Giải pháp phát huy khả năng sáng tạo của học sinh khi luyện viết đoạn văn trong môn Tiếng Việt lớp 3
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Giải pháp phát huy khả năng sáng tạo của học sinh khi luyện viết đoạn văn trong môn Tiếng Việt lớp 3, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút TẢI VỀ ở trên
3 PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO YÊN THẾ TRƯỜNG TIỂU HỌC HƯƠNG VĨ GIẢI PHÁP phát huy khả năng sáng tạo của học sinh khi luyện viết đoạn văn trong môn Tiếng Việt lớp 3 Họ và tên: Nguyễn Thị Thành Đơn vị: Trường TH Hương Vĩ, huyện Yên Thế, Tỉnh Bắc Giang XÁC NHẬN CỦA NHÀ TRƯỜNG HIỆU TRƯỞNG Nguyễn Thị Việt Yên Thế, tháng 10 năm 2022 4 MỤC LỤC I. PHẦN MỞ ĐẦU Trang 1. Lý do chọn đề tài 2 2. Mục đích nghiên cứu 3 3. Nhiệm vụ nghiên cứu 4 4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 4 5. Phương pháp nghiên cứu 4 II. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 1. Cơ sở lý luận 5 2. Cơ sở thực tiễn 7 2.1. Thực trạng nội dung của vấn đề cần nghiên cứu 7 2.2. Kết quả đạt được, hạn chế, nguyên nhân 9 3. Các giải pháp thực hiện 10 3.1. Giải pháp 1. Vận dụng linh hoạt các phương pháp học... 10 3.1.1. Phương pháp dạy học theo nhóm cộng tác 10 3.1.2. Phương pháp trò chơi học tập 12 3.1.3. Phương pháp quan sát 14 3.2. Giải pháp 2. Ứng dụng chuyển đổi số trong tiết học 15 3.3. Giải pháp 3. Vận dụng phương pháp giáo dục Steam 16 3.4. giải pháp 4. Tạo môi trường học tập gần gũi, thân thiện 18 III. KẾT QUẢ VÀ ỨNG DỤNG 1. Kết quả 20 2. Ứng dụng 21 IV. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ 1. Kết luận 22 2. Kiến nghị 23 TÀI LIỆU THAM KHẢO 24 2 I. PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Học sinh Tiểu học còn nhỏ, khả năng nhận thức và tư duy còn đơn giản nên cần nhận được sự quan tâm, dạy dỗ nhiệt tình từ các thầy cô. Trong các môn học ở Tiểu học thì môn Tiếng Việt là một môn học rất cần thiết và quan trọng đối với học sinh. Những năm gần đây khi cả nước đang thực hiện đổi mới chương trình sách giáo khoa nên việc quan tâm đến chất lượng giáo dục được đặt lên hàng đầu. Chương trình sách giáo khoa mới môn Tiếng Việt lớp 3 để hình thành, phát triển năng lực giao tiếp, học sinh lớp 3 cần được trang bị các kiến thức tiếng Việt và văn học. Tuy nhiên, những nội dung này không được tổ chức thành bài học riêng mà tích hợp trong các bài học rèn luyện kỹ năng. Trong đó tiết luyện viết đoạn văn là tổng hợp các kỹ năng (Nghe- nói- đọc- viết). Chương trình sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 3 có 15 bài học chính và 4 bài ôn tập. Mỗi bài học chính ứng với một chủ điểm và được học trong hai tuần. Mỗi chủ điểm sẽ có một bài viết 2 để viết đoạn văn và một tiết Góc sáng tạo. Vậy để học sinh viết tốt một đoạn văn thì bản thân cần huy động các kiến thức đọc hiểu, biết xây dựng ý, sử dụng từ ngữ, câu văn phù hợp, biết liên hệ với cuộc sống. Các em học sinh lớp 3 còn nhỏ khả năng dùng từ đặt câu còn hạn chế, từ ngữ, câu văn chưa rõ ràng. Kỹ năng liên hệ và vận dụng thực tế còn chưa cao chính vì vậy khả năng viết được đoạn văn hay, sáng tạo còn gặp nhiều khó khăn. Thời gian tiết có 35 phút mà các hoạt động của học sinh thì nhiều nên học sinh còn lúng túng khi tham gia các hoạt động học tập. Là người truyền thụ kiến thức cho học sinh tôi mong muốn học sinh của mình sẽ có hứng thú, tự tin, tích cực, sách tạo khi viết đoạn văn làm nền tảng cho học sinh viết tốt bài văn lớp 4, lớp 5. Để được như vậy đòi hỏi người thầy phải có cái tâm, nhiệt tình để từ đó khơi gợi, động viên, hướng dẫn các em. Thầy cô giáo chính là người truyền lửa, tạo cảm hứng cho học sinh. Trong