Một số biện pháp nâng cao năng lực tự chủ, tự học cho học sinh lớp 2
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Một số biện pháp nâng cao năng lực tự chủ, tự học cho học sinh lớp 2, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút TẢI VỀ ở trên
1 MỤC LỤC Nội dung Trang I. PHẦN MỞ ĐẦU 2 1. Lý do chọn biện pháp 3 2. Mục đích nghiên cứu 3 3. Nhiệm vụ nghiên cứu 3 4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 3 5. Phương pháp nghiên cứu II. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 3-4 1. Cơ sở lý luận 4-5 2. Cơ sở thực tiễn 5-20 3. Các biện pháp 20-21 III. KẾT QUẢ VÀ ỨNG DỤNG 21-23 IV. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 23 2 I. PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Chương trình Giáo dục phổ thông 2018 ban hành kèm theo Thông tư số 32/2018/TT-BGDĐT ngày 26 tháng 12 năm 2018 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo, trong đó mục tiêu đổi mới giáo dục được Nghị quyết 88/2014/QH13 của Quốc hội quy định: “Đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông nhằm tạo chuyển biến căn bản, toàn diện về chất lượng và hiệu quả giáo dục phổ thông; kết hợp dạy chữ, dạy người và định hướng nghề nghiệp; góp phần chuyển nền giáo dục nặng về truyền thụ kiến thức sang nền giáo dục phát triển toàn diện cả về phẩm chất và năng lực, hài hoà đức, trí, thể, mĩ và phát huy tốt nhất tiềm năng của mỗi học sinh.” Mục tiêu của chương trình giáo giáo dục Tiểu học là giúp học sinh hình thành và phát triển những yếu tố căn bản đặt nền móng cho sự phát triển hài hoà về thể chất và tinh thần, phẩm chất và năng lực; định hướng chính vào giáo dục về giá trị bản thân, gia đình, cộng đồng và những thói quen, nền nếp cần thiết trong học tập và sinh hoạt. Trong đó, năng lực “Tự chủ và tự học” được xếp lên hàng đầu trong nhóm các năng lực chung của người học. Là một giáo viên chủ nhiệm, không chỉ làm công tác giảng dạy mà còn giống như người cha, người mẹ thứ hai của học sinh, luôn muốn dành cho các con những điều tốt đẹp nhất. Qua thực tế giảng dạy và làm công tác chủ nhiệm, nhận thấy năng lực tự chủ và tự học ở học sinh là yếu tố quan trọng, mang tính quyết định trong các môn học và hoạt động giáo dục khác. Tôi đã tìm tòi, nghiên cứu và áp dụng nhiều biện pháp nhằm nâng cao năng lực tự chủ và tự học cho học sinh và đã đạt được kết quả cụ thể, cho thấy rõ sự tiến bộ của học sinh. Với những kinh nghiệm đúc rút được từ bản thân và đồng nghiệp trong quá trình làm việc và nghiên cứu, tôi xin đề xuất giải pháp: “Một số biện pháp nâng cao năng lực tự chủ, tự học cho học sinh lớp 2.” 