Biện pháp rèn kĩ năng đọc-hiểu trong các bài tập đọc cho học sinh Lớp 4+5
Bạn đang xem nội dung tài liệu Biện pháp rèn kĩ năng đọc-hiểu trong các bài tập đọc cho học sinh Lớp 4+5, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút TẢI VỀ ở trên
1 TRƯỜNG TH TT BỐ HẠ CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TỔ CHUYÊN MÔN 4+5 Độc lập - Tự do - Hạnh phúc TT Bố Hạ, ngày 12 tháng 3 năm 2023 BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ “BIỆN PHÁP RÈN KĨ NĂNG ĐỌC- HIỂU TRONG CÁC BÀI TẬP ĐỌC CHO HỌC SINH LỚP 4,5” 1. Tên chuyên đề Biện pháp rèn kĩ năng đọc- hiểu trong các bài tập đọc cho học sinh lớp 4 2. Hiện trạng - Tỉ lệ học sinh đọc ngọng, đọc chưa biết ngắt nghỉ câu còn nhiều. - Một số em còn thụ động, chưa chăm học còn phải để thầy cô nhắc nhở về ý thức học tập và rèn luyện. - Việc đọc trơn chưa trôi chảy ảnh hưởng rất lớn đến việc đọc hiểu của các em khi tìm hiểu nội dung của một bài văn hay bài thơ. - Trên thực tế, khi học Tập đọc các em chủ yếu biết đọc thông mà chưa nắm chắc được công cụ hữu hiệu để lĩnh hội tri thức, tư tưởng tình cảm của người khác chứa đựng trong văn bản hoặc các em chỉ nắm nội dung bài đọc một cách máy móc, rập khuôn. - Nhiều phụ huynh có tư tưởng nhờ vả, khoán trắng cho nhà trường và cô giáo, chưa thực sự sát cánh cùng giáo viên trong việc giáo dục con. 3. Mục đích của chuyên đề - Đề xuất một số biện pháp giúp các em học đạt hiệu quả cao hơn trong việc đọc hiểu văn bản. - Kết quả nghiên cứu góp phần nâng cao nghiệp vụ tay nghề cho GV trong dạy học, góp phần đảm bảo mục tiêu dạy học Tiếng Việt nói chung và phân môn Tập đọc nói riêng. 2 4. Các giải pháp được đưa ra 4.1. Phối hợp với PHHS để cải thiện kĩ năng đọc của học sinh. Ngay từ đầu năm học, khi tiếp xúc với HS, tôi đã kiểm tra kĩ năng đọc của học sinh và tôi cũng nhận thấy rằng: Phần đông học sinh có kĩ năng đọc trơn chưa phù hợp với trình độ của HS lớp 4 về cả tốc độ và cách phát âm. Chính vì vậy ở buổi họp phụ huynh đầu năm, tôi đã thống nhất với phụ huynh cách phối hợp để thực hiện việc giáo dục các con ở nhà. Đối với phân môn tập đọc, tôi thống nhất việc phụ huynh phải cùng học cùng con. Các phụ huynh sẽ nghe con đọc ít nhất là 3 lần (đối với HS đã đọc trôi chảy) và có thể nhiều hơn với HS đọc chưa tốt. Sau khi nghe các con đọc xong, phụ huynh sẽ để lại lời nhận xét hoặc lời nhắn bằng bút chì phía bên trên bài Tập đọc, đồng thời phụ huynh sẽ kí tên bên cạnh lời nhận xét đó. 4.2. Thực hiện việc “soạn văn” trước mỗi bài tập đọc. Tôi hướng dẫn HS soạn văn trước mỗi bài tập đọc. Việc soạn văn chính là cách các em thể hiện sự hiểu biết và suy nghĩ của mình sau khi đã tự đọc bài cho phụ huynh nghe ở nhà. Qua đây tôi có thể biết được nhận thức ban đầu của cá nhân từng học sinh khi tự tìm hiểu bài. Tôi quy định mỗi học sinh có một quyển soạn văn riêng. Nội dung soạn văn gồm 2 phần chính: + Phần 1: Chia đoạn + Phần 2: Trả lời các câu hỏi bên dưới bài tập đọc. 4.3. Sử dụng đồ dùng trực quan trong mỗi bài học Sử