Biện pháp rèn kỹ năng viết văn tả người cho học sinh lớp 5
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Biện pháp rèn kỹ năng viết văn tả người cho học sinh lớp 5, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút TẢI VỀ ở trên
3 I. PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài: “Biện pháp rèn kỹ năng viết văn tả người cho học sinh lớp 5” Phân môn Tập làm văn là phân môn giúp học sinh rèn kĩ năng nói, viết tốt nhất. Trong chương trình Tập làm văn lớp 5, dạng bài văn tả người là một dạng bài mới yêu cầu cả giáo viên và học sinh phải cố gắng nhiều. Ở dạng bài này, nếu đầu tư tốt, giảng dạy kĩ, giáo viên sẽ giúp học sinh hình thành những tư tưởng, tình cảm tốt, lòng yêu thương con người. Chẳng hạn, các em sẽ thấy yêu thương và có trách nhiệm hơn với mẹ nếu em quan sát và viết ra được cảm nghĩ “em thấy thương mẹ thật nhiều khi nhìn lưng áo mẹ ướt đẫm mồ hôi, mặt mẹ đỏ gay vì nắng”. Dạy chữ là góp phần dạy người, dạy học sinh không phải chỉ dạy cho các em con chữ mà còn dạy các em lễ nghĩa ở đời, dạy các em yêu thương con người với đạo lí “Thương người như thể thương thân”. Để có tình cảm tốt, các em cần phải có khả năng thấu cảm, quan sát tinh tế, phải biết nhìn nhận về những đóng góp của những người xung quanh và viết ra được tình cảm của mình đối với mọi người. Tuy nhiên, trong quá trình dạy học, tôi nhận thấy rằng kĩ năng viết văn của học sinh còn rất nhiều hạn chế, chất lượng các bài tập làm văn tả người ở lớp 5 chưa đạt được hiệu quả như mong muốn, đa số các bài tả người giống nhau, nội dung bài sơ sài, chưa chọn lọc đặc điểm và lột tả được nét riêng biệt của người được tả. Các câu trong đoạn văn hay cả bài văn không có sự liên kết chặt chẽ với nhau dẫn đến bài văn rời rạc, thiếu sự liên kết mạch lạc nên bài văn của các em thường luôn bị lộn xộn, miêu tả lung tung, không diễn đạt được trọn vẹn ý tưởng và đặc biệt là chưa bộc lộ được tình cảm của mình đối với người được tả. Vậy phải làm thế nào để các em viết tốt các bài văn tả người? Đó chính là vấn đề tôi luôn trăn trở trong suốt quá trình giảng dạy. Chính vì lí do đó, tôi đã cố gắng tìm tòi, học hỏi từ đồng nghiệp, từ các bậc tiền bối, thông qua mạng internet, tham khảo thêm kinh nghiệm giảng dạy để tìm ra biện pháp luyện tập cho các em có những kĩ năng viết bài tập làm văn 4 tả người giàu cảm xúc. Đó cũng chính là nội dung mà tôi trình bày trong đề tài:“Biện pháp rèn kĩ năng viết văn tả người cho học sinh lớp 5”. Mong rằng với những biện pháp này, tôi có thể góp phần nâng cao chất lượng dạy học về dạng văn tả người ở lớp 5 nói riêng và phân môn Tập làm văn nói chung. 2. Mục đích nghiên cứu. - Tìm ra phương pháp tối ưu nhất để dạy viết văn miêu tả người. - Học sinh viết bài biết sử dụng hình ảnh so sánh nhân hóa, câu văn hay và sinh động. Các ý được liên kết chặt chẽ diễn đạt rõ ràng. - HS có được năng lực cộng tác, tự tin chia sẻ có cơ hội được bày tỏ vốn hiểu biết và óc quan sát sáng tạo cá nhân. - Rèn kỹ năng viết, kỹ năng quan sát, dùng từ ngữ có hình ảnh. - HS hoàn thành nội dung học tập ngay tại lớp. - Nâng cao chất lượng môn Tiếng Việt. 3. Nhiệm vụ nghiên cứu - Giúp giáo viên nghiên cứu kỹ nội dung dạng văn miêu tả người từ đó giúp học sinh lớp 5 rèn kỹ năng viết văn miêu tả. - Giúp giáo viên xác định được kỹ năng cần dạy cho học sinh về bài văn miêu tả thông qua việc rèn luyện cho học sinh các kỹ năng như quan sát, lập dàn ý . - Giúp giáo viên tự rút ra bài học kinh nghiệm thông qua việc trải nghiệm thực tế trên lớp học của mình để tiếp tục dạy tốt hơn các loại văn khác . 