Nâng cao chất lượng viết văn tả cảnh cho học sinh lớp 5 - Trần Thị Thắm
Bạn đang xem nội dung tài liệu Nâng cao chất lượng viết văn tả cảnh cho học sinh lớp 5 - Trần Thị Thắm, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút TẢI VỀ ở trên
Mẫu 02/SK CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc THUYẾT MINH MÔ TẢ GIẢI PHÁP VÀ KẾT QUẢ THỰC HIỆN SÁNG KIẾN 1. Tên sáng kiến: Nâng cao chất lượng viết văn tả cảnh cho học sinh lớp 5 2. Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu hoặc áp dụng thử: 9/2023 3. Các thông tin cần bảo mật (nếu có): Không 4. Mô tả các giải pháp cũ thường làm: Áp dụng những khuôn mẫu nội dung sách giáo khoa. 5. Sự cần thiết phải áp dụng giải pháp sáng kiến: Trong học văn tả cảnh, các bài văn tả cảnh tạo điều kiện cho học sinh thể hiện mối quan hệ với cộng đồng, với thiên nhiên, đất nước con người Việt Nam. Những cơ hội đó làm cho tình cảm yêu mến, gắn bó với thiên nhiên, với người và việc xung quanh của trẻ nảy nở, tâm hồn, tình cảm của trẻ thêm phong phú. Đó là những nhân tố quan trọng góp phần hình thành nhân cách tốt đẹp cho học sinh. Trước những yêu cầu đổi mới của giáo dục hiện nay và với sự phát triển không ngừng của xã hội đòi hỏi học sinh không chỉ có kĩ năng viết đúng ngữ pháp mà còn phải có kĩ năng viết văn hay, ngay từ đầu năm học 2023 tôi đã đề ra kế hoạch và bắt đầu thực hiện giải pháp: Nâng cao chất lượng viết văn tả cảnh cho học sinh lớp 5. 6. Mục đích của giải pháp sáng kiến: Học tốt văn miêu tả sẽ là điều kiện thuận lợi để học tốt các môn học khác ở Tiểu học và học tiếp lên các lớp trên. Việc giúp các em hoàn thành tốt bài văn miêu tả sẽ góp phần nâng cao năng lực cảm thụ văn học mà còn giúp các em khám phá được những cái đẹp qua việc xây dựng văn bản. 7. Nội dung: 7.1. Thuyết minh giải pháp mới hoặc cải tiến: BM-SK02 Trang 1 7.1.1 Giải pháp 1: Ứng dụng sơ đồ tư duy vào dạy học văn tả cảnh Sơ đồ tư duy là một công cụ tổ chức tư duy nền tảng và đơn giản, là phương tiện ghi chép đầy sáng tạo và hiệu quả, sử dụng màu sắc, từ khóa và hình ảnh để mở rộng và đào sâu ý tưởng. Sơ đồ tư duy không yêu cầu tỷ lệ, chi tiết chặt chẽ như bản đồ địa lý, có thể vẽ thêm hoặc bớt các nhánh, mỗi người vẽ một kiểu khác nhau, dùng màu sắc, hình ảnh, cụm từ diễn đạt khác nhau, cùng một chủ đề nhưng mỗi người có thể “thể hiện” nó dưới dạng sơ đồ tư duy theo một cách riêng. Do đó lập sơ đồ tư duy giúp ghi nhớ dễ dàng các nội dung học tập phát huy được tối đa khả năng sáng tạo của mỗi học sinh. Khi lập sơ đồ các em sẽ dễ dàng nắm bắt được trọng tâm của đề bài, có thể tập trung suy nghĩ những chỗ khó, dễ dàng hình dung bố cục của bài văn. Không những vậy, sơ đồ tư duy còn giúp cho các em giải tỏa áp lực trong giờ học văn, khơi dậy năng khiếu viết văn, phát triển khả năng tư duy, sáng tạo. Phương pháp này hướng đến việc cụ thể hóa tối đa hoạt động viết và nói của học sinh sao cho sản phẩm làm văn của mỗi em vừa đảm bảo được chuẩn mực cơ bản của bài văn miêu tả vừa thể hiện được chất riêng của mỗi em. Trong dạy học công cụ này có thể được sử dụng để biến