Một số biện pháp giúp học sinh học tốt môn Toán lớp 2 theo phương pháp giải quyết vấn đề

pdf9 trang | Chia sẻ: Chan Chan | Ngày: 10/02/2026 | Lượt xem: 6 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Một số biện pháp giúp học sinh học tốt môn Toán lớp 2 theo phương pháp giải quyết vấn đề, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút TẢI VỀ ở trên
 1 
 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM 
 Độc lập – Tự do – Hạnh phúc 
 THUYẾT MINH MÔ TẢ GIẢI PHÁP 
 1. Tên giải pháp: 
 Một số biện pháp giúp học sinh học tốt môn Toán lớp 2 theo phương pháp 
giải quyết vấn đề. 
 2. Ngày giải pháp được áp dụng lần đầu: 
 Giải pháp được áp dụng vào dạy học lần đầu vào tháng 10 năm 2019. 
 3. Các thông tin cần bảo mật: Không 
 4. Mô tả các giải pháp cũ thường làm. 
 Phương pháp giải quyết vấn đề là phương pháp dạy học giúp học sinh tự 
chiếm lĩnh tri thức, rèn luyện kĩ năng và đạt được những mục đích học tập. Trong 
thực tế, học sinh ở lứa tuổi tiểu học thường có xu hướng bắt trước, làm theo mẫu, 
tư duy toán học của trẻ chưa cao nên khi học môn Toán theo hướng giải quyết vấn 
đề, học sinh thường gặp khó khăn trong quá trình nhận ra vấn đề, tìm hướng giải 
quyết vấn đề cũng như lựa chọn phương án giải quyết tối ưu. Chính vì vậy, tiết học 
không đạt được mục tiêu mong muốn, mang lại hiệu quả thấp và mất nhiều thời gian. 
 5. Sự cần thiết phải áp dụng giải pháp. 
 Trong giai đoạn đổi mới giáo dục hiện nay, việc đổi mới phương pháp dạy 
học là vấn đề then chốt, góp phần quan trọng vào việc thực hiện mục tiêu đổi mới 
giáo dục. Phương pháp dạy học giải quyết vấn đề là một phương pháp có nhiều ưu 
điểm, giúp khơi gợi ở học sinh hứng thú tìm tòi học hỏi, tự khám phá và chiếm lĩnh 
kiến thức, góp phần tích cực vào việc rèn luyện tư duy phê phán, tư duy sáng tạo 
cho học sinh. 
 Vì vậy, để nâng cao chất lượng giáo dục nói chung và chất lượng môn Toán 
nói riêng, cũng như rèn cho học sinh những năng lực cần thiết tôi đã nghiên cứu và 
áp dụng giải pháp “Một số biện pháp giúp học sinh học tập tốt môn Toán lớp 2 
theo phương pháp giải quyết vấn đề.”. 
 6. Mục đích của giải pháp. 2 
 Tôi nghiên cứu giải pháp nhằm tìm ra những biện pháp để giúp học sinh 
học tập tốt môn Toán lớp 2 theo phương pháp giải quyết vấn đề định hướng phát 
triển năng lực học sinh. 
 7. Nội dung: 
 7.1. Thuyết minh giải pháp mới hoặc cải tiến. 
 a) Nội dung: Giải pháp đã đề ra một số biện pháp để giáo viên áp dụng trong 
khi dạy học toán lớp 2 theo phương pháp giải quyết vấn đề giúp học sinh dễ dàng 
nhận ra vấn đề và tìm được cách giải quyết, chiếm lĩnh được tri thức. 
 b) Các bước tiến hành thực hiện giải pháp: 
 Muốn thực hiện tốt việc dạy học theo phương pháp giải quyết vấn đề thì điều 
đầu tiên giáo viên cần hiểu rõ về phương pháp giải quyết vấn đề. 
 Phương pháp giải quyết vấn đề là phương pháp dạy học trong đó giáo viên 
tạo ra những tình huống có vấn đề, điều khiển học sinh phát hiện vấn đề rồi hoạt 
động tự giác, tích cực, chủ động, sáng tạo để giải quyết thông qua đó chiếm lĩnh tri 
thức, rèn luyện kĩ năng và đạt được những mục đích học tập khác. 