3 2. Mục đích nghiên cứu - Nâng cao năng lực tự chủ, tự học cho học sinh lớp 2. - Học sinh tích cực, say mê học tập và rèn luyện bản thân. - Góp phần nâng cao chất lượng toàn diện cho học sinh và nâng cao hiệu quả trong công tác chủ nhiệm lớp. 3. Nhiệm vụ nghiên cứu - Đề ra những biện pháp cụ thể và hiệu quả nhằm nâng cao năng lực tự chủ, tự học cho học sinh lớp 2 nói riêng và các lớp khác trong toàn trường nói chung. - Ghi lại những biện pháp mình đã làm để suy ngẫm, để chọn lọc và đúc kết thành kinh nghiệm của bản thân. - Chia sẻ với đồng nghiệp những việc đã làm và đã thành công trong công tác chủ nhiệm lớp. - Rèn luyện sự năng động, nhiệt huyết, sáng tạo, cố gắng học tập, tự chau dồi mình để theo kịp sự tiến bộ của thời đại. 4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu - Đối tượng nghiên cứu: Một số biện pháp nâng cao năng lực tự chủ và tự học cho học sinh lớp 2. - Phạm vi nghiên cứu: Học sinh lớp 2. 5. Phương pháp nghiên cứu - Phương pháp nghiên cứu tài liệu - Phương pháp quan sát - Phương pháp điều tra thực trạng - Phương pháp nêu gương II. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 1. Cơ sở lý luận 4 Giáo dục hiện đại đề cao phát triển năng lực và phẩm chất cho người học. Với những yêu cầu về giáo dục ngày càng cao, đòi hỏi người giáo viên phải luôn nỗ lực, phấn đấu không ngừng nghỉ để có thể “sáng tạo ra những con người sáng tạo”, như Cựu Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã nói: “Nghề dạy học là nghề cao quý nhất trong tất cả các nghề cao quý vì nó sáng tạo ra những con người sáng tạo”. Giáo viên chủ nhiệm lớp ở Tiểu học đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc hình thành cho học sinh những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ. Thông qua các môn học và hoạt động giáo dục, phát triển các năng lực và phẩm chất để học sinh tiếp tục học lên các bậc học khác, góp phần đào tạo được những con người có ích, có tài cho xã hội. Các phẩm chất và năng lực đều rất quan trọng đối với học sinh, đặc biệt là học sinh Tiểu học, vì bậc Tiểu học chính là nền móng quan trọng để các em tiếp tục phát triển ở các bậc học trên. Trong đó, năng lực “ Tự chủ và tự học” được xếp vị trí hàng đầu trong nhóm các năng lực chung. Nâng cao năng lực tự chủ và tự học cho học sinh chính là góp phần to lớn nâng cao chất lượng toàn diện cho học sinh. 2. Cơ sở thực tiễn 2.1. Thực trạng 2.1.1. Thuận lợi - Đa số học sinh nhà gần trường, hộ khẩu thuộc địa phương. Các em ngoan ngoãn, lễ phép với thầy cô, biết vâng lời ông bà, cha mẹ. - Cơ sở vật chất của nhà trường được trang bị đầy đủ, phù hợp với nhu cầu dạy và học. - Ban giám hiệu nhà trường cùng đồng nghiệp luôn tạo điều kiện, quan tâm, giúp đỡ về mọi mặt. 2.1.2 Hạn chế 5 - Đa số phụ huynh học sinh đã có quan tâm đến việc học tập của con, tuy nhiên chỉ tập trung quan tâm đến kiến thức mà chưa chú trọng phát triển các năng lực, phẩm chất ở trẻ. - Đa số các phụ huynh trẻ là công nhân, đi làm cả ngày nên không có nhiều thời gian gần gũi, chia sẻ với các con. - Nhiều học sinh còn rụt rè, chưa mạnh dạn, tự tin, ngại giao tiếp với thầy cô, bạn bè. Chưa thực sự chủ động, tích cực trong học tập. - Ở độ tuổi lớp 2, khả năng chú ý có chủ định đã phát triển nhưng chưa bền vững, thời gian học tập kéo dài sẽ khiến các em mệt mỏi, thiếu sự tập trung trong giờ học. 2.2. Nguyên nhân - Học sinh lớp 2 còn nhỏ, các em ở nhà các em được gia đình chăm lo mọi việc lớn nhỏ, hầu như tất cả các em chưa có kĩ năng tự