4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu . - Học sinh lớp 5 trường Tiểu học Đồng Kỳ - Yên Thế - Bắc Giang. Năm học 2021-2022. 5. Phương pháp nghiên cứu. Trong đề tài này tôi đã sử dụng một số phương pháp cơ bản như: - Phương pháp quan sát - Phương pháp hỏi - đáp - Phương pháp phân tích – tổng hợp 5 - Luyện tập thực hành II. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 1. Cơ sở lý luận. Như chúng ta đã biết cấp Tiểu học đặt nền móng cho việc hình thành và phát triển nhân cách của học sinh. Đây là bậc học cung cấp tri thức khoa học ban đầu, các kỹ năng về hoạt động thực tiễn bồi dưỡng phát huy tình cảm thói quen và đức tính Tốt của con người ở bậc tiểu học môn nào cũng quan trọng nhưng quan trọng nhất và giữ vị trí quan trọng phải nói đến môn Tiếng Việt nó là công cụ để giao tiếp và tư duy và không một quốc gia nào lại không chăm lo đến tiếng mẹ đẻ trong nhà trường Tiểu học đó là môn góp phần hình thành và phát triển ở học sinh 4 kỹ năng nghe - nói - đọc - viết. Trong môn Tiếng Việt thì phân môn Tập làm văn lại chiếm một vị trí quan trọng vì nó là sự tích hợp của 4 kỹ năng của học sinh. Trong đó tả người là dạng Tập làm văn yêu cầu học sinh dùng từ ngữ để tái hiện hình ảnh, tính cách của một con người với các trạng thái và tính cách của người đó nhằm giúp người đọc, người nghe như đang được tận mắt nhìn thấy đối tượng được tả dần hiện ra qua từng con chữ vì vậy khi làm văn tả người điều quan trọng là phải biết quan sát và dẫn ra được những nét tính cách đặc trưng những hoạt động tiêu biểu nhất của đối tượng được miêu tả. Đối với học sinh Tiểu học khi viết một bài văn tả người thì hình ảnh con người mà các em xây dựng khác so với hình ảnh con người trong các tác phẩm văn chương, bởi các em còn nhỏ chưa suy nghĩ nhiều và chưa có thể có cái nhìn sâu sắc về đối tượng miêu tả. Đối tượng của các em luôn gần gũi gắn liền với cuộc sống hằng ngày có ảnh hưởng trực tiếp tới các em ngôn ngữ mà các em sử dụng là đơn giản, dễ hiểu và không yêu cầu quá cao từ việc tìm hiểu các khái niệm liên quan và việc phân tích các đặc trưng văn tả người có thể thấy việc nắm vững được khái niệm đặc trưng của một bài văn tả người là rất cần thiết. Nắm được đặc điểm cơ bản sẽ tránh được việc viết văn lạc đề. Vì 6 vậy giáo viên phải làm sao để học sinh xác định và nắm chắc và vận dụng vào bài viết của mình được điều đó để vận dụng vào bài viết của mình. Xã hội đang trên đà phát triển công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đòi hỏi con người cũng phải phát triển về ngôn ngữ, tư duy óc sáng tạo vốn hiểu biết về thiên nhiên, con người, môi trường. Khi viết văn miêu tả trong đó là văn tả người, tả người là dạng bài tập làm văn yêu cầu học sinh dùng từ ngữ để tái hiện lại hình ảnh, tính cách của con người nhằm giúp người đọc người nghe như đang được tận mắt nhìn thấy. Đề tài văn miêu tả vô cùng phong phú đó là thế giới xung quanh ta với những đường nét, âm thanh, màu sắc, hương vị....mà người miêu tả cảm nhận được. Việc học các bài văn miêu tả người sẽ giúp các em có tâm hồn, trí tuệ phong phú hơn, giúp các em cảm nhận được sự vật xung quanh tinh tế và sâu sắc hơn. 2. Cơ sở thực tiễn. 2.1.Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến. - Từ thực tiễn dạy học trong mấy năm học qua tôi nhận thấy việc dạy và học văn miêu tả người giáo viên thường như dụng một số phương pháp như: + Phương pháp hỏi đáp : - Giáo viên nêu đề bài - Một vài học sinh nhắc lại đề bài - Giáo viên giúp học sinh nắm yêu cầu chính của đề bài. - Giáo viên giúp học sinh cách làm bài bằng các câu hỏi gợi mở( bài văn gồm mấy phần) mở bài giới thiệu gì? Thân bài nêu nội dung gì? Kết bài nội dung gì ? kết hợp giáo viên đưa ra dàn ý + Phương pháp quan sát: Giáo viên đưa ra cho học sinh bài văn mẫu, sách tham khảo bài học sinh làm năm trước, giáo viên dùng bảng phụ đưa ra bài làm + Luyện tập thực hành: HS dựa vào gợi ý bài văn mẫu tự viết bài GV thu bài, giáo viên chấm, nhận xét đánh giá 7 2.2. Kết quả khảo sát cuối năm học 2020-2021 Đề bài: Hãy tả lại người thân trong gia đình em mà em yêu quý nhất. Lớp TSHS HTT HT CHT 5A 30 6 20 % 16 53,3 % 8 26,7 % 5B 31 7 22,5 % 15 48,3 % 9 29,2 % 5C 30 8 26,6 % 15 50 % 7 23,4 % * Qua những giải pháp và bảng khảo sát chất lượng học sinh trên tôi thấy học học sinh còn nhiều hạn chế như: a.Về học sinh: - Các em rất ngại khi học phân môn Tập làm văn nhất là những bài viết tả người bởi kỹ năng viết của các em còn hạn chế do đặc điểm tâm lý của các em còn han chơi, khả năng tập trung chú ý quan sát còn chưa tinh tế năng lực sử dụng ngôn ngữ chưa phát triển tốt dẫn đến việc miêu tả còn thiếu hiểu biết về đối tượng miêu tả . + Chưa biết quan sát đối tượng miêu tả chỉ nó chung chung dẫn tới việc tìm ý và lập dàn ý rất khó khăn. + Chưa biết lựa chọn vốn từ ngữ khi miêu tả, câu văn còn lủng củng chưa sáng tạo. + Chưa có thói quen sử dụng biện pháp so sánh, nhân hóa khi làm văn + Khả năng giao cảm với đối tượng miêu tả còn hạn chế; cảm xúc, tình cảm không tự nhiên, có sự gượng ép. - Khi các em miêu tả chỉ mang tính chất liệt kê các em không biết chọn đối tượng miêu tả khiến bài văn thiếu sự liên kết rời rạc. - Vốn từ của các em chưa phong phú các em dùng từ chưa chính xác câu văn còn mang nhiều ngôn ngữ nói đôi khi còn lặp lại từ, các em chưa biết sử dụng các biện pháp nghệ thuật khi miêu tả như nhân hóa, so sánh, điệp từ, điệp ngữ lớp từ có tác dụng gợi tả gợi cảm. Khi viết văn việc sử dụng tùy tiện dấu phẩy, dấu chấm lỗi sai chính tả, thậm chí có bài văn còn không có dấu chấm, dấu phẩy. 8 - Việc nạn dụng vào sách tham khảo các bài văn mẫu khiến các em dập khuôn theo văn mẫu chưa có sự tuy duy sáng tạo khi viết văn còn mang hình thức sao chép dựa vào văn mẫu. + Với cách làm việc máy móc, dập khuôn theo mẫu nên khả năng nói và viết của các em là rất khó khăn, lúng túng dẫn tới các em chưa xác