 Tiến trình dạy học của phương pháp giải quyết vấn đề gồm có 5 bước: 
 + Bước 1: Học sinh nhận ra vấn đề. 
 + Bước 2: HS suy đoán các cách giải quyết vấn đề (đề ra các giải pháp có thể). 
 + Bước 3: HS tìm cách giải quyết vấn đề (chọn lọc giải pháp để thực hiện). 
 + Bước 4: HS triển khai thực hiện cách GQVĐ và tìm ra kết quả. 
 + Bước 5: HS khẳng định các kết quả, cách làm tốt nhất. 
 Để giúp học sinh học tập tốt theo phương pháp giải quyết vấn đề, tôi đã 
nghiên cứu và áp dụng một số biệp pháp sau: 
 Biện pháp 1. Lựa chọn nội dung bài học phù hợp để áp dụng phương pháp 
dạy học giải quyết vấn đề định hướng phát triển năng lực học sinh. 
 Dạy học theo phương pháp giải quyết vấn đề thường được áp dụng với dạng 
bài hình thành kiến thức mới, dạng bài luyện tập hoặc nâng cao kiến thức. Tuy 
nhiên không phải bài nào giáo viên cũng có thể áp dụng phương pháp này. Muốn 
sử dụng được phương pháp này thì trong bài học phải xuất hiện vấn đề. Vấn đề ở 
đây có thể là một câu hỏi, nhiệm vụ học tập mà học sinh chưa biết. Vấn đề phải là 
trọng tâm của nội dung bài học, đảm bảo tính vừa sức, câu hỏi nêu vấn đề phải là 
câu hỏi mở và vấn đề đưa ra phải có nhiều hướng giải quyết mới có thể tạo được 
hứng thú học tập cho học sinh và học sinh có thể giải quyết được vấn đề. 
 Ví dụ: Một số bài trong chương trình lớp 2 có thể sử dụng phương pháp này 
như: lập bảng cộng trừ, nhân chia, . 3 
 Biện pháp 2: Tạo tình huống có vấn đề đúng trọng tâm. 
 Đặc trưng cơ bản của phương pháp dạy học giải quyết vấn đề là "Tình huống 
có vấn đề" vì "Tư duy chỉ bắt đầu khi xuất hiện tình huống có vấn đề". Tình huống 
có vấn đề là tình huống gợi ra cho học sinh những khó khăn về lí luận hay thực 
hành mà học sinh cần có khả năng vượt qua nhưng không phải ngay tức khắc bằng 
một thuật giải, mà phải trải qua quá trình tích cực suy nghĩ, hoạt đông để biến đổi 
đối tượng hoạt động hoặc điều chỉnh kiến thức sẵn có. 
 Để học sinh có thể dễ dàng nhận ra vấn đề thì tôi luôn tạo tình huống tạo 
vấn đề đúng trọng tâm của bài học. Muốn vậy khi tạo tình huống có vấn đề tôi thực 
hiện tốt một số việc như sau: 
 - Nghiên cứu kĩ mục tiêu, nội dung bài học để lựa chọn nội dung bài học đáp 
ứng được yêu cầu của tình huống có vấn đề (đúng trong tâm bài học, đảm bảo tính 
vừa sức, vấn đề có nhiều cách giải quyết có thể chấp nhận được). 
 - Khi lựa chọn được nội dung bài học, tôi phân tích nội dung, liên hệ với 
kiến thức học sinh đã biết, đã được học để xác định được vấn đề. Từ đó tôi làm cơ 
sở để lựa chọn cách tạo vấn về. 
 - Sau đó tôi hoàn thiện tình huống có vấn đề và dự kiến các phương hướng 
học sinh có thể đưa ra để giải quyết vấn đề. 
 Có nhiều cách để đưa vấn đề đến với học sinh. Tôi xin đưa ra ba cách mà tôi 
thường sử dụng: 
 Cách 1: Tạo tình huống có vấn đề từ thực tiễn. 
 Cách 2: Xem xét tương tự để tạo kiến thức mới. 
 Cách 3: Tạo tình huống có vấn đề từ các kiến thức đã học. 
 Ví dụ: Khi dạy bài bảng nhân 3, tôi chọn cách tạo tình huống có vấn đề từ 
các kiến thức đã học. 