phục vụ bản thân, các công việc học tập, sinh hoạt vẫn phụ thuộc vào bố mẹ, ông bà. Ở lứa tuổi của các em vẫn còn mải chơi, mau nhớ nhưng cũng mau quên dẫn đến việc thực hiện nền nếp lớp học cũng như các hoạt động học tập còn chưa được chủ động. - Hầu hết các gia đình học sinh làm nông nghiệp hoặc làm công nhân, ít có thời gian dạy dỗ, kèm cặp con. Phụ huynh chưa chú trọng đến việc rèn kĩ năng giao tiếp, ứng xử cho các con. - Giáo viên có những lúc chưa thực sự gần gũi và hiểu học sinh, dẫn đến việc các em sợ, ngại giao tiếp với cô. Trong một số trường hợp chưa tạo được cho học sinh cơ hội phát huy hết khả năng của mình. 3. Các biện pháp 3.1. Hình thành và phát triển kĩ năng tự phục vụ, tự quản. 6 Ngay từ những buổi đầu năm học, thay vì việc giúp học sinh chuẩn bị đồ dùng học tập cá nhân như trước đây, tôi để cho các em tự tay làm mọi việc như: ghi nhãn vở, chuẩn bị sách, vở, đồ dùng cần thiết cho từng môn học, hoạt động. Tôi ở bên quan sát, hướng dẫn và hỗ trợ những học sinh còn gặp khó khăn. Những ngày đầu quả thực các em còn lóng ngóng và gặp nhiều khó khăn nhưng những ngày sau đó đã có tiến triển rõ rệt. Học sinh tự chuẩn bị, sắp xếp đồ dùng học tập Học sinh được tư xây dựng nội quy lớp học ngay từ những buổi học đầu tiên. Đưa nội quy vào thực hiện trong từng hoạt động, từng tiết học để các em nắm rõ và ghi nhớ nội quy dễ dàng hơn, rèn cho học sinh tính kỉ luật, nền nếp trong mọi việc. 7 Học sinh cùng xây dụng nội quy lớp học Học sinh sắp xếp góc thư viện gọn gàng sau khi đọc xong Nắm được tâm lý của học sinh rất thích tham gia các hoạt động sáng tạo và trải nghiệm, rất muốn được làm việc cùng cô, giúp đỡ cô. Tôi tạo cơ hội cho học sinh bằng cách khuyến khích các em tự tay làm sản phẩm để trang trí lớp 8 học, chăm sóc vườn cây trải nghiệm, vệ sinh lớp học và công trình măng non. Qua việc làm này, tôi thấy mình đỡ vất vả hơn, học sinh lại vui vẻ, phấn khởi khi được làm việc. Nhưng hơn hết, tôi muốn các em hiểu rằng khi đến trường, nhiệm vụ của các em không chỉ có học tập mà còn có cả lao động, vệ sinh và tham gia các hoạt động khác nữa. Các em được phát huy năng lực sáng tạo của bản thân, có ý thức tự giác, chăm chỉ làm việc. Khi làm việc cùng nhau, các em còn tăng thêm tinh thần đoàn kết, được mạnh dạn chia sẻ ý kiến, tư tin khi nói về cảm nhận của bản thân trước lớp. Ngoài ra các em còn hiểu và cảm nhận được niềm vui và giá trị trong lao động sản xuất. Học sinh hào hứng khi được tự tay trang trí lớp học và chăm sóc vườn cây trải nghiệm của lớp Trong các hoạt động trải nghiệm của lớp, của trường, tất các em đều được tham gia, tự tay mình làm sản phẩm. Những sản phẩm của các em có thể chưa đẹp nhất, nhưng các em đã cố gắng hết sức mình và dành rất nhiều tình cảm vào đó. Qua các hoạt động này, các em biết thêm trân quý sản phẩm lao động của chính mình cũng như của người khác. 9 Học sinh tự tay trang trí cây mai chào đón Tết 2022 và làm bưu thiếp mùng ngày 20/10 Học sinh say sưa sáng tạo và phấn khởi khoe sản phẩm của mình Để thực hiện và duy trì tốt