các tiết học để các em thấy mỗi tiết học là một tiết khám phá, khơi gợi niềm đam 3 mê khi học môn Tiếng Việt nói chung và viết được đoạn văn hay nói riêng. Từ đó các em cảm thấy đây là môn học mà các em thích thú và mong đợi hàng tuần. Bản thân tôi là giáo viên giảng dạy lâu năm tôi thấy cần giúp học sinh có kỹ năng viết văn, biết cách sử dụng từ ngữ có cảm xúc, đoạn văn sáng tạo. Ngoài ra đối với chương trình sách giáo khoa cũ trước kia học sinh còn bị thụ động chưa linh hoạt khi tham gia học tập nhưng khi thay đổi sách giáo khoa theo chương trình mới thì học sinh được chủ động tích cực tham gia các hoạt động học tập. Sách giáo khoa mới có những yêu cầu mang tính mở để phát huy khả năng sáng tạo của học sinh. Nhưng làm cách nào để học sinh có thể tự tin sáng tạo điều đó phụ thuộc nhiều vào người giáo viên. Bản thân giáo viên giảng dạy cần thay đổi phương pháp dạy học của mình để học sinh có thể chủ động lĩnh hội kiến thức, tự do sáng tạo khi tham gia các hoạt động cả khi viết đoạn văn. Chính vì vậy sau một thời gian giảng dạy và nghiên cứu chương trình sách giáo khoa môn Tiếng Việt lớp 3 bản thân tôi đã rút ra kinh nghiệm và mạnh dạn đưa ra “Giải pháp phát huy khả năng sáng tạo của học sinh khi luyện viết đoạn văn trong môn Tiếng Việt lớp 3”. 2. Mục đích nghiên cứu Xuất phát từ sự cần thiết phải áp dụng những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng luyện viết đoạn văn trong môn Tiếng Việt lớp 3 ở trường Tiểu học, tôi luôn mong muốn học sinh của mình sẽ tự tin, sáng tạo hơn khi viết văn, có vốn từ ngữ phong phú và viết được đoạn văn hay. Biết liên hệ và vận dụng thực tế cuộc sống trong bài văn của mình. Giúp giáo viên có những phương pháp dạy học mới đạt kết quả cao. Tạo môi trường thân thiện, gần gũi với học sinh hơn, có cơ hội quan tâm, hiểu học sinh qua đó biết được điểm mạnh, điểm yếu của từng em để giúp các em khắc phục những điểm yếu và phát huy những điểm mạnh. Giáo viên sẽ thấy năng động, linh hoạt trong giảng dạy và cũng nâng cao được trình độ chuyên môn. Phụ huynh học sinh hài lòng, phấn khởi khi thấy con em mình có tiến bộ trong 4 học tập đặc biệt là viết được đoạn văn hay. Qua đó phụ huynh đặt niềm tin vào các thầy cô, tạo điều kiện, quan tâm thực sự đến việc học của các con. 3. Nhiệm vụ nghiên cứu Nhằm khắc phục những tồn tại, hạn chế của một số giải pháp cũ đã thực hiện nhưng kết quả đạt được chưa cao như: sự hạn chế về sử dụng phương pháp dạy học trong tiết học; hạn chế về sử dụng từ ngữ khi viết văn của học sinh; kỹ năng dùng từ, đặt câu Đề xuất một số giải pháp mới trong việc nâng cao chất lượng dạy học, phát huy tính tích cực, sáng tạo của học sinh qua đó giúp học sinh mạnh dạn tự tin khi tham gia học tập. Trong tiết học các em được trao đổi, chia sẻ với bạn, tham gia các phương pháp học tập phong phú đa dạng, tự tin nói lên suy nghĩ của cá nhân mình sau mỗi hoạt động và viết được đoạn văn theo cảm nhận của riêng mình. Từ đó học sinh vận dụng vào cuộc sống hằng ngày. 4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu Học sinh lớp 3B trường Tiểu học Hương Vĩ. Nghiên cứu trong phạm vi nội dung chương trình sách giáo khoa phần luyện viết đoạn văn trong môn Tiếng Việt lớp 3. Nguyên cứu những nguyên nhân dẫn đến học sinh chưa hứng thú học tập, còn lúng túng khi viết đoạn văn ở lớp 3. Nghiên cứu những giải pháp dạy học mới để khắc sâu kiến thức, hình thành thói quen, giúp học sinh nắm tốt kiến thức và vận dụng vào viết được đoạn văn hay. 5. Phương pháp nghiên cứu Phương pháp điều tra Phương pháp kiểm tra, đánh giá Phương pháp trực quan Phương pháp đàm thoại Phương pháp trải nghiệm Phương pháp trao đổi, thảo luận Phương pháp nghiên cứu tài liệu 5 II. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 1. Cơ sở lý luận Trong thực tế cuộc sống hiện nay, sự phát triển Công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước cần phải có những con người năng động, sáng tạo, tự lực, tự cường. Nhu cầu này đòi hỏi phải có sự điều chỉnh mục tiêu, nội dung Chương trình cấp Tiểu học một cách phù hợp. Mục tiêu của chương trình giáo dục phổ thông năm 2018 là giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân; chuẩn bị cho học sinh Tiểu học đi và cuộc sống lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Giáo dục Tiểu học nhằm giúp học sinh hình thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản để học sinh tiếp tục học trung học cơ sở. Ngôn ngữ nói chung, tiếng Việt nói riêng có quan hệ mật thiết với phương pháp dạy học Tiếng Việt. Ngôn ngữ bao gồm một hệ thống, bao gồm các bộ phận ngữ âm, từ vựng và ngữ pháp. Môn Tiếng Việt là một trong những bộ môn cơ bản của nhà trường phổ thông nên phải thực hiện theo nguyên tắc giáo dục học. Bởi vậy nguyên tắc dạy học Tiếng Việt phải cụ thể hóa mục tiêu và các nguyên tắc dạy học nói chung vào bộ môn của mình. Như vậy mục tiêu của việc dạy và học Tiếng Việt nằm trong mục tiêu chung của giáo dục nước ta trong giai đoạn mới hiện nay: Nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, nhằm hình thành đội ngũ lao động có tri thức, có tay nghề, có năng lực thực hành, tự chủ, năng động sáng tạo. Tiếp cận mục tiêu của chương trình giáo dục phổ thông 2018 môn Tiếng Việt lớp 3 lấy việc rèn các kĩ năng ngôn ngữ (đọc, viết, nói và nghe) làm trục phát triển của cuốn sách để phục vụ mục tiêu phát triển các năng lực đặc thù (năng lực ngôn ngữ và văn học) Thống nhất nội dung rèn luyện các kỹ năng 6 ngôn ngữ trong mỗi bài học theo chủ đề, chủ điểm để phục vụ mục tiêu bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng sống và các phẩm chất yêu nước, nhân ái, chăm chỉ, trung thực, trách nhiệm, tích cực hóa các hoạt động của học sinh để học sinh phát triển một cách toàn diện về năng lực, phẩm chất. Vì vậy trong công tác giảng dạy, mỗi người giáo viên đều cần trang bị cho mình những kiến thức, những phương pháp nhằm nâng cao chất lượng giáo dục. Đặc biệt ở Tiểu học, luyện viết đoạn văn là một phần khó trong môn Tiếng Việt lớp 3. Qua môn học các em học sinh có thêm nhiều hiểu biết vệ từ ngữ của dân tộc ta, biết được các nét đẹp quê hương đất nước, biết ơn những thế hệ đi trước và hướng đến tương lai tốt đẹp hơn. Vì vậy, dạy cho học sinh viết được đoạn văn trong môn Tiếng Việt lớp 3 không chỉ dừng lại ở dạy kiến thức viết được đoạn văn mà cần làm cho học sinh có tư duy sáng tạo, cách viết trân thực và biết cảm nhận được cái hay, cái đẹp của con người cũng như cảnh vật từ đó liên hệ được vào cuộc sống thực tế hằng ngày. Môn Tiếng Việt được thiết kế theo mô hình tích hợp, lấy hệ thống chủ đề- chủ điểm làm chỗ dựa để phát triển năng lực ngôn ngữ ( cụ thể là các kỹ năng đọc, viết, nói, nghe), năng lực văn học, năng lực chung và các phẩm chất chủ yếu cho học sinh. Sự sắp xếp nội dung trong một chủ điểm có sự liên quan mật thiết với nhau. Như vậy rèn học sinh học viết tốt đoạn văn chính là rèn cho các em các kỹ năng nghe, nói, đọc, viết, Dạy viết văn là dạy cho học sinh sáng tạo, là rèn luyện các kỹ năng, trau dồi phẩm chất đạo đức, tính siêng năng, cần cù, chịu khó. Đó là phẩm chất vốn có của con người. Thông qua dạy học để đức tính đó được thường xuyên phát huy và ngày càng hoàn thiện. Để học sinh có cách làm việc sáng tạo, cách suy luận, cách sống nhân văn thời hiện