dụng linh hoạt, sáng tạo đồ dùng trực quan (tranh ảnh, vật thật, video... ) luôn luôn được chú ý và phát huy tối đa góp phần thực hiện hiệu quả việc đổi mới phương pháp dạy học. Trong tiết Tập đọc, đồ dùng trực quan có tác dụng hỗ trợ, cần sử dụng đúng lúc, đúng chỗ và khai thác triệt để, đảm bảo tiết học nhẹ nhàng, thoải mái. 3 - Dùng đồ dùng trực quan để giới thiệu bài tự nhiên, nhẹ nhàng, gợi cảm xúc là bước tạo không khí ban đầu, là con đường dẫn dắt HS có một tâm thế tốt để tiếp cận bài đọc. (nghe nhạc/bài hát về mẹ để khéo léo giới thiệu bài “ Mẹ ốm” của Trần Đăng Khoa ). Ví dụ: Bài: “Trống đồng Đông Sơn”. GV giới thiệu tranh màu hoặc trình chiếu slide hình ảnh về trống đồng Đông Sơn cho HS quan sát, kèm thêm thông tin bài đọc, các em sẽ dễ dàng nhận ra nét đẹp, giá trị của trống đồng Đông Sơn. Khi dạy học bài “Vẽ về cuộc sống an toàn”, tôi cho Hs xem các bức tranh về chủ đề an toàn của thiếu nhi, từ các bức tranh đó, các em thấy được nội dung và ý tưởng của mỗi bạn thiếu nhi. Qua đó các em rút ra được ý nghĩa của cuộc sống an toàn. Khi dạy học bài: Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ, tôi cho các em nghe bài hát đã được phổ nhác từ bài thơ đó trước. Từ bài hát đó, các em nêu cảm nghĩ của mình về hình ảnh người mẹ trong bài. Rồi sau đó mới luyện đọc. Đôi khi việc sử dụng các video hoặc các thước phim tài liệu cũng rất có ích trong việc tìm hiểu bài. Thông qua các thước phim ấy, các em có cái nhìn cụ thể, trực quan và dễ hiểu hơn, dễ ghi nhớ nội dung của bài hơn. Ví dụ: Khi dạy bài Ăng-co-vát, tôi cho các em xem một đoạn phim tư liệu về đền Ăng-co-vát để các em dễ tưởng tượng hơn về sự to lớn, đồ sộ và vẻ đẹp của ngôi đền. Ngoài ra, để các em hiểu thêm về các từ ngữ trừu tượng, hoặc những từ chú thích trong bài, tôi cũng cho Hs quan sát trực quan hình ảnh đó. Khi các em đã hiểu nghĩa của từ và hiểu từ thì các em sẽ hiểu được nội dung của bài. - Dùng đồ dùng dạy học trực quan để hỗ trợ việc giải nghĩa từ gắn với văn cảnh thêm nhẹ nhàng giúp HS đọc hiểu, khai thác nội dung bài dễ hơn, hiệu quả hơn thay cho việc hiểu nghĩa từ qua từ điển, qua giảng giải nhiều từ GV. Sử dụng đồ dùng trực quan trong dạy tập đọc phù hợp đặc điểm tâm sinh lí lứa tuổi các em, hầu hết HS đều thích thú hơn trong học tập đọc. Đồ dùng trực 4 quan được GV thao tác thành thạo, khai thác hiệu quả, phù hợp với nội dung, yêu cầu từng bài, tạo không khí vui tươi, tự nhiên sinh động trong mỗi giờ học, giờ học đạt hiệu quả cao. 4.4. Hướng dẫn HS phát hiện từ “đắt”, từ “chốt” và câu “chìa khóa” trong bài đọc: Để nhớ và hiểu những gì đọc được, GV cần hướng HS biết sàng lọc, giữ lại những từ trọng tâm, những từ có vấn đề để dạy nghĩa hay những nhóm từ, những câu mang ý nghĩa cơ bản vì đó là những từ, cụm từ, câu giúp HS hiểu và biết nội dung chủ đề, ý nghĩa bài đọc. Với những văn bản mang tính nghệ thuật, đó là những từ dùng “ đắt”, là câu “ chìa khóa” tạo nên giá trị nghệ thuật của bài. Biết vận dụng điều này, HS sẽ dễ dàng thâm nhập vào bài đọc, đảm bảo có đủ độ lắng, độ sâu để HS hiểu hết nội dung, ý nghĩa bài đọc một cách tốt nhất. Ví dụ: bài “ Mẹ ốm”, trong 2 dòng thơ “Nắng mưa từ những ngày xưa/ Lặn trong đời mẹ đến giờ chưa tan”. GV gợi ý để HS phải biết xác định và hiểu ý nghĩa của cụm từ trọng tâm “lặn trong đời mẹ” (có nghĩa là mẹ đã quá vất vả qua bao ngày tháng - đã để lại trong mẹ và bây giờ đã làm mẹ ốm). Bên cạnh đó, bố cục mỗi bài đọc trong sách giáo khoa hiện hành luôn có phần chú giải nhưng chỉ giải nghĩa những từ khó chưa phải là những từ quan trọng, cơ bản nhất của bài, thường HS chỉ đọc lại, nhắc lại nên GV cũng cần lưu ý hướng dẫn HS biết nói về nghĩa của từ để rèn kĩ năng diễn đạt và định hướng giải nghĩa gắn với văn cảnh để hỗ trợ nội dung tìm hiểu bài. Ví dụ: Bài “Vẽ về cuộc sống an toàn” phần cuối bài đọc có giải nghĩa một số từ ngữ, GV có thể cho học sinh giải nghĩa: “thể hiện bằng ngôn ngữ hội họa” bằng cách hiểu nghĩa và cách diễn đạt của HS để từ đó HS hiểu được nhận thức và tài năng của các em nhỏ tham gia hội thi. Tôi hướng dẫn HS gạch chân các từ “đắt” hoặc câu “chốt” bằng bút chì. Tôi luôn nhấn mạnh những cấu, từ đó. Và khi nhắc đến các câu từ đó thì HS sẽ 5 phát hiện ngay đấy là câu trong bài tập đọc nào, câu nói của ai, hay ý nghĩa của nó là gì. 4.5. Thay đổi hình thức tìm hiểu bài tập đọc - Câu hỏi tìm hiểu bài trong SGK của phân môn Tập đọc lớp 4 chủ yếu câu hỏi tìm hiểu bài dạng tổng hợp, vì vậy, HS hay gặp khó khăn, khó phát huy được tính chủ động, sáng tạo của học sinh qua trả lời câu hỏi. Bên cạnh đó, có nhiều bài có thể dạy đọc nhớ khó dạy đọc hiểu do nội dung rời rạc, không có chiều sâu cho nên cần xây dựng lại những bài tập cho từng bài để khai thác hết nội dung của bài. - Phiếu bài tập luôn phù hợp với trình độ học sinh. Với những HS có trình độ phát triển nhanh, phiếu bài tập chính là phương tiện giúp các em bộc lộ hoạt động trí tuệ và năng lực của mình trong việc đọc hiểu. Với những HS chậm, phiếu học tập là tài liệu hướng dẫn học sinh tiếp nhận sự hướng dẫn của GV, để từ đó có cơ sở hoàn thành nhiêm vụ tiết học. Đối với HS giỏi thì các em có thể trả lời theo ý mình hiểu mà không cần hình thức trắc nghiệm nhưng HS chậm, yếu hơn thì GV có thể thay đổi hình thức như trên để HS dễ tiếp nhận. - Đối với giáo viên phiếu bài tập là một “tài liệu tham khảo” tốt giúp người dạy tìm hiểu quá trình tham gia làm việc của học sinh trong giờ học để chỉ dẫn phù hợp. Để đạt được mục đích của tiết dạy GV có nhiều phương pháp đưa ra câu hỏi là một những cách HS hiểu bài hoặc đánh giá khả năng cảm nhận của học sinh. Thực ra các câu hỏi là những yêu cầu nhỏ đối với HS, để từ những yêu cầu đó học sinh tổng hợp, đạt yêu cầu chung lớn nhất là đọc hiểu bài tập đọc. - Câu hỏi để tìm hiểu bài như một cái sườn để GV-HS dựa vào đó tiến hành giờ tập đọc đạt hiệu quả. Các bài tập được đưa ra dưới những dạng khác nhau, giúp HS khai thác các mặt kiến thức: văn học, Tiếng Việt, đời sống,... Căn cứ hệ thống câu hỏi của sách