Một số giải pháp rèn kĩ năng đọc đúng cho học sinh lớp 1

pdf11 trang | Chia sẻ: Chan Chan | Ngày: 10/02/2026 | Lượt xem: 6 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Một số giải pháp rèn kĩ năng đọc đúng cho học sinh lớp 1, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút TẢI VỀ ở trên
 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM 
 Độc lập – Tự do – Hạnh phúc 
 THUYẾT MINH MÔ TẢ GIẢI PHÁP 
 1. Tên giải pháp: 
 “Một số giải pháp rèn kĩ năng đọc đúng cho học sinh lớp 1”. 
 2. Ngày giải pháp được áp dụng lần đầu: 
 Giải pháp này đã được áp dụng cho việc rèn đọc cho học sinh lớp 1, nâng 
cao chất lượng học môn Tiếng Việt cho học sinh lớp 1 tại trường Tiểu học Tiến 
Thắng từ tháng 11 năm 2019. 
 3. Các thông tin cần bảo mật: không 
 4. Mô tả các giải pháp cũ thường làm 
 Trước đây bản thân tôi còn tập trung nhiều vào dạy kiến thức, chưa thực sự 
nắm rõ đặc điểm tâm sinh lý học sinh. Còn áp dụng các phương pháp cũ, truyền 
thống, chưa phát huy được tính chủ động tích cực của học sinh. Dạy kiến thức đại 
trà chung cho cả lớp chưa có sự phân hóa riêng theo từng đối tượng, đặc biệt là học 
sinh yếu kém, chậm tiến bộ. Điều đó dẫn đến tình trạng: 
 - Một số học sinh chưa nắm chắc các âm vần đã học hoặc học trước quên 
sau, gây khó khăn khi đọc bài. 
 - Chưa chú trọng rèn phát âm đúng cho học sinh dẫn đến các em phát âm 
chưa chuẩn. 
 - Các em chưa thực sự yêu thích việc học chữ. Nên khả năng ghi nhớ ngày 
càng hạn chế. 
 - Sự phối hợp giữa cô giáo và phụ huynh chưa thực sự hiệu quả. 
 5. Sự cần thiết phải áp dụng giải pháp: 
 Lớp 1 là một bước ngoặt quan trọng đối với sự phát triển về nhận thức và 
giáo dục của trẻ. Từ đây hoạt động chủ đạo của trẻ là “vui chơi” chuyển sang hoạt 
động “học tập” với mục tiêu rõ ràng hơn là lĩnh hội các kiến thức mới. 
 Môn Tiếng Việt trong trường Tiểu học đóng vai trò quan trọng. Tiếng Việt 
không những là “công cụ của tư duy” mà còn là bước đệm để hình thành nhân cách 
của một đứa trẻ. Với độ tuổi từ 6-7 tuổi khả năng phân tích, tổng hợp ở trẻ khá 
hoàn chỉnh. Các em có thể tiếp nhận, ghi nhớ các nét, các chữ cái, các từ đơn rất 
nhanh chóng và chuyển thể thành lời nói (kĩ năng đọc). Tuy nhiên không phải tất 
cả các em học sinh đều dễ dàng làm quen và lĩnh hội được kiến thức giáo viên 
truyền đạt. Vẫn còn rất nhiều học sinh bỡ ngỡ, khó khăn khi học chữ. Các em này 
 2 
thường chậm nhận diện các chữ cái, chữ ghép đã học dẫn đến chậm biết đọc, đọc 
nhầm, thậm chí không dám đọc vì sợ sai. Một số khác tuy đã thuộc chữ cái, chữ 
ghép nhưng lại khó khăn khi phát âm một số âm, vần, dấu thanh. 
 Từ thực trạng trên cũng như những hạn chế đã gặp phải, tôi thiết nghĩ cần 
phải có những giải pháp cụ thể, tích cực hơn trong quá trình giảng dạy nhằm khắc 
phục tình trạng trên, giúp học sinh họp tập tốt hơn. 