đại thì bản thân người giáo viên phải có tầm nhìn. Tầm nhìn đó vừa xa vừa thực tế, phải nắm được lý thuyết song phải có kỹ năng khái quát vừa hết sức cụ thể. Như vậy phải đọc nhiều, tích luỹ nhiều, và phải rút ra được những điều cần thiết để tận dụng. Hiện nay, trong các nhà trường học sinh được giáo dục toàn diện, được học đủ các môn học theo quy định. Đặc biệt các em 7 được các thầy, các cô tâm huyết với nghề, có tinh thần trách nhiệm cao, các em có đủ điều kiện và phương tiện học tập. Học sinh được phát triển trong môi trường giáo dục đầy đủ, lành mạnh: Nhà trường- gia đình- xã hội. Qua học cần rèn cho học sinh kỹ năng tư duy và viết được đoạn văn có sự sáng tạo sẽ giúp cho học sinh mạnh dạn, tự tin tham gia hoạt động học tập và vận dụng được vào thực tế cuộc sống. Tạo điều kiện cho học sinh học tập tốt các môn học khác. 2. Cơ sở thực tiễn 2.1. Thực trạng nội dung của vấn đề cần nghiên cứu 2.1.1. Thuận lợi Nhà trường luôn nhận được sự quan tâm của Phòng Giáo dục Đào tạo và Uỷ ban nhân dân xã. Nhà trường luôn nhận được sự hỗ trợ, giúp đỡ của các Ban ngành, đoàn thể, các bậc phụ huynh học sinh về cơ sở vật chất phục vụ cho việc dạy và học của cô và trò. Cơ sở vật chất của nhà trường đã được trang bị đầy đủ để phục vụ cho việc dạy và học như: đồ dùng dạy học, máy tính, máy chiếu, tivi, Số lượng giáo viên đảm bảo đúng tỉ lệ 1,5. Đội ngũ giáo viên trẻ nhiều được trang bị đầy đủ kiến thức kỹ năng có trình độ chuyên môn vững vàng. Bản thân tôi luôn được Ban giám hiệu nhà trường, bạn bè đồng nghiệp quan tâm giúp đỡ về chuyên môn và tôi luôn cố gắng nâng cao trình độ chuyên môn: học hỏi từ đồng nghiệp, người thân hay bạn bè. Học qua các chuyên đề, tài liệu, internet Tích cực học tập và vận dụng các phương pháp dạy học vào giảng dạy. Đa số phụ huynh hiện nay đều trẻ, họ thường xuyên quan tâm đến việc học của các con mình bằng cách thường xuyên trao đổi với giáo viên chủ nhiệm, kiểm tra việc học tập của con mình ở nhà, chuẩn bị đầy đủ sách vở, đồ dùng học tập cho con khi đến trường. Ban phụ huynh học sinh tích cực tham gia, ủng hộ các hoạt động giáo dục của nhà trường. Các em học sinh đều ngoan ngoãn, lễ phép, có ý thức trong học tập. Được bố mẹ quan tâm. Ở trường được các thầy cô giáo giảng dạy nhiệt tình. Học sinh 8 có ý thức tham gia hoạt động học tập. Học sinh thích tham gia các hoạt động trải nghiệm sáng tạo. 2.1.2. Khó khăn Trong thời điểm hiện tại chúng ta đang thực hiện đổi mới chương trình giáo dục đối với bậc tiểu học là đến lớp 3. Do tình hình dịch Covid 19 diến biến phức tạp trong hai năm học gần đây nên giáo viên còn bị hạn chế trong việc tham gia tập huấn chương trình sách giáo khoa mới, chủ yếu là tập huấn trực tuyến hoặc tập huấn tập trung trong thời gian ngắn. Nên nhiều giáo viên còn bỡ ngỡ khi vận dụng các phương pháp dạy chương trình mới. Có một số giáo viên còn ngại thay đổi hình thức dạy học mới cho phù hợp với sách giáo khoa. Dù dạy chương trình mới nhưng giáo viên vẫn áp dụng các phương pháp dạy học cũ như: vấn đáp, thuyết trình giảng giải,... Các tiết dạy còn hình thức, nặng nề ở mức độ hoàn thành nội dung bài học; chưa sáng tạo về cách tổ chức hoạt động phát huy tính tích cực của học sinh trong tiết học. Chính vì vậy mà học sinh tiếp thu bài một cách thụ động, tiết học trở nên nhàm chán, chưa khắc sâu được kiến thức cho học sinh và chưa phát huy được khả năng tự tin, sáng tạo của học sinh trong học tập. Đối tượng học sinh lớp 3 còn nhỏ, kỹ năng sử dụng từ ngữ, câu văn còn hạn chế, học sinh chưa có sự tập trung cao trong tiết học và nhanh quên kiến thức nếu không được nhắc lại. Nhất là môn Tiếng Việt từ ngữ rất phong phú phần viết đoạn văn là lúc học sinh cần vận dụng các kỹ năng nghe, nói, đọc, viết. Trong quá trình giảng dạy tôi thấy đối với tiết viết văn học sinh chưa nắm chắc đề bài, chưa xác định đúng trọng tâm của đề, viết được đoạn văn ngắn nhưng câu từ còn lủng củng. Các em ngại suy nghĩ, ngại viết đoạn văn dài do vốn từ ít, tiết học nhàm chán chưa gây hứng thú học tập cho học sinh. Kỹ năng vận dụng vốn từ vào viết còn hạn chế, câu văn ít hình ảnh miêu tả, thiếu sáng tạo. Còn có những em học sinh viết lạc đề, đánh dấu câu chưa đúng, bài viết sai lỗi chính tả... 9 Có nhiều phụ huynh còn lo lắng và thấy khó khi con tham gia học chương trình mới. Việc hướng dẫn hỗ trợ con ở nhà còn gặp nhiều khó khăn do số lượng phụ huynh đi làm công ty nhiều, ít có thời gian chú ý đến việc học của con. Kiến thức và phương pháp học ngày xưa và bây giờ khác nhau nên nhiều khi giảng giải con chưa hiểu được. Nhiều phụ huynh thường có quan điểm nhờ hết vào cô giáo trên lớp. Chính vì vậy khả năng tự giác học tập của học sinh còn chưa cao. Nhất là phần viết đoạn văn cần phải được hướng dẫn và hỗ trợ nhiều từ thầy cô và gia đình để học sinh có kỹ năng viết văn. 2.2. Kết quả đạt được, hạn chế, nguyên nhân Trước thực trạng dạy học trên tôi đã thực hiện khảo sát chất lượng viết đoạn văn của 34 em học sinh lớp 3B đã thu được kết quả khảo sát như sau: */ Kết quả khảo sát: Số lượng học sinh được khảo sát là 34 em. Trong đó: Nội dung Số lương HS Tỷ lệ (%) Học sinh viết được đoạn văn theo đúng yêu cầu đề 25/34 73,5% bài. Học sinh tự tin nói với bạn và cô về đoạn văn theo 15/34 42,9% đúng yêu cầu, câu từ có cảm xúc. Học sinh viết được đoạn văn và sử dụng từ ngữ miêu tả, có sáng tạo trong đoạn văn, biết liên hệ thực tế 6/34 17,6% cuộc sống. Qua khảo sát ta thấy nguyên nhân do: Học sinh chưa biết cách phân tích yêu cầu bài, thiếu vốn sống và hiểu biết thực tế. Vốn từ của các em còn hạn chế, gặp nhiều khó khăn khi đặt câu và viết thành đoạn văn. Khả năng sáng tạo và vận dụng thực tế vào bài văn chưa cao. Bản thân giáo viên là người giảng dạy và hướng dẫn nhưng còn lúng túng, bí từ. Cô còn ngại thay đổi các phương pháp và hình thức tổ chức tiết học 10 để khắc sâu kiến thức cho học sinh. Giáo viên còn ít khi tổ chức các hoạt động của góc sáng tạo để phát huy khả năng sáng tạo của học sinh. Tiết dạy chưa tạo không khí học tập tích cực, chủ động cho học sinh chưa gây hứng thú học tập. Qua thực trang dạy học luyện viết đoạn và bài khảo sát tôi thấy cần phải đổi mới phương pháp dạy học khi dạy các tiết luyện viết đoạn văn trong môn Tiếng Việt lớp 3 để nâng cao chất lượng viết đoạn văn cho học sinh từ đó phát huy tính tích cực, sáng tạo của học sinh trong môn học, tạo cho học sinh hứng thú, say mê trong học tập. 3. Các giải pháp thực hiện 3.1. Giải pháp 1. Vận dụng linh hoạt các phương pháp học tập tích cực gây hứng thú, sáng tạo cho học sinh. 3.1.1. Phương pháp dạy học theo nhóm cộng tác Phương pháp dạy học này thường xuyên được các giáo viên áp dụng trong các môn học nhưng đối với môn Tiếng Việt phần luyện viết đoạn văn tôi thấy nên thường xuyên khuyến khích động viện học sinh làm việc theo cặp đôi hoặc nhóm bốn để học sinh có cơ hội được đưa ra suy nghĩ của mình với bạn, biết lắng nghe và cùng nhau sửa bài cho bạn. Từ đó phát huy khả năng nói, nghe, tự tin khi chia sẻ cùng bạn. Như chúng ta đã biết theo chương trình sách giáo khoa mới của lớp 3 mỗi một chủ điểm sẽ dạy trong hai tuần học và trong hai tuần đó có một tiết luyện viết đoạn văn và một tiết là góc sáng tạo. Trong đó thời gian dành cho viết đoạn văn chiếm nhiều thời gian. Vậy để học sinh viết được