các hoạt động của lớp học, không thể phủ nhận vai trò của đội ngũ cán bộ lớp. Tôi đã hướng dẫn và tổ chức cho các em bầu ban cán sự lớp, cùng học sinh trao đổi, đề ra những nhiệm vụ cụ thể cho ban cán sự lớp thực hiện ngay từ đầu năm học. Ban cán sự lớp được các bạn tin 10 tưởng, có cơ hội phát huy tối đa năng lực tự chủ của mình, giúp đỡ, nhắc nhở các bạn cùng thực hiện tốt mọi việc. Ra mắt ban cán sự lớp 2B1 năm học 2021 – 2022 3.2. Thiết lập mối quan hệ chặt chẽ giữa giáo viên và phụ huynh học sinh. Để giáo dục học sinh đạt kết quả tốt nhất, cần có sự phối hợp chặt chẽ, nhất quán của cả 3 môi trường giáo dục: Nhà trường, gia đình và xã hội. Ngay từ buổi họp phụ huynh đầu năm, tôi đã nêu rõ quan điểm này với phụ huynh và nhận được sự đồng tình của tất cả phụ huynh. Học sinh lớp 2 còn nhỏ, ở nhà nhiều em được bố mẹ, ông bà nuông chiều nên thường có tính ỉ lại, chưa có ý thức tự giác trong các công việc cá nhân. Vì vậy khi đến trường, các em cũng chưa biết chủ động trong học tập và rèn luyện. Tôi luôn động viên và khuyến khích phụ huynh tạo cơ hội cho các em phát triển năng lực tự chủ, tư học của mình ngay cả khi ở nhà. Phụ huynh sẽ là người đồng hành, giúp đỡ khi các em gặp khó khăn. Ví dụ như những nhiệm vụ học tập cô giao về nhà, các em phải tập thói quen ghi nhớ và tự giác thực hiện đầy 11 đủ. Không lý do, không ỉ lại vào bố mẹ. Hằng ngày, phụ huynh sẽ kiểm soát xem các con đã làm đầy đủ hay chưa, có gặp khó khăn gì không và có biện pháp nhắc nhở, giúp đỡ phù hợp. Nếu ngày nào các con cũng không nhớ và không thực hiện nhiệm vụ cô giao thì phụ huynh cần liên lạc với giáo viên để có biện pháp kịp thời. Không chỉ trong việc học tập, tôi còn khuyến khích phụ huynh tạo cơ hội cho các con tham gia làm các công việc nhà để phụ giúp bố mẹ. Có thể chỉ là nhiệm vụ nhỏ như cùng mẹ dọn dẹp, phơi quân áo, sắp xếp đồ dùng cá nhân, Ban đầu bố mẹ có thể nhắc nhở, hướng dẫn con làm. Dùng những lời động viên, khen ngợi để tạo cho trẻ hứng thú, yêu thích công việc đó. Phụ huynh sẽ chia sẻ với cô giáo những việc con làm tốt cũng như chưa tốt để giáo viên cùng kết hợp hướng dẫn, động viên kịp thời, tạo hứng thú cho HS đó và những bạn khác trong lớp. Qua đó dần dần hình thành ở trẻ năng lực tự chủ trong công việc cũng như trong học tập. Bên cạnh hoạt động học tập, còn rất nhiều những hoạt động khác cần sự phối hợp, giúp đỡ của phụ huynh học sinh. Để có hiệu quả cao và khách quan, trong buổi họp phụ huynh đầu năm tôi đã xin phép được chia nhóm phụ huynh theo các tổ dân phố và nhận được sự đồng tình của phụ huynh. Mỗi khi có hoạt động gì cần sự giúp đỡ của phụ huynh, các nhóm sẽ tham gia lần lượt. Sau mỗi buổi phụ huynh tham gia, tôi đều ghi lại đầy đủ và thông báo công khai trên nhóm Zalo lớp để các phụ huynh cùng nắm được. 12 Phụ huynh học sinh tham gia cải tạo vườn trải nghiệm của lớp Đa số phụ huynh học sinh trong lớp làm nông nghiệp và làm công nhân, hằng ngày chủ yếu là ông bà đưa con các con nên việc gặp gỡ và trao đổi trực tiếp với phụ huynh còn gặp khó khăn. Vì