái nhìn mở rộng hơn về các cách giải, học sinh sẽ chọn được các làm phù 
hợp, tối ưu nhất, thuận tiện nhất với mình. 
 Vì sau tất cả, Lan có 20 viên bi, nên ban đầu Lan có 20 - 2 = 18 viên bi. 
 c. Lập và biến đổi bài toán, hoạt động này có thể tiến hành dưới những 
hình thức sau: 
 - Đặt câu hỏi cho bài toán mới chỉ biết dữ kiện, điều kiện. 
 - Chọn số hoặc số đo đại lượng cho bài toán còn thiếu số liệu. 
 - Lập bài toán tương tự với bài toán đã giải. 
 - Lập bài toán ngược với bài toán đã giải. 
 - Lập bài toán theo bảng tóm tắt hoặc sơ đồ minh hoạ. 
 - Lập bài toán theo cách giải cho sẵn. 
 Ví dụ: 
 Bài toán chưa đầy đủ cô đưa ra là: 
 Một trang trại nuôi gà có 1 260 con gà mái, số gà trống ít hơn số gà mái 
215 con. 
 Giáo viên có thể yêu cầu học sinh đặt câu hỏi cho bài toán trên. 
 Biện pháp này đã giúp phát triển khả năng tư duy, phát triển năng lực 
giải quyết vấn đề và sáng tạo. Các em sẽ trở nên tự tin và thành thạo hơn 
trong việc diễn đạt ý tưởng và quá trình tư duy toán học một cách chi tiết. 
Điều này giúp học sinh xây dựng một nền tảng vững chắc và phát triển khả 
năng giải quyết bài toán phức tạp hơn trong tương lai. 
 Điểm mới của biện pháp này đó là tập trung vào việc rèn luyện kỹ năng 
giải toán bằng hai bước tính và hiểu sâu bài toán. Thay vì chỉ tập trung vào 
kết quả cuối cùng, học sinh được tư duy, đào sâu và hiểu sâu bài toán. Điều 
này giúp học sinh phát triển khả năng tư duy, học sinh được diễn đạt ý tưởng 
và giải quyết vấn đề nhanh, sáng tạo và thận tiện hơn. 
 3.4. Biện pháp 4: Tạo hứng thú học tập cho học sinh 
 Để thực hiện biện pháp này tôi sẽ tập trung vào việc sử dụng một số trò 17 
chơi học tập vui nhộn và đánh giá học sinh dựa trên năng lực, phẩm chất của 
từng học sinh và khen thưởng động viên học sinh kịp thời. 
 Tôi nhận thấy đa số học sinh tiểu học các em đều rất thích chơi trò chơi. 
Vì vậy tôi sẽ đưa trò chơi học tập vào đầu hoặc cuối tiết học. Nội dụng của trò 
chơi sẽ có là phép tính, các dạng toán có lời văn cơ bản, bài toán giả bằng hai 
bước tính với những số học sinh dễ nhẩm, Việc sử dụng trò chơi học tập sẽ 
giúp không khí lớp học trở nên vui vẻ, thoải mái hơn, học sinh tích cực hơn. 
Đặc biệt với những buổi học giải bài toán có lời văn với ít hình thức tổ chức 
việc đưa trò chơi vào lại càng cần thiết. 
 Đánh giá học sinh dựa trên năng lực, phẩm chất của từng học sinh và 
khen thưởng động viên học sinh kịp thời. Đây cũng là một biện pháp hữu hiệu 
tạo hứng thú học tập cho học sinh. Một tiết học diễn ra trong không khí vui 
tươi, thoải mái và kích thích được hứng thú của học sinh tôi tin rằng tiết học 
đó sẽ được học sinh tham gia tích cực và đạt hiệu quả cao. 
 III. KẾT QUẢ VÀ ỨNG DỤNG 
 1. Kết quả 
 Qua thời gian áp dụng biện pháp, tôi đã nhận thấy được nhiều sự thay 
đổi trong kết quả học tập lẫn thái độ học tập của các em học sinh. Đầu tiên, 
học sinh đã cải thiện rõ rết năng lực giải toán thông qua việc nắm vững các 
nắm chắc các bài toán đơn, bài toán cơ bản, quy trình giải toán bằng hai bước 
tính. Điều này giúp học sinh tự tin và linh hoạt trong việc áp dụng phương 
pháp này cho các dạng toán khác nhau. 
 Hơn nữa, học sinh cũng đã học được cách phân tích bài toán, tìm ra từ 
khóa, từ ngữ quan trọng trong bài, tìm ra quy luật để đưa ra các bước giải 
quyết nhanh và chính xác. Biện pháp này tạo ra môi trường học tập chủ động, 
tự giác, tích cực, khuyến khích sự tương tác và hợp tác trong nhóm. Học sinh 
học cách làm việc cùng nhau, chia sẻ ý kiến và thảo luận để tìm ra các giải 
pháp tốt nhất. 