 6. Mục đích của giải pháp 
 Khi nghiên cứu các giải pháp này bản thân tôi mong muốn có thể tìm ra 
phương pháp và hướng giảng dạy giúp các em học tập tốt hơn, đặc biệt là các em 
học sinh chậm tiến bộ. Qua đó từng bước nâng cao năng lực ngôn ngữ, năng lực 
giao tiếp cho các em, giúp các em thích thú, mạnh dạn, tự tin, trong học tập và 
cuộc sống. 
 7. Nội dung: 
 7.1. Thuyết minh giải pháp mới hoặc cải tiến: 
 Giải pháp 1: Khảo sát đối tượng học sinh của lớp để đưa ra những 
phương pháp giáo dục phù hợp 
 Thông thường việc nắm bắt nhận thức của học sinh đối với lớp 1 sẽ khó 
khăn hơn so với học sinh các lớp trên. Vì các em còn nhỏ, còn mải chơi chưa thực 
sự chú tâm vào việc học. Đối với học sinh miền núi, vùng sâu việc làm này lại 
càng cần thiết. Chỉ khi giáo viên nắm bắt được nhận thức của từng học sinh mới có 
thể định hướng được phương pháp, cách thức mà mình sẽ áp dụng để đem lại hiệu 
quả giảng dạy. Nhưng làm cách nào để biết được rằng em nào nhận thức tốt, em 
nào nhận thức còn hạn chế cũng là vấn đề nhều giáo viên quan tâm. Qua một số 
năm giảng dạy tôi thấy rằng việc kiểm tra đọc bảng chữ cái của các em là rất cần 
thiết. Khi thuộc các mặt chữ và phát âm đúng các chữ cái các em sẽ tránh khỏi bỡ 
ngỡ khi học các chữ ghép và có thể tập ghép chữ thành vần, thành từ. Như vậy, 
thực sự rất cần một cuộc khảo sát. 
 Khi bắt đầu nhận phân công giảng dạy ở lớp1 năm học 2019 – 2020 theo 
chương trình Tiếng Việt Công nghệ giáo dục, tôi đã tiến hành một bài khảo sát với 
học sinh lớp 1A, trường Tiểu học Tiến Thắng và kết quả thu được như sau: các em 
thường phát âm sai các phụ âm đầu như đọc lẫn lộn giữa n/ l, phát âm p (pờ) thành
b (bờ), s thành x, tr thành ch Một số em đọc các từ có thanh ngã còn nhầm lẫn ví 
dụ như: đã (đọc thành đá), ngã (thành ngá) 
 Và đây là kết quả bài khảo sátthực trạng đọc trong thời gian đầu năm học 
2019-2020 của học sinh lớp tôi như sau: 
 3 
 BẢNG THỐNG KÊ KHẢO SÁT ĐẦU NĂM HỌC 2019-2020 
 Số học Số HS phát âm Số HS phát Số HS chưa 
 sinh đọc sai về âm (l/n, s/x, âm sai về dấu nhận diện hết 
 thanh (/; ~) bảng chữ cái 
 Lớp Sĩ số đúng ch/tr, ) 
 Số 
 % Số lượng % Số lượng % Số lượng % 
 lượng 
 1A 28 8 29 7 25 6 21 7 25 
 Qua bài khảo sát tôi nhận thấy bản thân đã hiểu rõ hơn về kiến thức các em 
nắm được, các kĩ năng còn hạn chế, nhóm đối tượng cần quan tâm. Từ đó, bằng 
kiến thức sư phạm sẵn có cộng thêm việc nghiên cứu tìm tòi, học hỏi tôi đã tiến 
hành nhiều giải pháp giúp các em tiến bộ hơn, đặc biệt là nhóm đối tượng học sinh 
còn nhiều hạn chế về mặt phát âm. 
 Giải pháp 2: Rèn cho học sinh nhận diện đúng các nét cơ bản, các dấu
thanh, âm và vần. 
 * Phần học các nét cơ bản: 
 - Tôi dạy thật kĩ và tỉ mỉ tên gọi và cách viết các nét cơ bản. Đểgiúphọc
sinh dễ hiểu và dễ nhớ những nét chữ cơ bản này, tôi phân theo cấu tạo cácnétcó
tên gọi và cấu tạo gần giống nhau thành từng nhóm để học sinh dễ nhận biếtvàso
sánh. Dựa vào các nét cơ bản này mà học sinh phân biệt được các chữ cái,kểcả
những chữ cái có hình dáng cấu tạo giống nhau. 