 Đầu tiên tôi sẽ tổ chức cho học sinh ôn lại bảng nhân 2. Sau đó giới thiệu bài 
và yêu cầu học sinh suy nghĩ, nêu các phép nhân trong bảng nhân 3. Sau đó tôi đưa 
ra vấn đề: Muốn tính được kết quả các phép tính trong bảng nhân 3 ta làm thế nào? 
 Biện pháp 3: Thiết kế bài học, chuẩn bị đồ dùng chu đáo. 
 Khi thiết kế bài học tôi luôn xác định rõ một số vấn đề để làm cơ sở xây 
dựng bài: 
 + Học sinh cần giải quyết vấn đề gì? Cần huy động kinh nghiệm, kiến thức 
đã có nào? 4 
 + Học sinh có thể đưa ra những phương án nào để giải quyết vấn đề? 
 + Cần chuẩn bị những tư liệu, đồ dùng gì? 
 + Tiến trình bài học diễn ra như thế nào? 
 + Học sinh có thể mắc những sai lầm, gặp khó khăn nào trong quá trình giải 
quyết vấn đề? 
 + Cần hỗ trợ học sinh như nào? Ở thời điểm nào? 
 Từ đó tôi thiết kế bài học, chuẩn bị đầy đủ những tư liệu, đồ dùng cần thiết 
và những giải pháp hỗ trợ học sinh trong quá trình học tập. 
 Ví dụ: Vẫn với bài bảng nhân 3, khi thiết kế bài học tôi xác định: 
 + Vấn đề học sinh cần giải quyết là: xây dựng bảng nhân 3, học sinh cần huy 
động kiến thức đã học là cách xây dựng bảng nhân 2. 
 + Các phương án học sinh có thể đưa ra là: Đếm bằng các tấm thẻ có 3 chấm 
tròn, chuyển phép nhân thành phép cộng rồi tính, đếm thêm 3 bắt đầu từ 3. 
 + Tư liệu đồ dùng cần chuẩn bị là: 10 tấm thẻ mỗi tấm thẻ có 3 chấm tròn, 
giấy nháp, bút. 
 + Tiến trình bài học: Phần lập bảng nhân 3 diễn ra theo 5 bước của phương 
pháp giải quyết vấn đề, phần luyện tập tiến hành theo hình thức cá nhân, nhóm. 
 + Những sai lầm học sinh có thể mắc phải là: Lấy sai tấm thẻ so với phép 
nhân cần tính, cộng bị sai trong quá trình chuyển phép nhân thành phép cộng, tính 
sai kết quả một phép nhân nào đó trong quá trình đếm thêm dẫn đến sai kết quả 
những phép nhân sau. 
 + Cần hỗ trợ học sinh cách tìm đúng số thẻ, cách đếm thêm, cộng cẩn thận 
để không bị nhầm; hỗ trợ học sinh trình bày cách làm, chia sẻ; hướng học sinh tìm 
được phương án tối ưu, vận dụng làm bài tập. 
 Biện pháp 4: Vận dụng linh hoạt các phương pháp, hình thức tổ chức, kĩ 
thuật dạy học trong qúa trình dạy. 
 Trong khi tổ chức dạy học theo phương pháp giải quyết vấn đề, tôi thường 
vận dụng phối hợp linh hoạt với các hình thức dạy học để giúp học sinh dễ dàng 
giải quyết vấn đề. 5 
 - Hình thức cộng tác nhóm: thường diễn ra khi học sinh gặp khó 
khăn mà không tự mình giải quyết được, cần sự hỗ trợ từ bạn (khi phân tích tình 
huống để phát hiện vấn đề, khi tiến hành giải pháp, khi lựa chọn phương án giải 
quyết vấn đề). 
 - Phương pháp động não: sử dụng khi gợi mở giúp học sinh tìm các phương 
án giải quyết. 
 - Phương pháp vấn đáp: sử dụng để gợi mở giúp học sinh nhận ra vấn đề, hỗ 
trợ học sinh trong quá trình tìm phương án, thực hành phương án giải quyết. 
 Biện pháp 5: Rèn cho học sinh các kĩ năng, năng lực học tập cần thiết. 
 Thứ nhất, rèn kĩ năng phân tích, tư duy toán học. 