những ý tưởng, suy nghĩ rời rạc, tản mạn thành sơ đồ có cấu trúc và hình ảnh rõ ràng. Hơn nữa, nó giúp HS liên kết và gợi nhớ những kinh nghiệm đã có, làm cho ý tưởng của các em thêm phần phong phú, sáng tạo. * Chuẩn bị: Giấy, bút màu. * Cách tổ chức Bước 1: Khám phá: Xác định yêu cầu của đề, từ khóa - Giáo viên mô tả, gợi mở HS mô tả chủ đề của Sơ đồ bằng một từ, cụm từ ngắn gọn (có thể là từ khóa trong đề bài) hoặc mô tả chủ đề bằng hình ảnh và đặt hình ảnh ở vị trí phù hợp sao cho nổi bật nhất về màu sắc, kích thước . - Đặt và trả lời các câu hỏi liên quan đến chủ đề. Nhưng câu hỏi này có thể do HS tự đưa ra hoặc giáo viên hỗ trợ bằng cách xây dựng hệ thống câu hỏi mang BM-SK02 Trang 2 tính tập trung, tránh tình trạng nêu các ý chung chung, không nổi bật đặc trưng của đối tượng miêu tả. Bước 2: Tiến hành - Từ chủ đề vẽ tiếp các nhánh chính, từ nhánh chính mở ra các nhánh phụ kích thước sao cho nhỏ dần. Trên những nhánh học sinh sử dụng từ, cụm từ khóa hoặc những hình ảnh liên quan. Gắn kết các nhánh bằng mũi tên hoặc đánh số thứ tự. Sử dụng bút màu, các hình ảnh có màu sắc để Sơ đồ thêm sinh động, bắt mắt, tạo hứng thú. - Kiểm tra tổng thể Sơ đồ. Bước 3: Thể hiện - Từ Sơ đồ tư duy học sinh phải: + Diễn đạt bằng lời nói + Diễn đạt ý bằng cách viết câu, đoạn, bài. Ví dụ: Ứng dụng sơ đồ tư duy để lập dàn ý cho bài văn tả cảnh cụ thể - Dùng sơ đồ tư duy “Lập dàn ý bài văn tả cảnh một buổi sáng trong khu vườn”. Bước 1: Khám phá ngữ liệu mẫu Đọc kĩ đề bài, xác định chủ đề chính của sơ đồ có thể là “Buổi sáng trong khu vườn”. + Học sinh cụ thể hóa chủ đề bằng các từ khóa (theo trình tự thời gian hoặc theo các phần của cảnh) qua gợi ý của giáo viên: - Em định tả cảnh gì? Vào thời điểm nào? Trình tự miêu tả em dự định theo thời gian hay theo không gian? - Em dùng những giác quan nào để tả? Em tả những chi tiết, hình ảnh nào? - Từ ngữ để miêu tả các chi tiết? - Những hình ảnh, chi tiết của cảnh gợi cho em những suy nghĩ, liên tưởng gì? BM-SK02 Trang 3 Bước 2: Tiến hành Tiến hành vẽ sơ đồ tư duy theo mạch tư duy (Tự do sáng tạo, sử dụng hình ảnh liên quan để minh họa cho các từ ngữ) Bước 3: Thể hiện Đại diện nhóm lên thuyết minh về sơ đồ tư duy của nhóm mình. Viết đoạn văn miêu tả buổi sáng trong khu vườn. BM-SK02 Trang 4 7.1.2 Giải pháp 2: Sử dụng sổ tay văn học Việc thực hiện sổ tay văn học là rất cần và thiết thực. Rèn cho học sinh có thói quen ghi “Sổ tay văn học”, ghi lại những từ ngữ hay, những hình ảnh đẹp, câu thơ, đoạn văn em thích hoặc những điều em cảm nhận được để trau dồi năng lực cảm thụ văn học cho bản thân. Tạo nguồn cảm hứng cho học sinh phát triển tư duy, phát triển ngôn ngữ. Giúp các em có thể nhớ lâu hơn lưu giữ được những từ ngữ, câu văn hay. Tránh được những sai sót không đáng có xảy ra. Những ý tưởng được lóe ra trong tức thời, ghi lại câu văn hay mỗi khi đọc sách... Tạo thói quen sắp xếp công việc chi tiết, có trình tự, dễ dàng ghi lại và dễ dàng mở ra. Ngay từ đầu năm học tôi cho mỗi em trong lớp làm riêng một quyển sổ tay văn học và hướng các em ghi chép: Quan sát thực