 - Ví dụ: Các nét chữ cơ bản và tên gọi: nét sổ thẳng, nét ngang. 
 + Nhóm 1: Nét xiên: nét xiên phải, nét xiên trái
 + Nhóm 2: Nét móc: nét móc xuôi, nét móc ngược, nét móc haiđầu.
 + Nhóm 3: Nét cong: nét cong hở phải, nétcong hở trái, nét cong kín. 
 + Nhóm 4: Nét khuyết: nét khuyết trên, nét khuyết dưới, nét thắt.
 * Phần học dấu thanh: 
 - Khi học về dấu thanh, tôi hướng dẫn học sinh cách nhận biết và đọccác
dấu thanh, đặc biệt là thanh sắc, thanh ngã vì đâylà những dấu thanh mà học sinh 
lớp tôi dễ nhầm lẫn. Khi đọc những dấu thanh này, giáo viên đọc thật chậm và cho 
học sinh đọc lại nhiều lần cho các em ghi nhớ. Ngoài ra tôi cũng kết hợp thêm cử 
chỉ bằng tay để nhấn mạnh thêm cách phát âm. 
 - Ví dụ: Khi đọc từ đá tôi đưa tay phải theo hướng xiên lên trên sang trái 
quay mặt về phía các em. Khi đọc từ đã tôi đưa tay trái ngang ngực làm động tác 
theo hình lượn sóng. Như vậy các em vừa quan sát được miệng cô khi phát âm vừa 
quan sát được động tác tay thể hiện ngữ điệu. Tôi thực hiện việc này thường xuyên 
 4 
trong các tiết học và ưu tiên những em đang mắc phải lỗi này thực hiện. 
 * Phần học âm: 
 - Sau khi cho học sinh học thuộc và ghi nhớ tên gọi và cấu tạo các nét cơ
bản một cách vững vàng thì việc học âm sẽ dễ dàng hơn. Đây là giai đoạn vôcùng
quan trọng. Học sinh có nắm chắc từng chữ cái thì mới ghép được các chữcáivới
nhau để tạo thành vần, thành tiếng, ghép các tiếng lại với nhauthành từ, thành câu. 
 - Giai đoạn này tôi dạy các em nhận diện, phân tích từng nét trong từng con
chữ và nếu chữ cái đó cùng tên mà lại có nhiều kiểu viết in khác nhauhaygặp
trong sách báo như chữ a, chữ g thì tôi viết cả hai kiểu chữ lên bảng hoặc inthêm 
trong phiếu bảng chữ cái, phân tích cho học sinh hiểu và nhận biết để khi gặpkiểu
chữ đó được in trong sách báo, học sinh sẽ dễ hiểu, dễ đọc và không bị lúngtúng.
 - Ví dụ: Nhận biết âm p, âm q: 
 Đây là 2 phụ âm đồng vị về mặt cấu âm nhưng khác nhau về mặt thanh 
tính (p là phụ âm vô thanh, b là phụ âm hữu thanh. Để luyện đọc đúng /b/ tôi đã 
hướng dẫn học sinh tự đặt lòng bàn tay trước miệng một tay đặt lên thanh quản. 
Khi phát âm /b/ là âm vốn có sẽ cảm nhận được độ rung nhẹ của thanh quản và 
không thấy luồng hơi phát ra. Tiếp đó, cho trẻ bậm 2 môi lại và bật hơi qua môi 
mạnh hơn, tạo âm /p/. Cho học sinh thực hiện nhiều lần và so sánh với âm b. học 
sinh sẽ thấy 2 âm này có sự khác biệt. Giáo viên nên cho những em phát âm chưa 
đúng 2 âm này thực hành nhiều lần mỗi khi gặp trong các bài học. 