 Kĩ năng phân tích, tư duy được học sinh sử dụng khi tìm hiểu tình huống để 
phát hiện vấn đề, tìm phương án giải quyết. Học sinh cần phân tích kĩ, hiểu rõ câu 
hỏi hoặc tình huống để nhận ra được vấn đề cần giải quyết. Sau đó học sinh cần 
phân tích rõ vấn đề, huy động vốn kiến thức, kinh nghiệm đã có để tìm ra phương 
án giải quyết. Để học sinh có kĩ năng tốt, tôi rèn cho học sinh những kĩ năng này 
qua các tiết học hàng ngày. 6 
 Với kĩ năng phân tích: trong quá trình dạy học tôi thường đưa ra hệ thống 
câu hỏi để gợi ý, dẫn dắt học sinh phân tích vấn đề từ những cái mình đã được học, 
đã biết để từ đó có được phương hướng để giải quyết vấn đề. Khi dẫn dắt học sinh 
phân tích tôi thường dùng câu các câu hỏi gợi ý với cụm từ như: Đã biết gì? Cần 
tìm gì? Làm thế nào để tìm được?... 
 Với kĩ năng tư duy toán học: tôi thường sử dụng các cách sau: 
 + Sử dụng đồ dùng trực quan một cách tích hợp. 
 Ví dụ: Một số đồ dùng trong bài dạy “Hình chữ nhật - Hình tứ giác”. 
 + Xây dựng hệ thống câu hỏi gợi mở để kích thích tư duy của học sinh. 
 + Tái hiện kiến thức cũ, nhắc lại kiến thức có liên quan trong dạy học khái 
niệm mới. 
 Thứ hai, rèn năng lực vận dụng kiến thức, sử dụng công cụ, kí hiệu toán học. 
 Năng lực vận dụng kiến thức, sử dụng trong quá trình học sinh thực hiện các 
phương án giải quyết vấn đề. Học sinh cần nhớ lại những kiến thức đã học có liên 
quan, vận dụng kiến thức và sử dụng những công cụ, kí hiệu toán học để thực hiện 
phương án giải quyết vấn đề. 
 Để học sinh có thể vận dụng tốt những điều đã học vào giải quyết vấn đề, tôi 
đưa ra một số lưu ý sau: 
 + Trong quá trình dạy học, bất kể một dạng toán nào tôi cũng cho học sinh 
thực hành vận dụng nhiều lần để học sinh ghi nhớ kĩ cách làm. Tôi cũng khuyến 
khích học sinh trình bày lại cách làm của mình để học sinh được nhắc lại nội dung 
kiến thức. Qua đó một lần nữa giúp học sinh ghi nhớ sâu kiến thức. Bên cạnh đó 
tôi cũng củng cố để học sinh nắm chắc những đặc điểm nhận biết của dạng toán. 7 
 + Khi thiết kế bài dạy, tôi luôn dự đoán trước những phương án mà học 
sinh có thể đưa ra để chuẩn bị trước những phương tiện, tư liệu, đồ dùng cần thiết 
cho học sinh thực thi phương án. 
 + Trong khi học sinh thực hiện phương án tôi luôn dành đủ thời gian, động 
viên khuyến khích học sinh kịp thời để học sinh thực hiện các cách thức để giải 
quyết vấn đề. Trong quá trình thực thi phương án học sinh có thể thay đổi phương 
án nếu học sinh thấy cần thiết. 
 + Học sinh có thể tự thực hiện phương án của mình hoặc cộng tác, chia sẻ 
cùng bạn để hoàn thành phương án. 
 Thứ ba, rèn kĩ năng nhận xét, đánh giá. 
 Kĩ năng nhận xét đánh giá được sử dụng khi học sinh lựa chọn phương án 
giải quyết vấn đề chính xác, tối ưu trong những phương án được đưa ra. 
 Để học sinh có cơ sở đánh giá, tôi thường tổ chức cho học sinh trình bày 
phương án của mình. Điều này sẽ giúp các bạn khác có thể hiểu rõ hơn về các 
phương án được thực hiện trong tiết học. Từ đó học sinh sẽ dễ hơn trong việc lựa 
chọn phương án tối ưu nhất để gải quyết vấn đề. 