vậy tôi thường xuyên tổ chức các buổi họp trực tuyến với phụ huynh vào buổi tối để nắm bắt tình hình, giải đáp những thắc mắc, khó khăn của phụ huynh trong quá trình dạy các con học ở nhà. Thông báo tình hình học tập và các hoạt động ở lớp của học sinh. Nhờ có sự kết nối chặt chẽ với phụ huynh học sinh, công tác chủ nhiệm của tôi đã đạt kết quả tốt hơn. Nhận được sự tin tưởng và giúp đỡ nhiệt tình của phụ huynh, tôi thấy bớt đi phần nào vất vả, mệt mỏi và có thêm động lực để đem lòng nhiệt huyết đến với học sinh. 3.3. Nắm bắt tình hình, hoàn cảnh gia đình của từng học sinh để có biện pháp giáo dục phù hợp. Sau khi ổn định học sinh đầu năm học, tôi bắt đầu đi sâu tìm hiểu hoàn cảnh gia đình của các em để hiểu về học sinh của mình hơn, từ đó có kế hoạch giáo dục cụ thể, phù hợp. Tôi nhận thấy trong lớp tôi chủ nhiệm mỗi em có một hoàn cảnh riêng, một điều kiện sống khác nhau. Tôi đã trực tiếp đến thăm gia đình một số học sinh để tìm hiểu cho kĩ. Tôi thấy rằng không phải em nào cũng 13 may mắn được sống trong một gia đình hạnh phúc, cũng không phải em nào cũng có sức khỏe tốt như các bạn và có cuộc sống vật chất đầy đủ. Cụ thể là: + Gia đình em Bùi Sỹ Tiến lớp tôi thuộc diện hộ nghèo, trên em còn 1 anh trai đang học lớp 3. Bản thân em lại mắc bện u não từ khi mới sinh ra, sức khỏe của em yếu hơn so với các bạn khác. Hàng ngày, bố mẹ em phải đi làm thuê rất vất vả để có tiền trang trải cuộc sống và chữa bệnh cho em. Sau khi hiểu rõ hoàn cảnh gia đình của em, tôi biết nhóm thiện nguyễn Hội đồng hương Yên Thế tại Hà Nội có chương trình hỗ trợ học sinh có hoàn cảnh khó khăn nên đã trình bày hoàn cảnh của em với họ. Họ đã giúp đỡ em với số tiền là 5 triệu đồng/năm học và nhờ tôi là người trực tiếp sử dụng số tiền đó để mua cho em sách vở, quần áo, đồ dùng học tập, sinh hoạt... Tôi đã đến nhà động viên gia đình và đưa em đi mua các đồ dùng cần thiết, đóng cho em tất cả các khoản chi phí học tập trong năm học. Khi nhận được sự quan tâm, giúp đỡ tận tình của cô giáo và mọi người trong Hội đồng hương Yên Thế, gia đình em Tiến rất cảm động. Bố mẹ em Tiến bớt đi được phần nào gánh, bản thân em Tiến cũng tích cực học tập, cố gắng nhiều hơn. Nhờ đó mà kết quả học tập của em Tiến có chuyển biến rõ rệt. 14 Em Bùi Sỹ Tiến nhận quà của Hội Đồng hương Yên Thế tại Hà Nội + Trong lớp tôi còn có em học sinh là Xuân Hòa hay nghỉ học không có lý do. Sau khi đến thăm gia đình em Xuân Hòa tôi đã hiểu được nguyên nhân xuất phát từ gia đình em: Em không có bố, mẹ em không được nhanh nhẹn, em ở với ông bà ngoại tuổi đã cao. Vì không được sống trong tình yêu thương của cả bố và mẹ, ông bà ngoại đã già nên không quan tâm sát sao đến việc học của em làm em thấy chán nản, hay bỏ học đi chơi, tính tình ngang bướng, xa lánh các bạn. Biết được hoàn cảnh của em như vậy, tôi rất thương em. Tôi đã đến nhà động viên, dỗ dành em và tro đổi với gia đình về hoàn cảnh của em. Hằng ngày trên lớp, tôi luôn quan tâm, chia sẻ nhẹ nhàng, chủ động trò chuyện với em nhiều hơn. Em không còn nghỉ học không