nhanh đoạn văn theo yêu cầu của đề bài và kịp thời gian trong tiết học thì cần học sinh có sự chuẩn bị cả về kĩ năng nói và viết. Ví dụ: Trong các bài viết 2 và Góc sáng tạo có nhiều bài đưa ra yêu cầu là ‘‘Nói - Kể lại „ như đề bài: Kể lại một cuộc trò chuyện giữa em với bạn (hoặc với bố, mẹ, anh chị em) (Tuần 3); Bài Kể chuyện em và người thân (Tuần 7); Bài Tả đồ vật - Nói với bạn về một đồ vật trong nhà (hoặc đồ dùng học tập) (Tuần 13);... Để học sinh nói tốt trong tiết học và nắm được chắc yêu cầu bài học tôi thường tạo cho học sinh thói quen chuẩn bị bài trước ở nhà bằng cách 11 đọc yêu cầu bài, lựa chọn đề thích hợp, nói trước với người thân khuyến khích học sinh viết ra giấy để sắp xếp từ ngữ cho hợp lý theo gợi ý sách giáo khoa. Hình ảnh: Bài viết 2- Kể chuyện em và người thân (Tuần 7) Hình ảnh học sinh hoạt động nhóm 12 Khi đến lớp trong tiết học các em sẽ trao đổi bài của mình với bạn bên cạnh hoặc theo nhóm bài mình đã chuẩn bị. Sau khi nói hoặc kể xong các bạn chia sẻ với bạn và đưa ra ý về bài viết của các bạn trong nhóm từ đó học tập được cách sử dụng từ, đặt câu của các bạn. Khi thảo luận nhóm xong các nhóm sẽ chia sẻ các đoạn văn hay trước lớp để cả lớp được học tập. Từ đó học sinh vận dụng để viết thành đoạn văn sẽ hay hơn, không mất nhiều thời gian để suy nghĩ. Qua phương pháp này cũng rèn cho học sinh kỹ năng mạnh dạn tự tin trong giao tiếp, chủ động trình bày trước tập thể. 3.1.2. Phương pháp trò chơi học tập Thay vì hướng dẫn học sinh tìm ý viết đoạn hoặc xem phần gợi ý để viết đoạn tôi thường tổ chức cho học sinh tham gia trò chơi để học sinh tự tìm được ý, tìm được từ, xác định được yêu cầu đề bài. Đây là một phương pháp rất quen thuộc đối với các em học sinh và gây hứng thú học tập cao nên tôi thường xuyên vận dụng trong các tiết học đặc biệt trong khi học viết văn. Qua các trò chơi học sinh hứng thú tham gia tiết học và ghi nhớ nhanh các từ, các câu, các ý của mình và của bạn phát huy vốn từ để vận dụng vào viết đoạn văn. Tôi thường tổ chức một số trò chơi như: “Tìm từ ” trò chơi: “Truyền nhanh ” a. Trò chơi: “Tìm từ ” Mục đích: Giúp các em nhận biết nhanh các từ ngữ phục vụ cho bài học và làm giàu thêm vốn từ cho các em, luyện trí thông minh và tác phong nhanh nhẹn khi trình bày viết đoạn. Cách chơi: khi cô đưa ra câu hỏi yêu cầu gắn liền với nội dung bài học, học sinh lắng nghe và cô sẽ gọi bất kỳ để học sinh trả lời câu hỏi của cô. Sau đó bạn trả lời xong gọi tiếp bạn khác đưa ra câu trả lời theo ý của mình. Một câu hỏi có thể có nhiều câu trả lời tùy thuộc vào nội dung mình lựa chọn. Ví dụ: Trong bài Góc sáng tạo - Thư gửi người thân Để giúp học sinh viết được bức thư cho người thân theo gợi ý thì học sinh sẽ tham gia trò chơi để tìm nhanh những từ chỉ “cảm xúc” của em về con người (hoặc cảnh vật) hoặc tìm nhanh những từ, cụm từ chỉ sự thay đổi tốt đẹp 13 ở địa phương em. b. Trò chơi: “Truyền nhanh ” Mục đích: Cung cấp cho học sinh một số ý từ để các em có cơ sở hình thành đoạn văn đầy đủ ý cho những tiết tiếp theo và tạo cho các em tính nhanh nhẹn, mạnh dạn, tập trung. Rèn luyện khả năng quan sát, tư duy của học sinh. Chuẩn bị: 1 hộp thư, câu hỏi của bài đang học Cách tổ chức: Giáo viên nêu cách chơi và quy luật chơi. Hộp thư sẽ được chuyền từ bạn này sang bạn khác một cách khẩn trương, gọn gàng theo nhịp bài hát nào đó. Khi có hiệu lệnh của giáo viên, hộp thư dừng chạy. Học sinh nào đang cầm hộp trên tay phải mở hộp ra bốc câu hỏi và trả lời. Nếu trả lời đúng được cả lớp tuyên dương, nếu không trả lời được sẽ phải thực hiện một hình phạt nhẹ nhàng do giáo viên quy định và học sinh khác sẽ xung phong trả lời thay bạn. Giáo viên nhận xét và cho trò chơi tiếp tục. Khi dạy về quan sát, tìm ý tôi thường tổ chức trò chơi "Truyền nhanh". Bằng một hệ thống câu hỏi chuẩn bị sẵn mang tính gợi mở đòi hỏi HS phải độc lập suy nghĩ, quan sát để tìm hiểu được vấn đề. Tuỳ dạng bài mà giáo viên chọn hệ thống câu hỏi phù hợp cho trò chơi. Hình ảnh học sinh tham gia trò chơi học tập 14 3.1.3. Phương pháp quan sát Phương pháp này rất cần thiết đối với học sinh nhất là học sinh lớp 3. Khi quan sát sự vật, hiện tượng tôi thường hướng dẫn học sinh biết lựa chọn trình tự quan sát, sử dụng các giác quan để quan sát, cần quan sát kỹ trọng tâm của cảnh vật, của người. Đồ dùng thường được sử dụng để học sinh thuân lợi quan sát và gây sự hứng thú cho học sinh khi quan sát là hình ảnh học sinh chuẩn bị hoặc cô giáo sưu tập được sau đó trình chiếu qua tivi. Ngoài quan sát các bức ảnh trong sách giáo khoa có sẵn tôi sẽ giao nhiệm vụ cho học sinh chuẩn bị trước bài ở nhà bằng cách đọc yêu cầu và tìm những bức tranh, ảnh, video phù hợp với yêu cầu đề bài và gửi cho cô để trong tiết học cho các bạn cùng quan sát. Như vậy tiết học sẽ trở nên gần gũi với thực tế của học sinh, học sinh được chủ động tìm hiểu kiến thức, tự lựa chọn được đề bài phù hợp với mình. Ví dụ: Trong bài viết số 2- tuần 12: Tả đồ vật Yêu cầu: Nói với bạn về một đồ dùng trong nhà (hoặc đồ dùng học tập). Nhằm giúp học sinh thực hiện tốt yêu cầu trên tôi hướng dẫn học sinh chuẩn bị một số nhiệm vụ ở nhà như: Học sinh sẽ lựa chọn đồ dùng em định tả xong quan sát kỹ ở nhà ghi chét lại vào sổ cá nhân, nhờ bố mẹ chụp lại ảnh đồ dùng đó và gửi ảnh cho cô. Để hôm sau trong tiết học các em có thể mạnh dạn đứng trước lớp nhìn vào hình ảnh của mình để nói về đồ dùng của mình định tả cho bạn và thầy cô cùng nghe. Ví dụ: Bài Góc sáng tạo, tuần 26- Nét đẹp trăm miền Trong bài này học sinh cùng cô sưu tầm thêm các hình ảnh, video để các em tưởng tượng, hình dung, cảm nhận sau đó lựa chọn đề cho phù hợp với khả năng viết của mình. Khi đưa hình ảnh lễ hội của quê hương lên các em sẽ tưởng tượng lại những gì đã diễn ra và viết được đoạn văn cụ thể và chi tiết hơn rất nhiều. Tôi thấy khi có những video và hình ảnh thực tế học sinh rất thích thú học tập khi vận dụng vào viết đoạn văn cũng thực tế, sáng tạo, cởi mở hơn. 15 Hình ảnh lễ hội Hương Vĩ 3.2. Giải pháp 2. Ứng dụng chuyển đổi số trong tiết học Với mục đích nâng cao khả năng chủ động trong học tập, nâng cao nhận thức của giáo viên và học sinh về chuyển đổi số. Giúp cho tiết học trở nên phong phú, tạo hứng thú học tập cho học sinh. Trong các tiết học nhất là tiết luyện viết đoạn văn tôi thường xuyên sử dụng công nghệ thông tin vào việc dạy học như: mở trang wed hoc10.com cho học sinh quan sát hình ảnh trong các tiết học đã được soạn đầy đủ và chi tiết, hình ảnh sinh động đẹp mắt. Thường xuyên gửi những đường link bài tập vào nhóm zalo của lớp để phụ huynh cho con thực hành củng cố kiến thức học tập ở nhà. Củng cố kiến thức cho học sinh sau mỗi buổi học bằng cách giao bài tập về nhà qua phần mềm OLM. Phần mềm này có thể kiểm tra và hệ thống số lượng học sinh làm bài và chất lượng bài tập các em làm. Từ đó giáo viên nhàn hơn trong việc quản lý việc học ở nhà của học sinh. Khuyến khích động viên học sinh học tập trên các trang wed giáo dục tổ chức các cuộc thi video học tập theo nhóm lớp để học sinh có sự cố gắng. 16 Hình ảnh học sinh học trên hoc10.com 3.3. Giải pháp 3. Vận dụng phương pháp giáo dục Steam Trong một vài năm học gần đây phương pháp giáo dục Steam bước đầu được vận dụng trong một số môn học. Nhằm mục đích giúp học sinh rèn