 Để học sinh có kĩ năng nhận xét, đánh giá tốt, trong mỗi tiết học tôi đều rèn 
luyện cho các em cách lắng nghe tích cực, hướng dẫn các em nghe, suy nghĩ và 
phân tích, chia sẻ cùng bạn các giải pháp để tìm giải pháp hợp lý. 
 c) Kết quả khi thực hiện giải pháp: 
 Sau khi tiến hành giải pháp tôi thấy học sinh không còn gặp nhiều khó khăn 
khi học tập theo phương pháp giải quyết vấn đề. Học sinh hứng thú học tập, dễ 
dàng chiếm lĩnh tri thức, vận dụng tốt các kiến thức đã học và ghi nhớ kiến thức 
lâu hơn. Học sinh cũng hứng thú học tập hơn trong môn Toán cũng như các môn 
học khác. Nhất là những tiết học được học theo phương pháp giải quyết vấn đề. 
 + Sản phẩm được tạo ra từ giải pháp: Giải pháp đã đề ra được 5 biện pháp 
nhằm giúp học sinh lớp 2 học tốt môn Toán theo hướng giải quyết vấn đề. 
 + Các bảng số liệu so sánh kết quả trước và sau khi thực hiện giải pháp: 
 Trong quá trình nghiên cứu, tôi thực hiện 2 khảo sát với đối tượng là học 
sinh lớp 2D trước và sau khi thực hiện giải pháp và thu được kết quả như sau: 8 
 Khảo sát thái độ học tập của học sinh khi học môn toán theo phương pháp 
giải quyết vấn đề: 
 Thời điểm khảo sát TS học sinh Thích Không thích 
 Tỉ lệ Tỉ lệ 
 SL SL 
 Chưa thực hiện giải pháp 20 (%) (%) 
 5 25 15 75 
 Tỉ lệ 
 SL SL SL 
 Sau khi thực hiện giải pháp 20 (%) 
 18 90 2 10 
 Khảo sát năng lực tự phát hiện và giải quyết vấn đề: 
 Thời điểm khảo TS học 
 Tốt Đạt Cần cố gắng 
 sát sinh 
 Tỉ lệ Tỉ lệ Tỉ lệ 
 Chưa thực hiện SL SL SL 
 20 (%) (%) (%) 
 giải pháp 
 3 15 7 35 10 50 
 Tỉ lệ 
 Sau khi thực hiện SL SL SL SL SL 
 20 (%) 
 giải pháp 
 10 50 7 35 3 15 
 Như vậy, sau quá trình áp dụng các giải pháp, số học sinh thích học theo 
phương pháp giải quyết vấn đề đã tăng lên đáng kể số học sinh không thích học 
theo phương pháp này giảm xuống còn 2 học sinh; kĩ năng giải quyết vấn đề của 
học sinh cũng được nâng cao. 
 7.2. Thuyết minh về phạm vi áp dụng giải pháp. 
 Giải pháp được áp dụng trong quá trình dạy học môn Toán lớp 2 theo 
phương pháp giải quyết vấn đề và có thể vận dụng linh hoạt đối với các môn học 
khác cũng như khối lớp khác khi dạy học theo phương pháp này. 9 
 7.3. Thuyết minh về lợi ích kinh tế, xã hội của giải pháp. 
 Giải pháp đã mang lại hiệu quả thiết thực trong việc nâng cao chất lượng dạy 
học môn Toán lớp 2 theo phương pháp giải quyết vấn đề định hướng phát triển 
năng lực học sinh. Giải pháp đã đưa ra một số biện pháp giúp học sinh phát triển 
năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề, rèn một số kĩ năng cần thiết như: phân 
tích, tư duy, vận dụng kiến thức, đánh giá nhận xét. Qua đó làm cho học sinh hứng 
thú, tích cực hơn trong học tập, góp phần nâng cao chất lượng dạy học môn Toán. 
Giải pháp cũng được vận dụng linh hoạt trong các môn học và khối lớp khác để 
thực hiện mục tiêu đổi mới giáo dục, phát triển năng lực cho học sinh. 
 * Cam kết: Tôi cam đoan những điều khai trên đây là đúng sự thật và không 
sao chép hoặc vi phạm bản quyền. 
 Xác nhận của cơ quan, đơn vị Tác giả giải pháp 
 HIỆU TRƯỞNG 
 Dương Mạnh Nguyên Nguyễn Thị Nhung 

File đính kèm:

  • pdfmot_so_bien_phap_giup_hoc_sinh_hoc_tot_mon_toan_lop_2_theo_p.pdf