giáo khoa mà yêu cầu phù hợp đối tượng HS, GV chuyển những câu hỏi thành các dạng bài tập (Nối ô thích hợp với nhau; Gạch 6 dưới từ theo yêu cầu câu hỏi; Điền từ vào ô trống; Đánh dấu vào trước câu mà em cho là đúng; Viết câu trả lời ....) nhưng cần đảm bảo trọng tâm bài, đơn giản dễ hiểu, tự nhiên và vừa sức. Ngoài phiếu học tập, tôi còn cho học sinh tập “làm phóng viên”, đi phỏng vấn các bạn trong lớp. Vì các em đã có vở soạn văn và phần chuẩn bị bài trước ở nhà, nên các em dễ dàng nói nên ý kiến của mình. Các em cũng có thể tranh luận hoặc phản biện ý kiến của mình và của bạn. Từ đó, các em sẽ khắc sâu kiến thức và ghi nhớ nội dung của bài ngay. 4.6. Củng cố nội dung của bài tập đọc thông qua các trò chơi. Thay vì việc trả lời các câu hỏi từ cô ở cuối tiết học đề củng cố nội dung bài, tôi thiết kế các dạng trò chơi để HS có thể ghi nhớ và vận dụng các nội dung đọc hiểu của mình. Việc thiết kế trò chơi giúp các em hào hứng hơn với việc củng cố kiến thức. Một số dạng trò chơi tôi thường thiết kế như: Rung chuông vàng, trò chơi ô chữ, bức tranh bí ẩn, giải cứu đại dương . 5. Lợi ích khi thực hiện giải pháp Các phương pháp dạy đọc hiểu được đổi mới, có chiều sâu, phù hợp tâm sinh lí HS, các hoạt động học được đẩy mạnh về học sinh, các em tích cực hơn, chủ động tiếp thu kiến thức thay vì dựa vào trí nhớ rập khuôn (học vẹt); các em vừa học vừa hành, các yêu cầu học tập được tranh luận, thảo luận nhóm, học sinh có thể trả lời theo ý mình hiểu. Giáo viên chỉ là người tổ chức, hướng dẫn, đặt vấn đề tìm hiểu cho học sinh. 6. Kết quả đạt được qua việc vận dụng rén kĩ năng đọc - hiểu: * Các ý kiến chia sẻ về kết quả thực hiện giải pháp - Đ/c Ân: Các em tích cực hơn, chủ động tiếp thu kiến thức và vận dụng được kiến thức vào làm bài tập đọc – hiểu. - Đ/c Linh: Các phương pháp dạy đọc hiểu được đổi mới, có chiều sâu, phù hợp tâm sinh lí HS, các hoạt động học được đẩy mạnh về học sinh để tạo cơ hội cho các em phát triển năng lực nhiều hơn. 7 - Đ/c Hòa: Các em học sinh được vừa học tập, vừa được thực hành, các yêu cầu học tập được tranh luận, thảo luận nhóm, học sinh có thể trả lời theo ý mình hiểu. - Đ/c Nga: HS hào hứng hơn trong việc học tập và làm bài liên quan đến đọc – hiểu. - Đ/c Dũng: HS được tiếp cận kiến thức bằng nhiều hình thức khác nhau nên từ đó có thể nhớ sâu và nhớ lâu kiến thức. - Đ/c Hằng: Không khí trong lớp học có sự chuyển biến tốt, những giờ học nhàm chán trở nên thú vị hơn với các em và các em có thể thỏa sức bộc lộ suy nghĩ của bản thân để xây dựng bài. - Đ/c Thương: Kết quả đạt được thể hiện rõ ở kết quả KTĐK đối với bài tập đọc - hiểu, các em đã biết cách vận dụng và đạt kết quả cao hơn. * Kết quả cụ thể các khói như sau: Khối HTT HT CHT Ghi TSHS lớp SL % SL % SL % chú 4 231 127 55% 104 45% 0 1KT 5 221 135 61,1% 86 38,9% 0 Thị trấn Bố Hạ, ngày 12 tháng 3 năm 2023 Xác nhận của nhà trường Tổ trưởng Nguyễn Thùy Dung
File đính kèm:
bien_phap_ren_ki_nang_doc_hieu_trong_cac_bai_tap_doc_cho_hoc.doc