tế ghi lại những ý tưởng, câu văn lóe lên tức thời. Hay thông qua các bài tập đọc, các bài thơ, bài đọc thêm các em phát hiện một ý hay, một câu văn hay thì nên ghi ngay vào sổ của mình. Để học sinh có điều kiện được đọc nhiều sách hơn và đáp ứng được nhu cầu đọc sách của các em trong giờ ra chơi, ở lớp tôi đã xây dựng tủ sách “Thư viện thân thiện” đặt tại lớp. Tủ sách này nhằm tập hợp những quyển sách hay, số báo các tháng của giáo viên đặt và phục vụ cho học sinh trong lớp. Học sinh đọc cá nhân, nhóm, khi thấy chi tiết miêu tả hay, đặc sắc các em chọn lựa ghi ngay vào sổ tay của mình. BM-SK02 Trang 5 Ngoài việc tự đọc tôi còn cho một số em có kỹ năng đọc tốt đọc các tin, bài, tác phẩm hay trước lớp trong giờ ra chơi, 15 phút đầu buổi. Nhìn chung học sinh rất hứng thú nghe và cảm nhận được nhiều cái hay, cái đẹp trong thơ văn. Các em tích lũy được vốn từ ngữ từ sổ tay văn học làm tài liệu khi viết văn. Ví dụ: Khi đọc các bài thuộc thể loại văn miêu tả học sinh có thể ghi lại những câu văn, câu thơ hoặc đoạn văn, đoạn thơ giàu hình ảnh như sau: “Lúc ấy, cành tầm xuân khẳng khiu được điểm xuyến bởi những mắt lộc vẫn nằm ẩn sâu trong lớp vỏ sần sùi.” “Từng bông bé xíu, trắng ngà, yểu điệu khoác lên mình bộ cánh nhung tơ mềm mại như lông chim, lấp lánh trong nắng.” “ Đó là một buổi chiều mùa hạ có những đám mây trắng bay lơ lửng trên trời cao. Con chim Sơn Ca cất lên tiếng hót ca ngợi tự do thiết tha đến nỗi khiến người ta phải ao ước giá mình cũng có một đôi cánh. Nhưng bỗng cơn dông kéo tới. Những đám mây trắng bị xua đuổi rất nhanh, nhường chỗ cho những đám mây đen kịt. Chim Sơn Ca bị dạt về phía chân trời xa ” 7.1.3 Giải pháp 3: Làm giàu vốn từ cho học sinh qua việc tích hợp vào các môn học và các hoạt động khác. * Môn Luyện từ và câu Để làm phong phú thêm vốn từ ngữ cho học sinh, trong quá trình dạy Luyện từ và câu tôi chú ý cung cấp vốn từ, mở rộng vốn từ cho học sinh vì luyện từ và câu là phân môn có sự gắn bó mật thiết với phân môn Tập làm văn. Nó giúp các em có sự hiểu biết về nghĩa của từ và làm giàu thêm vốn từ cho các em. Để từ đó các em biết được khi viết văn cần sử dụng những từ ngữ giàu hình ảnh, giàu cảm xúc cũng như sử dụng nhuần nhuyễn từ và câu sao cho hay nhất. Ngoài ra các tiết học Luyện từ và câu đã giúp các em hiểu rõ nghĩa của từ và mở rộng vốn từ theo từng chủ điểm cụ thể. Khi các em tìm từ đồng nghĩa, trái nghĩa, nhiều nghĩa, từ đồng âm. Nhờ đó mà vốn từ của các em càng thêm phong phú. Có vốn từ rồi nhưng phải biết dùng chúng đúng lúc, đúng chỗ cho thích hợp với hoàn cảnh, chủ đề cần miêu tả cho nên tôi luôn coi trọng việc lựa chọn từ ngữ khi diễn BM-SK02 Trang 6 đạt của các em. Tôi đã giúp các em thấy được mỗi chi tiết miêu tả thường chỉ có một từ ngữ, một hình ảnh thích hợp nhất. Một số học sinh lớp tôi ngay từ đầu đã nắm được những từ ngữ hay hình ảnh đẹp song nhiều em vẫn còn lúng túng khi chọn từ ngữ, hình ảnh đặc sắc để miêu tả. Những lúc đó tôi hướng dẫn các em so sánh các từ đó với từ đồng nghĩa với nó hoặc từ trái nghĩa với nó để tìm được từ hay nhất, cần