 - Đối với những học sinh nhầm lẫn 2 âm l/n: Đa số các em phát âm sai 2 
âm này vì không biết mình đang đọc âm nào. Để khắc phục tôi cho học sinh tự 
kiểm tra xem mình đang đọc âm nào bằng cách cho học sinh đặt ngón tay trỏ lên 
mũi và phát âm. Nếu là âm /n/ khi sờ tay vào mũi sẽ thấy mũi rung. Còn âm /l/ thì 
không. Khi học sinh đã nhận biết được cách phát âm của từng âm tôi cho học sinh 
tập phát âm đúng. Đối với âm /n/ đưa đầu lưỡi vào mặt trong của hàm răng, khi 
phát âm /l/ thì đưa lưỡi lên bên trên lợi của hàm trên ngạc cứng. Sau đó tôi thực 
hiện mẫu và khuyến khích các em đang mắc lỗi này cùng thực hiện. 
 5 
 Học sinh tập phân biệt âm l/n 
 - Sang phần học âm ghép (chữ có hai âm ghép lại với nhau), tôi hướng dẫn
học sinh sắp xếp các âm có âm h đứng sau thành một nhóm để thấy được sựgiống
và khác nhau của các âm đó. 
 - Ví dụ: 
 + Các âm ghép: ch, nh, th, kh, gh, ph, ngh 
 + Các âm còn lại như: gi, tr, qu, ng: tôi cho học sinh học kĩ về cấu tạo.
 + Phân thành từng cặp: ch – tr, ng – ngh, c – k, g – gh để học sinh phát âm 
chính xác và viết đúng chính tả. 
 - Trong phần học âm, các em được nhận biết chữ in thường và chữ inhoa.
Tôi luôn chú trọng phần nhận biết chữ in hoa bằng cách cho học sinh quan sátkĩ
các chữ, nêu cấu tạo chữ in hoa để học sinh luôn biết cách nhận diện các âmkhi
được viết bằng chữ in hoa. 
 - Trong từng tiết học, từng tiết ôn tập, bổ sung, tôi luôn cố gắng tìm cáchđể
kiểm tra sự tiến bộ của học sinh thông qua các bài đọc, các giờ vui chơi, từđó
củng cố thêm kiến thức cho học sinh. 
 * Phần học vần: 
 6 
 - Đến giai đoạn học phần vần, tôi tập cho học sinh thói quen nhận diện, 
phân tích cấu tạo của vần, nhận biết vịtrí các âm trong vần để các emdễ dàng ghi 
nhớ các vần. 
 - Ví dụ: Học vần at (Sách Tiếng Việt 1CGD tập hai, trang 20) 
 + Cho HS nhận diện về cấu tạo vần at: vần at gồm 2âm là âm a và âm t. 
 + Vị trí âm trong vần: vần at có âm a đứng trước, âm t đứng sau.
 + Đánh vần vần at: hướng dẫn học sinh âm a đứng trước, ta đọc a trước, âm
t đứng sau, ta đọc t sau: a -tờ - at. 
 + Đọc trơn vần: at. 
 + Kết hợp dùng bộ chữ học vần để họcsinh ghép vần. 
 + Yêu cầu học sinh chọn đúng hai con chữ a và t.
 + Ghép đúng vị trí: a trước, t sau.
 + Khi học sinh đã ghép đúng thì tôi hướng dẫn các em cách đánh vầnvà
đọc trơn như đã nêu ở trên thì các em sẽ rất dễ nhận biết và đọc đúng vầnat.
 - Với cách dạy phân tích, nhận diện và ghép vần như thế được ápdụng
thường xuyên trong mỗi tiết học vần thì giáo viên sẽ tạo cho học sinh kĩ năngphân 
tích, nhận diện và ghép vần dẫn đến việc đánh vần, đọc trơn vần một cách dễ dàng.
Trong các bài dạy vần, sách Tiếng Việt lớp 1 có kèm theo các từ khóa, từ ứng dụng 
và các câu văn, câu thơ ngắn để học sinh luyện đọc. Muốn cho học sinh đọc đúng
được các từ và câu ứng dụng trong bài, giáo viên cho học sinh nắm chắc các vần 
sau đó cho các em ghép âm đầu và dấu thanh với vần vừa học để đọc tiếng, từngữ
trong bài. 
 - Ví dụ dạy vần at có từ ngữ bờ cát: Tôi giúp học sinh nhận biết tiếng cát 
bằng cách phân tích tiếng. Tiếng cát có âm c đứng trước, vần at đứng sau, dấu sắc 
ở trên âm a, rồi ghép và đánh vần tiếng cát. 
 - Giáo viên kết hợp sử dụng tranh minh họa để cho học sinh hứng thú ,gợi
trí tò mò, ham học hỏi giúp các em chủ động trong giờhọc.
 * Phần tập đọc: 
 Đây là giai đoạn khó khăn đối với học sinh lớp 1 nhất là đối tượng họcsinh
nhận thức còn chậm. Các em chưa đọc, chưa nhìn chính xác vần nên ghép tiếngrất
chậm, ghép tiếng chậm dẫn đến đọc câu rất khó khăn. Vìthế đối với đối tượng học 
sinh này, giáo viên cần hết sức kiên nhẫn , giành nhiều cơ hội và thời gian tậpđọc
cho các em giúp các em đọc bài từ dễ đến khó, từ ít đến nhiều. Giáo viêntránh
nóng vội để đọc trước chocác em đọc lại dẫn đến tình trạng đọc vẹt và có cótínhỷ
lại, thụ động. Giáo viên cho học sinh đánh vần từng tiếng trong câu, đánh vần xong
 7 
đọc trơn lại tiếng đó nhiều lần để nhớ. Sau đó nhẩm đánh vần tiếng kế tiếp, lạiđọc
trơn tiếng vừa đánh vần rồi đọc trơn lại từng cụmtừ.
 Giải pháp 3: Luyện phát âm chuẩn bằng các trò chơi học tập 
 Trò chơi học tập là một cách học thú vị để làm quen với một sinh hoạtxã
hội. Một mặt các em có thể trò chuyệnvà cười đùa. Mặt khác các em códịpđược
học thêm những kĩ năng và cả nội dung chủ đề của trò chơi. Những trò chơinhư
thế này rất dễ thực hiện bằng cách sử dụng các kẹp tài liệu, các bút viết haychỉ
cần một tấm bìa cứng. Chủ đề có thể nhiều lĩnh vực kĩ xảo ngôn ngữ, thôngtin
cần học có thể đặt vào các hình vuông, hình chữ nhật ... Học sinh bốc thăm và đọc 
rồi trả lời câu hỏi. Giải pháp nàygiúp học sinh khắc sâu trong trí nhớ hơn và hứng
thú họchơn. 
 Học sinh bốc thăm và đọc từ trong thẻ từ 
 Giải pháp 4: Chữa lỗi phát âm bằng cách luyện tập, thực hành trong các 
môn học 
 Giáo viên luôn động viên, nhắc nhở các em phải luôn mạnh dạn rèn phát
âm chuẩn trong tất cả các môn học, chú ý, quan sát, lắng nghe cô giáo hướng dẫn,
tự tin, chăm chỉ trong học tập, biết phối hợp cùng bạn bè, mạnh dạn hỏi thầy,cô
giáo và bạn bè khi mình chưa hiểu, luôn có ý thức luyện phát âm đúng. Không
những trong phân môn tập đọc mà các em cần phải phát âm chuẩn trong cácmôn
học khác như: phân môn Toán khi đọc số, đọc yêu cầu bài tập, bài toán có lời văn;
nếu đọc không đúng, người nghe sẽ không hiểu được bài toán. Trong phân môn 
Âm nhạc, giáo viên cũng cần hướng dẫn học sinh đọc đúng để hát đúng lời ca của
 8 
bài hát. Chẳng hạn học sinh hát câu “Cái cây xanh xanh, thì lá cũng xanh”, “Bé bé 
bằng bông, hai má hồng hồng” hoặc “Mặt trời soi rực rỡ...” 