 Qua đó, các em đã phát triển năng lực toán học, tự chủ, tự học, giao tiếp 18 
và hợp tác, giải quyết vấn đề và sáng tạo tạo nền tảng cho sự phát triển toàn 
diện của học sinh. 
 Cuối cùng, áp dụng biện pháp này giúp học sinh tự tin hơn và quan tâm 
hơn đến môn Toán. Khi các em thành công trong việc giải quyết bài toán, các 
em sẽ cảm nhận được sự tiến bộ cá nhân, có động lực để tiếp tục khám phá và 
nắm vững kiến thức Toán. Học sinh đã tham gia các hoạt động học tập trên 
lớp một cách tự giác, tự chủ, hứng khởi và tích cực hơn. Mặt khác, sau khi áp 
dụng biện pháp trên vào giạng dạy học được phát triển một các toàn diện hơn 
cả về năng lực và phẩm chất cần có của người học. 
 Việc học tập toán của học sinh cũng trở nên thoải mái, vui vẻ và có sự 
chủ động trong tìm hiểu bài học, các bài tập đưa ra điều được học sinh thực 
hiện đầy đủ. Nhờ vậy, quá trình giảng dạy của tôi trở nên hiệu quả và đạt chất 
lượng tốt hơn. 
 Cụ thể kết quả được thể hiện đến thời điểm tháng 4/2024, năm học 2023 
- 2024 như sau: 
 Lớp 3A1 ( Lớp đối chứng) 
 Hoàn thành tốt Hoàn thành Chưa hoàn thành 
 Sĩ số 
 SL % SL % SL % 
 31 10 32,3% 19 61,3% 2 6,5% 
 Lớp 3A2 (Lớp thực nghiệm) 
 Hoàn thành tốt Hoàn thành Chưa hoàn thành 
 Sĩ số 
 SL % SL % SL % 
 32 17 53,1% 15 46,9% 0 0% 
 2. Ứng dụng 
 Qua thực tế áp dụng biện pháp trên tôi thấy đối tượng được hưởng lợi 
nhiều nhất từ việc thực hiện biện pháp trên là các em học sinh lớp 3. Đặc biệt 19 
là các em chưa hoàn thành tốt dạng giải bài toán bằng hai bước tính. 
 Mặt khác, theo tôi đề tài nghiên cứu của tôi cũng là một gợi ý mới, một 
cánh cửa mới đáng để quan tâm cho những giáo viên văn hóa trực tiếp giảng 
dạy lớp 3 nói chung và giáo viên Tiểu học nói riêng. 
 VI. KẾT LUẬN 
 1. Kết luận 
 1.1. Ý nghĩa của biện pháp 
 Việc áp dụng “Biện pháp nâng cao chất lượng giải bài toán bằng hai 
bước tính cho học sinh lớp 3” đã chứng minh một số điểm mạnh đáng kể và 
mang lại những kết quả tích cực cho học sinh. Bằng cách giúp học sinh nắm 
chắc các bài toán đơn, bài toán cơ bản, quy trình giải toán, cách phân biệt các 
dạng toán và tạo hứng thú học tập cho học sinh, sáng kiến này đã tạo ra những 
thay đổi đáng chú ý trong quá trình học tập, kết quả học tập và phát triển cá 
nhân của học sinh. 
 Biện pháp được thực hiện đã giúp cải thiện năng lực giải toán của học 
sinh. Khi hướng dẫn học sinh áp dụng hai bước giải toán đơn giản và sau đó 
vận dụng vào các bài toán phức tạp hơn, giúp học sinh hiểu rõ hơn về quy 
trình giải toán và áp dụng linh hoạt vào các tình huống khác nhau. Học sinh 
trở nên tự tin hơn trong việc giải quyết các bài toán và có khả năng đưa ra 
những phân tích logic hợp lý. 
 Một điểm đáng chú ý khác của biện pháp này là sự phát triển năng lực 
giao tiếp và hợp tác, giải quyết vấn đề và sáng tạo; phát triển phẩm chất chăm 
chỉ, trách nhiệm của học sinh. Bằng cách tổ chức giải bài toán theo nhóm, học 
sinh được khuyến khích tương tác, chia sẻ ý kiến và tìm kiếm giải pháp cùng 
nhau. Qua quá trình này, học sinh học được cách lắng nghe và trao đổi ý kiến, 
rèn kỹ năng giao tiếp hiệu quả và tìm ra cách làm việc hợp tác để đạt được 
mục tiêu chung. 
 Ngoài ra, biện pháp này cũng khuyến khích học sinh phát triển khả năng 
tư duy sáng tạo. Điều này thúc đẩy học sinh rèn luyện khả năng tư duy linh 

File đính kèm:

  • pdfbien_phap_nang_cao_chat_luong_giai_bai_toan_bang_hai_buoc_ti.pdf