dùng trong đoạn văn bài văn. Ví dụ, hướng dẫn học sinh dùng cặp quan hệ từ: Các em ở giai đoạn này đã được học và đặt câu với các từ chỉ quan hệ như: nhưng, mà, tuy, song,... và đến lớp 5 các em sẽ được học tiếp các cặp quan hệ từ như: Nếu...thì; tuy... nhưng; chẳng những...mà còn...Mà những câu văn có cặp từ chỉ quan hệ có tác dụng nhấn mạnh ý định nói ở vế sau. Vì vậy khi học sinh sử dụng tốt các cặp từ chỉ quan hệ cũng là một cách để các em viết tốt bài văn tả cảnh. Do đó tôi đã tiến hành cho học sinh thực hành nhiều với các dạng bài tập này. Hình thức bài tập làm như sau: - Giáo viên đưa ra câu văn có ý định tả. - Học sinh dùng từ chỉ quan hệ viết lại câu văn (có thêm ý định tả) đã cho theo ý mình. Ví dụ: Câu văn GV đưa ra Câu văn HS hoàn chỉnh - Dòng sông quê em không rộng. - Dòng sông quê em tuy không rộng lớn nhưng lại chứa đầy cá tôm. - Gió giật mạnh, mưa to cây cối - Gió giật càng mạnh, mưa càng to cây nghiêng ngả trong màn nước trắng xóa. cối nghiêng ngả trong màn nước trắng xóa. * Môn Tập đọc Việc bồi dưỡng viết văn tả cảnh luôn được tôi quan tâm thể hiện qua các BM-SK02 Trang 7 tiết Tập đọc, mỗi một bài tập đọc, học sinh đều phải đọc để cảm nhận nội dung, biết tìm ý, phát hiện các biện pháp so sánh nhân hóa, các chi tiết hình ảnh trong bài chính là góp phần bồi dưỡng tả cảnh cho học sinh. Khi dạy các bài Tập đọc, ngoài việc hướng dẫn học sinh tìm hiểu nội dung và hình thức nghệ thuật của bài, giáo viên còn có nhiệm vụ giúp học sinh tích lũy được kinh nghiệm để làm văn. Việc yêu cầu các em trả lời các câu hỏi tìm hiểu bài, nhất là những câu đòi hỏi các em phải tư duy, không ngoài mục đích dạy cho các em những kĩ năng làm văn. Khi trả lời các câu hỏi, muốn trả lời đúng và hay thì học sinh không những phải hiểu được nội dung mà các em còn phải huy động vốn từ ngữ của mình và lựa chọn hình thức diễn đạt sao cho có hiệu quả nhất. Loại câu hỏi gợi sự liên tưởng, tưởng tượng của học sinh đã trực tiếp giúp các em phát triển sức liên tưởng, óc tưởng tượng – những yếu tố cần thiết để làm văn. Ngoài ra, trong mỗi bài tập đọc, tôi sẽ giới thiệu cho học sinh các biện pháp tu từ và tác dụng của từng biện pháp đó (nếu có). Thực ra những biện pháp tu từ này các em đã được học ở phân môn Luyện từ và câu trong các lớp dưới. Thế nhưng trong quá trình dạy Tập đọc, nếu giáo viên không hướng dẫn học sinh khai thác ý nghĩa của từng biện pháp tu từ này thì sẽ hạn chế kĩ năng diễn đạt hành văn của các em. Chính vì thế, trong các tiết Tập đọc, tôi đã tập trung hướng dẫn học sinh tự ôn lại bài và khai thác các biện pháp tu từ có trong bài đọc đó. Trước hết, tôi cho học sinh nhắc lại một số biện pháp tu từ và tác dụng của chúng (biện pháp so sánh, nhân hóa, lặp từ,...) sau đó tìm hình ảnh so sánh, nhân hóa và nêu tác dụng của biện pháp đó là gì? Như vậy dạy Tập đọc góp phần quan trọng trong việc mở rộng vốn từ, gợi sự liên tưởng, đặc biệt là những bài văn viết về cảnh đẹp thiên nhiên chính là những bài băn gần gũi, cung cấp một lượng từ ngữ, câu văn hay để học sinh vận dụng cho viết văn tả cảnh trong