có lý do nữa, chăm chỉ học tập, mạnh dạn và hòa đồng hơn với các bạn trong lớp 15 Em Hoà được cô giáo và các bạn quan tâm, chia sẻ. + Bên cạnh đó, trong lớp còn nhiều em còn mải chơi, chưa chăm học. Sau khi tìm hiểu tôi biết được bố mẹ các em đi làm công ty hoặc bố mẹ làm xa nhà nên không quan tâm sát sao việc học của các em ở nhà. Tôi đã đến nhà gặp gỡ, liên lạc với phụ huynh cùng bàn biện pháp giáo dục các em và thường xuyên trao đổi việc học của học sinh ở trên lớp với phụ huynh qua điện thoại để phụ huynh nắm bắt tình hình của con và có biện pháp giáo dục học sinh ở nhà. Từ đó có thể có thể thấy được việc nắm rõ về hoàn cảnh của từng học sinh đóng vai trò rất quan trọng trong công tác chủ nhiệm. Giáo viên hiểu học sinh, hiểu hoàn cản của học sinh thì mới có những biện pháp đúng đắn, phù hợp và hiệu quả cao. 3.4. Luôn động viên, khích lệ những em chậm tiến bộ Để làm tốt công tác chủ nhiệm và nâng cao chất lượng toàn diện tôi nghĩ việc quan tâm, giúp đỡ những em học sinh chậm tiến bộ là không thể thiếu. Tôi luôn dành thời gian qua tâm nhiều đến các em để có biện pháp phù hợp giúp các em mau tiến bộ. Cụ thể là: Vào đầu giờ truy bài, giờ ra chơi hoặc cuối buổi học tôi hướng dẫn riêng các học sinh chậm tiến bộ một cách tỉ mỉ, chỉ ra chỗ sai, cách làm, cách trình bày. Ngoài việc dạy các em cách giải toán tôi còn uốn 16 nắn dạy cho các em cách viết, rèn chữ cho đúng, cho đẹp, kiên trì rèn đọc cho những em đọc chậm, đọc còn đánh vần. Hướng dẫn riêng những học sinh chậm tiến bộ Tôi sắp xếp cho những em có nhận thức nhanh ngồi cạnh những em nhận thức chậm hơn, phát động thi đua “Đôi bạn cùng tiến” trong lớp. Thường xuyên động viên, khích lệ các em cố gắng phấn đấu. Mỗi giờ sinh hoạt lớp, tôi đều có lời nhận xét và tuyên dương những đôi bạn có tiến bộ. Các em đã biết chủ động quan tâm, giúp đỡ bạn của mình trong học tập, chia sẻ những khó khăn mà mình gặp phải. Từ đó các em hiểu nhau hơn và có cách giúp đỡ bạn hiệu quả hơn. 17 Đôi bạn Thế Doanh + HàThư Đôi bạn Như Ý + Quỳnh Hoa Đầu năm học, còn nhiều em viết chữ chưa đúng dòng kẻ, độ cao, độ rộng còn chưa chính xác, đọc còn chậm. Qua thời gian được cô giáo cùng các bạn quan tâm, giúp đỡ, các em đã vươn lên tiến bộ vượt bậc, chữ viết sạch đẹp hơn, đọc tốt hơn, trong lớp chú ý nghe giảng và hăng hái phát biểu. Đặc biệt là các đôi bạn: Doanh + Thư; Đạt + Thủy, Hoa + Ý, Bảo + Mai Ánh. Em Như Ý và Ngọc Ánh đầu năm đọc còn rất chậm, vẫn phải đánh vần từng tiếng nhưng đến cuối học kì 1, các em đã đọc trôi chảy và tiến bộ rất nhiều. 3.5. Sử dụng phương pháp dạy học phù hợp, tạo hứng thú học tập cho học sinh. Ở học sinh Tiểu học, chú ý không chủ định được phát triển mạnh. Tất cả những gì mới mẻ, bất ngờ, rực rỡ, khác thường đều dễ dàng lôi cuốn sự chú ý của các em. Sự chú ý không chủ định càng trở nên mạnh mẽ khi giáo viên sử dụng đồ dùng dạy học đẹp, mới lạ gợi cho các em cảm xúc tích cực. Tôi luôn tìm tòi các cách và cố gắng khơi gợi hứng khởi cho các em. Ví dụ: Khi dạy môn Toán - một môn học khá khô khan và cứng