tính tự chủ khám phá, sáng tạo trong tiết học, giúp các em gần gũi với cuộc sống với môi trường xung quanh. Qua những tiết học sẽ khắc sâu kiến thức bài học cho học sinh. Tôi đã nghiên cứu và mạnh dạn vận dụng phương pháp giáo dục Steam vào trong một số tiết của môn Tiếng việt và thấy học sinh học tập rất tích cực. Nhất là ở một số tiết của Bài viết 2 và tiết Góc sáng tạo. Tôi thường lồng ghép vào tiết học các trò chơi học tập, sáng tạo vẽ tranh, cắt dán và trang trí bức tranh một các sáng tạo. Ví dụ: trong tiết Góc sáng tạo- Tuần 2: Em là học sinh lớp 3; tiết Góc sáng tạo- Tuần 6: Chuyện của em, ...Ngoài yêu cầu viết đề bài thường yêu cầu học sinh thoải mái trang trí vào các bài viết của mình. Để tiết học đạt hiệu quả cao tôi sẽ giao nhiệm vụ cho học sinh chuẩn bị trước ở nhà như: Trang trí bài viết của mình có thể cắt dán hoặc vẽ tùy vào khả năng sáng tạo của các em. Cô sẽ gửi thêm một số mẫu để các em tham khảo. Trong tiết học các em chỉ cần viết đoạn văn và trình bày trước lớp. 17 Hình ảnh sản phẩm của học sinh sau tiết học 18 Tổ chức cho học sinh đi quan sát thực tế qua các buổi ngoại khóa như xem bóng đá, văn nghệ, ... để học sinh vận dụng kỹ năng quan sát và ghi nhớ vào viết đoạn văn. Ví dụ: Trong bài viết 2 yêu cầu “Nói những điều em biết về thư viện trường em „ lúc này học sinh đã thường xuyên được đến thư viện để mượn sách, đọc sách các em sẽ chủ động nói được nhanh và tự tin. Thông qua các hoạt động trên học sinh có cái nhìn chân thực nhất về sự vật, hiện tượng trong cuộc sống và gắn nó vào bài học trên lớp. 3.4. Giải pháp 4. Tạo môi trường học tập gần gũi, thân thiện Là người giáo viên tôi nhận thấy cần phải thay đổi phương pháp dạy học sao cho phù hợp với đối tượng học sinh. Tạo cho học sinh một tư tưởng đến lớp vui vẻ, thích thú mỗi tiết học là lúc các em được khám phá, được thể hiện mình. Tôi luôn lắng nghe và chia sẻ với học sinh từ việc học đến những tâm sự cá nhân của các em, luôn tạo cho các em niềm tin để các em có thể chia sẻ cùng cô. Để giúp các em có những tiết học hiệu quả tôi luôn quan tâm đến tất cả các đối tượng học sinh đặc biệt là học sinh viết chậm, khả năng dùng từ đặt câu còn hạn chế bằng cách: cho học sinh viết thêm những đoạn văn ngắn, hướng dẫn và cùng em phân tích đề. Sau khi hoàn thành bài làm sẽ sửa bài cùng em, động 19 viên khen ngợi kịp thời khi em có sự tiến bộ. Khi học sinh viết được những đoạn văn hay, sáng tạo có vận dụng các biện pháp nhân hóa, so sánh trong bài sẽ được trình chiếu bài làm trên lớp để các bạn cùng học tập và khen ngơi. Muốn học sinh học tập tốt, yêu thích môn học thì người giáo viên cần tạo cho học sinh hứng thú, vui vẻ, thoải mái trong giờ học. Ngoài ra tôi luôn khuyến khích học sinh thường xuyên đọc các loại sách tham khảo như những bài văn hay trên mạng. Tích cực đọc Tạp chí Văn học tuổi trẻ, báo măng non, truyện tranh. Qua đó học sinh có thói quen đọc sách và cũng học tập được cách sử dụng từ ngữ sáng tạo, phong phú trong các bài văn, câu chuyện. Trong năm học tôi đã thành lập các câu lạc bộ học tập ở trong lớp để các em trong câu lạc bộ giúp đỡ nhau trong học tập như: Câu lạc bộ yêu Tiếng Việt, câu lạc bộ Toán, câu lạc bộ thể dục thể thao và câu lạc bộ Tiếng anh. Nhờ vậy mà chất lượng giáo dục của lớp tôi đã chuyển biến rõ rệt. Không những vậy tôi luôn phối hợp chặt chẽ với Ban giám hiệu nhà trường, phụ huynh học sinh để trao đổi về sự tiến bộ của các em trong học tập một cách thường xuyên và động viên kịp thời bằng nhiều hình thức khác nhau để các em có động lực học tập.
File đính kèm:
giai_phap_phat_huy_kha_nang_sang_tao_cua_hoc_sinh_khi_luyen.pdf