 Hàng ngày giáo viên dành thời gian vào trước giờ học hoặc giờ ra chơi để 
cho học sinh đọc các câu chuyện có nội dung ngắn, dễ hiểu, trong sáng, lành 
mạnh. Giáo viên có thể hỗ trợ thêm những vần các em chưa được học, giúp các 
em hiểu rõ nội dung câu chuyện, đưa ra những câu hỏi mở giúp khơi dậy tính tò 
mò ham thích đọc truyện của các em. 
 Giải pháp 5: Đổi mới hình thức động viên, khen thưởng học sinh. 
 Đặc điểm chung của học sinh tiểu học là thích được khen. Vì vậy, giáo viên 
cần có sự động viên, khích lệ một cách kịp thời để các em cùng nhau phấn đấu, 
cùng nhau tiến bộ là một điều vô cùng quan trọng trong quá trình dạy học nói 
chung và việc luyện đọc đúng cho học sinh lớp 1 nói riêng. Có rất nhiều cách 
động viên khen thưởng như: 
 * Khen ngợi bằng lời: 
 - Khi học sinh phát âm gần đúng giáo viên có thể bằng cử chỉ điệu bộ kết 
hợp với lời nói: “Em đọc gần đúng rồi ,thử đọc lại một lần nữa nhé!” 
 - Khi hướng dẫn học sinh được đọc nhiều lần nhưng chưa phát âm đúng 
giáo viên có thể nói: “Hôm nay em đã rất cố gắng, cô tin ngày mai em sẽ đọc 
đúng, cố lên em nhé!” 
 - Khi học sinh đọc đúng nhưng còn nhút nhát cô khen: “Em đọc đúng rồi. 
Cả lớp cùng vỗ tay tuyên dương bạn nào”. 
 * Khen bằng món quà nhỏ: 
 - Trong cuộc họp phụ huynh đầu năm tôi đã đề xuất với Ban đại diện phụ 
huynh về việc khen thưởng các học sinh trong lớp thực hiện tốt các phong trào học 
tập cũng như các phong trào khác theo từng thời điểm như: cuối tuần, cuối tháng, 
cuối kì, cuối năm học, học sinh có thành tích đặc biệt. Tất cả các phụ huynh đều 
đồng tình ủng hộ cùng gây quỹ để thực hiện. Tôi cùng với đại diện cha mẹ học 
sinh cùng trao đổi và tiến hành. Những học sinh có sự tiến bộ trong tuần, tháng, kì 
học sẽ nhận được 1 món quà nhỏ từ cả lớp có thể là 1 quyển vở, 1 cái bút, 1quyển 
truyện Những món quà tuy nhỏ nhưng rất ý nghĩa các em rất hứng thú cùng thi 
đua học tập. 
 9 
 *Khen bằng sticker: 
 - Các nhân vật hoạt hình ngộ nghĩnh, hay các hình mặt cười thường rất thu 
hút các em. Các em luôn cảm thấy hứng khởi và vui vẻ khi được nhận phần thưởng 
này từ giáo viên. 
 Giải pháp 6: Phối kết hợp với phụ huynh trong việc rèn đọc 
 - Trong tình hình dịch Covid đang diễn biến phức tạp việc liên lạc thường 
xuyên với phụ huynh để nắm bắt tình hình từ hai phía là việc làm thực sự cần 
thiết. Bản thân tôi đã lập nhóm Zalo cho lớp mình chủ nhiệm. Đây cũng chính là 
nơi để giáo viên, phụ huynh cùng trao đổi đưa ra ý kiến tâm tư nguyện vọng hay 
những vấn đề còn băn khoăn. Nó giúp bản thân tôi với các bậc phụ huynh trở nên 
gắn kết, gần gũi hơn. Qua mỗi buổi học, có những nội dung cần được củng cố rèn 
luyện nhiều để ghi nhớ và khắc sâu thì việc hướng dẫn phụ huynh giúp con luyện 
tập thêm ở nhà sẽ trở nên thuận lợi. 
 - Ví dụ: Trên lớp nhiều học sinh phát âm nhầm lẫn giữa âm /l/, và /n/ 
Giáo viên có thể hướng dẫn phụ huynh cách phân biệt, cách luyện đọc đúng. Nhờ 
được luyện tập cả ở trên lớp và khi về nhà nên rất nhiều em đã phân biệt được và 
phát âm đúng. 