môn Tập làm văn. Ví dụ: Bài “Trước cổng trời” Câu hỏi 1: Vì sao địa điểm trong bài thơ được gọi là cổng trời? - Ở câu hỏi này tôi hướng dẫn học sinh: “Nghệ thuật liên tưởng trong văn tả cảnh làm cho cảnh tả lãng mạn, thơ mộng, hùng vĩ và thần bí hơn lên” BM-SK02 Trang 8 Câu hỏi 2: Em hãy tả lại vẻ đẹp của bức tranh thiên nhiên trong bài thơ? Đây là câu hỏi khó nên tôi hướng dẫn học sinh như sau: + Trước hết các em phải đọc thật kĩ bài Tập đọc, để xem tác giả tả cảnh ở cổng trời bằng những cảnh vật nào, tác giả đã dùng các biện pháp nghệ thuật gì để miêu tả các cảnh vật đó. + Sau đó các em bằng cảm nhận của mình để miêu tả lại vẻ đẹp của bức tranh có cách cảnh vật mà tác giả đã tả trong bài thơ. Câu hỏi 3: Trong những cảnh vật được miêu tả em thích nhất cảnh vật nào? - Qua các câu trả lời của học sinh, tôi thấy các cảnh vật được các em yêu thích đều là những cảnh tả làm nổi bật vẻ đẹp của cảnh đẹp ở cổng trời . - Từ đây, tôi hướng dẫn học sinh các cảnh vật mà các em thích đều là những cảnh mà tác giả đã chọn tả thật kĩ nhằm cho ta thấy cảnh ở cổng trời rất đẹp .Vì vậy, các em cần chú ý: “trong văn tả cảnh, cần tả sâu một vài cảnh tả để làm nổi bật vẻ đẹp của cảnh tả đó đồng thời làm cho bài viết sinh động và trọng tâm hơn” Câu hỏi 4: Điều gì đã khiến cho cánh rừng sương giá như ấm lên? + Sau khi học sinh trả lời: Nhờ có hình ảnh con người, cảnh suối reo, nước chảy. + Từ đây tôi giúp học sinh khai thác các biện pháp nghệ thuật mà tác giả đã sử dụng để tả. - Các cụm động từ “gặt lúa, trồng rau, tìm măng, hái nấm” được tác giả dùng rất khéo gợi lên bức tranh sinh hoạt và nhịp sống lao động của bà con các dân tộc vùng cao. - Cùng với các cụm động từ đó là cách gieo vần của tác giả (dã –ngã ; rau - dao) tạo nên nhạc điệu của đoạn thơ rộn ràng nói lên cuộc sống lao động nhộn nhịp, vui vẻ của người dân nơi đây. BM-SK02 Trang 9 - Từ đây, tôi nhấn mạnh cho học sinh: + Một bài văn tả cảnh hay là bài văn biết dùng lời văn có hình ảnh để làm hiện ra trước mắt người đọc một bức tranh cụ thể về cảnh tả đó bằng từ ngữ giàu sức gợi tả, gợi cảm để người đọc thấy rõ hình khối, kích thước, màu sắc, âm thanh + Biết kết hợp sử dụng các biện pháp nghệ thuật để làm nổi bật cảnh tả đồng thời biết chọn một thứ tự sắp xếp các chi tiết tả mà mình coi là thích hợp hơn cả (Thời gian, không gian, từ ngoài vào trong, từ trên xuống dưới, từ toàn thể tới bộ phận, hoặc theo thứ tự tâm lí, nét gì mình chú ý nhiều nhất hay cho là quan trọng nhất cần được tả trước) + Bài văn có hồn là bài văn biết lồng cảm xúc, gửi gắm tình cảm của mình vào từng cảnh tả. - Dựa vào đây, tôi hướng dẫn học sinh: “Khi làm bài văn tả cảnh, các em cần vận dụng tổng hợp các tri thức về tả quang cảnh, cây cối, đồ vật, con vật, hoạt động của con người để làm cho bài viết sống động và có hồn. Lưu ý, đối với bài văn tả cảnh vật thì trọng tâm là tả cảnh còn bài văn tả cảnh sinh hoạt thì tả hoạt động của con người là trọng tâm nhưng cần xen tả cảnh làm nền cho việc tả hoạt động của con người”. * Tiết đọc thư viện Trong tiết đọc thư viện tôi động viên khuyến