nhắc khiến học sinh khó tư duy, dễ mệt mỏi, tôi đã sử dụng đồ dùng dạy học kết hợp với trò chơi vào đầu và giữa tiết học giúp học sinh hứng thú học tập, tiếp thu nhanh kiến thức. Và để củng cố kiến thức cho học sinh, cuối bài tôi có thể kể một câu chuyện trong thực tế, trong câu chuyện có một câu đố về nội dung bài học hôm đó để các em khắc sâu hơn mà lại thấy gần gũi. 18 Tổ chức trò chơi và sử dụng đồ dùng trực quan trong môn Toán Bên cạnh đó, trong giảng dạy, tôi thường sử dụng phương pháp nêu gương, động viên, khuyến khích các em có tiến bộ trong học tập. Tuyên dương các em hăng hái phát biểu xây dựng bài, viết chữ đẹp, làm toán tốt, nhắc nhở động viên các em viết chữ còn chưa đẹp, đọc bài chậm để các em có động lực cố gắng. Đối với học sinh chưa ngoan, giáo viên chủ nhiệm cần phải nghiêm khắc nhưng cũng thật nhẹ nhàng tìm hiểu nguyên nhân và nắm được tâm lý, mong muốn cũng như nguyện vọng của học sinh để giúp các em sửa lỗi. Tuyệt đối không so sánh học sinh này với học sinh khác, sự tiến bộ của học sinh được đánh giá so với chính bản thân em đó, chỉ cần em có tiến bộ hơn so với chính mình là đã được ghi nhận. 19 Khen ngợi, động viên học sinh có tiến bộ Qua giảng dạy, tôi cũng nhận thấy các em rất thích thú khi được tự kiểm tra kết quả học tập của mình hoặc kiểm tra kết quả học tập của bạn. Vào giờ truy bài, tôi cho các em tự kiểm tra và trao đổi bài tập về nhà với nhau. Sau đó, tôi kiểm tra lại xem các em đánh giá bài của mình, của bạn có chính xác không. Tôi thường xuyên kiểm tra sách vở của học sinh, mỗi tháng đều kiểm tra, xếp loại vở sạch - chữ đẹp của từng học sinh và công bố kết quả trước lớp. Ngoài ra, tôi còn hướng dẫn trực tiếp trên lớp cho học sinh cách truy cập và sử dụng các trang như: Hanhtrangso.nxbdg.vn; Olm.vn và gửi video hướng dẫn cụ thể tới phụ huynh để khuyến khích, động viên các em tự tìm kiếm tài liệu học tập và làm các bài tập bổ ích trong đó. Tôi cũng thường xuyên giao bài và kiểm soát bài làm của học sinh trên trang Olm.vn và thông báo kết quả của bài làm của các em, tuyên dương, động viên để tạo hứng thú cho học sinh. 20 Hướng dẫn học sinh truy cập vào các trang học liệu số Học sinh yêu thích học tập, vui vẻ khi đến trường, được thầy cô giáo quan tâm, động viên sẽ khiến cho các em có động lực để cố gắng hơn mỗi ngày. Qua đó góp phần nâng cao năng lực tự chủ, tự học cho học sinh. III. KẾT QUẢ VÀ ỨNG DỤNG 1. Kết quả Năm học 2021 - 2022 được sự phân công của nhà trường, tôi chủ nhiệm và giảng dạy lớp 2B1. Bằng những kinh nghiệm làm công tác chủ nhiệm mà bản thân đã thực hiện, cùng với sự quyết tâm áp dụng một số biện pháp nói trên đã làm cho lớp tôi thay đổi một cách có hiệu quả, cụ thể như sau: - Kết quả đánh giá cuối năm học: + Học sinh hoàn thành các môn học: 36/36 em, đạt 100% + Vở sạch chữ đẹp: Xếp loại đạt 36/36 em, đạt 100% - Trang trí lớp đạt giải A cấp trường. - Sản phẩm sang tạo thanh thiếu niên nhi đồng của lớp đạt giải B cấp trường.
File đính kèm:
mot_so_bien_phap_nang_cao_nang_luc_tu_chu_tu_hoc_cho_hoc_sin.pdf