  Kết quả khi thực hiện giải pháp: 
 KẾT QUẢ KHẢO SÁT CUỐI NĂM HỌC 2019-2020 
 Số học sinh Số HS phát âm Số HS phát âm Số HS chưa 
 đọc đúng sai về âm (l/n, sai về dấu thanh nhận diện hết 
 s/x, ch/tr) (/; ~) bảng chữ cái 
 Lớp Sĩ số 
 Số Số Số 
 % Số lượng % % % 
 lượng lượng lượng 
 1A 28 25 89 2 7 1 4 0 0 
 - So sánh với kết quả khảo sát đầu năm học, tôi thấy học sinh lớp mình đã 
tiến bộ vượt trội. 
 + Tình trạng học sinh nhút nhát, không dám đọc không còn nữa. 
 10 
 + Các em mạnh dạn tự tin hơn, sẵn sàng hỏi cô giáo những vấn đề còn khó 
khăn thắc mắc. 
 + Không còn hiện tượng học sinh không thuộc chữ cái, chữ ghép. 
 + Nhiều em đã sửa được lỗi phát âm chuẩn các âm, vần, đọc bài lưu loát trôi 
chảy hơn rất nhiều. 
 7.2. Thuyết minh về phạm vi áp dụng giải pháp 
 - Giải pháp trên có thể áp dụng được với tất cả học sinh lớp 1 trong trường 
Tiểu học Tiến Thắng và các các em học sinh lớp 1 trong toàn huyện. Đặc biệt 
những nhóm học sinh mắc phải những lỗi phát âm chưa chuẩn như đã nêu ở trên. 
Đối với năm học 2020 - 2021, đây là năm đầu tiên thực hiện thay sách theo chương 
trình giáo dục phổ thông 2018. Tuy rằng mỗi trường được tự chủ lựa chọn bộ sách 
để giảng dạy nhưng nhìn chung về nội dung và yêu cầu cần đạt đối với môn Tiếng 
Việt là giống nhau, đều hướng tới mục đích giúp học sinh đọc thông viết thạo. Như 
vậy, giải pháp trên có thể áp dụng được trong quá trình giảng dạy môn Tiếng Việt 
theo chương trình mới. 
 7.3. Thuyết minh về lợi ích kinh tế, xã hội của giải pháp 
 - Một số giải pháp rèn kĩ năng đọc đúng cho học sinh lớp 1 đã góp phần 
nâng cao chất lượng dạy và học môn Tiếng Việt của học sinh lớp 1, trường Tiểu 
học Tiến Thắng và là nền tảng để các em học tập tốt ở các lớp họctiếp theo. Sau 
khi áp dụng giải pháp tôi thấy học sinh lớpì m nh có rất nhiều tiến bộ trong việc 
đọc: đọc đúng, đọc nhanh, đọc trôi chảy hơn và hiểu được nghĩa của từ ngữ. Nhờ
đó mà khả năng nhận biết kiến thức các môn học, nhận biết thế giới xung quanh
của học sinh ngày càng lớn. 
 - Giáo viên dạy lớp 1 trong trường cũng áp dụng giải pháp của tôi và kết 
quả là chất lượng đọc của học sinh ngày càng đượccải thiện, học sinh tự giác, tích 
cực và hứng thú hơn trong học tập. Đa số học sinh sau khi được các thầy cô hướng
dẫn theo các giải pháp rèn đọc đúng thì học sinh tiến bộ nhiều về kĩ năng đọcvà
chất lượng học tập môn Tiếng Việt được nâng cao.
 * Cam kết: Tôi cam đoan những điều khai trên đây là đúng sự thật và không 
sao chép hoặc vi phạm bản quyền. 
 Xác nhận của Thủ trưởng quản lý trực tiếp 
 HIỆU TRƯỞNG Người báo cáo 
 Dương Mạnh nguyên Hứa Thị Phương 
 11 

File đính kèm:

  • pdfmot_so_giai_phap_ren_ki_nang_doc_dung_cho_hoc_sinh_lop_1.pdf
Bài giảng liên quan