khích các em trau dồi và mở rộng vốn từ bằng việc lựa chọn sách đọc đúng trình độ. Hay trong hoạt động mở rộng tôi tổ chức hoạt động thảo luận, hoạt động sắm vai để rèn tư duy ngôn ngữ, kỹ năng biểu lộ cảm xúc... cho các em. Khuyến khích các em thường xuyên đọc sách, đọc truyện để mở rộng thêm kiến thức về văn học, tiếng việt. Mỗi câu chuyện, mỗi quyển sách mà các em đọc đều có rất nhiều tri thức trong đó giúp các em mở rộng vốn hiểu biết về từ ngữ, về con người, thiên nhiên, vẻ đẹp cuộc sống, các em sẽ vận dụng tất cả những hiểu biết này vào giờ Tập làm văn để viết thành lời văn của mình. Không chỉ vậy việc các em đọc sách giúp các em tự tìm tòi được từ hay, câu văn hay để ghi vào sổ tay văn học của mình giúp các em nhớ lâu hơn, sử dụng từ ngữ chính xác, phù hợp hơn. Việc các em tự đọc sách giúp phát BM-SK02 Trang 10 triển tư duy, tăng khả năng ghi nhớ, có nhiều cuốn sách viết về thiên nhiên, cảnh đẹp giúp học sinh vận dụng, coi đó là một cuốn cẩm nang để sử dụng làm tài liệu, văn mẫu cho mình. * Sản phẩm được tạo ra từ giải pháp Qua quá trình thực hiện, hiệu quả làm văn của lớp tôi rất khả quan. Đa số HS dùng từ chính xác, biết dùng từ gợi tả, viết văn giàu hình ảnh, biết vận dụng các biện pháp tu từ trong bài văn của mình. Học sinh tham gia môn học với tâm thế thoải mái, tự tin với sự sáng tạo, không gò ép. Các em đã Kết quả khảo sát đầu năm. (Khi chưa áp dụng giải pháp). Hoàn thành tốt Hoàn thành Chưa hoàn thành Lớp Sĩ số SL % SL % SL % 5A3 29 5 17,2 21 72,4 3 10,4 Kết quả khảo sát cuối học kì I. (Khi áp dụng giải pháp). Hoàn thành tốt Hoàn thành Chưa hoàn thành Lớp Sĩ số SL % SL % SL % BM-SK02 Trang 11 5A3 29 15 51,7 14 48,3 0 0 - Sau khi áp dụng kết quả nghiên cứu biết cách dùng từ, đặt câu trong miêu tả, các em biết sử dụng ngữ nghĩa rất chính xác. Các bài Tập làm văn của các em không còn mang tính liệt kê, kể lể nữa. Thực sự các bài văn đã được thổi hồn vào trong. Một phần nào cũng đáp ứng được những gì mà người bản thân tôi mong đợi từ các em. 7.2. Thuyết minh về phạm vi áp dụng sáng kiến: Qua quá trình nghiên cứu và áp dụng các biện pháp vào thực tế giảng dạy tôi thấy biện pháp có thể áp dụng cho khối lớp 4, 5 trong phân môn Tập làm văn cũng như các môn học khác. Nhân rộng: Các lớp học khác trong trường, các trường học khác trong huyện. 7.3. Thuyết minh về lợi ích kinh tế, xã hội của sáng kiến: - Học sinh có những bài văn mang tính riêng, đậm đà màu sắc cá nhân. Học sinh hứng thú, tích cực tham gia môn học với tâm thế thoải mái, tự do sáng tạo, có những phát hiện mới lạ để bài viết tự nhiên, không gò ép. - Bồi dưỡng tình yêu Tiếng Việt và nâng cao chất lượng môn Tiếng Việt trong nhà trường. - Giáo viên có biện pháp dạy học tích cực phát huy tích chủ động, sáng tạo của học sinh. * Cam kết: Tôi cam đoan những điều khai trên đây là đúng sự thật và không sao chép hoặc vi phạm bản quyền. Xác nhận của cơ quan, đơn vị Tác giả sáng kiến (Chữ ký, dấu) (Chữ ký và họ tên) Trần Thị Thắm BM-SK02 Trang 12
File đính kèm:
nang_cao_chat_luong_viet_van_ta_canh_cho_hoc_sinh_lop_5_tran.pdf