định được cách viết văn tả người. b. Về giáo viên: - Một số giáo viên còn thiếu linh hoạt trong vận dụng trong phương pháp dạy học chưa sáng tạo trong việc tổ chức các hoạt động học tập của học sinh. - Giáo viên còn coi trọng lý thuyết coi nhẹ việc rèn kỹ năng nên chưa khơi gợi huy động được vốn hiểu biết của học sinh để vận dụng đa số yêu cầu học sinh học nhiều, nhớ nhiều các bài văn mẫu để rồi bắt chiếc văn mẫu mà viết do vậy học sinh dễ dàng thuộc một đoạn văn hay một bài văn hơn là tự viết một bài văn cho riêng mình . - Nhiều giáo viên yêu cầu học sinh học thuộc một bài văn mẫu để các em khi gặp đề bài tương đương thì cứ thế mà chép ra. Do đó đã vô tình giáo viên đã tạo cho các em thói quen bắt chiếc, lười suy nghĩ. Từ thực trạng trên tôi thấy việc rút ra những kinh nghiệm dạy học cũng như những kỹ năng cần rèn cho học sinh nhằm đưa chất lượng viết văn của học sinh đi lên . c. Về gia đình. - Phần đông phụ huynh còn trẻ, đi làm ăn xa chủ yếu các em ở với ông bà chưa có thời gian để ý con cái , giúp đỡ con khi học ở nhà. 3. Các biện pháp thực hiện. Biện pháp 1: Rèn cho học sinh kĩ năng quan sát và thể hiện cảm xúc. Quan sát là vận dụng tất cả các giác quan của người viết để nhận biết đặc điểm của thế giới xung quanh. Nếu như học sinh có sự quan sát tinh tường, thấu đáo thì bài viết của các em sẽ trở nên hay và hấp dẫn hơn. Còn nếu như học sinh quan sát hời hợt, không chú tâm thì bài làm của học sinh sẽ khô khan 9 và nhàm chán. Bởi vậy, việc hình thành và rèn luyện kĩ năng quan sát cho học sinh là rất quan trọng. Qua quá trình quan sát thực tế đó sẽ cung cấp nguồn tư liệu phong phú và hình thành xúc cảm ban đầu cho hoạt động miêu tả của học sinh. Có thể khẳng định giá trị của một bài văn miêu tả nói chung và bài văn tả người nói riêng phụ thuộc rất nhiều vào kĩ năng quan sát của người viết rất lớn. Bước 1: Quan sát trực tiếp đối tượng quan sát qua báo, ti vi, . Một trong những cách tốt nhất để thực hiện là 1 phương thức cũ kỹ: Sử dụng các tờ ghi chú để viết ra những miêu tả và vẽ lên những hình minh họa về những thứ em thấy. Khi quan sát, không phải lúc nào cũng ghi lại toàn bộ những gì mình thấy, mình cảm nhận được mà cần phải biết lựa chọn. Các em cần phải biết chọn lọc, lựa chọn những chi tiết ấn tượng, tinh tế trong quá trình quan sát vì như vậy bài văn mới hấp dẫn, ấn tượng trong lòng người đọc. Tôi hướng dẫn các em rèn luyện sự chú ý của mình, học cách tập trung vào những đặc điểm liên quan với nhau mà không xét đến những đặc điểm ít nổi bật hơn. Đối với cách này, các em có thể làm điều này ở bất cứ đâu để quan sát và ghi nhớ ngoại hình, hành vi của một ai đó. Bước 2: Sử dụng phiếu bài tập để giúp học sinh dễ hình dung về nhân vật được tả. Ví dụ: Phiếu học tập Câu hỏi : Liệt kê 5 hình ảnh dùng để miêu tả hình dáng người công nhân xây dựng. Đáp án : làn da ngăm cháy nắng, bàn tay thô ráp, dáng người săn chắc, áo sờn vai, cao lớn, đôi tay thoăn thoắt, Bằng việc sử dụng phiếu học tập, giáo viên đã chuyển hoạt động từ giảng giải thuyết trình sang hoạt động hướng dẫn, chỉ đạo, từ đó học sinh tự lực phát hiện ra kiến thức, qua đó mà kĩ năng quan sát, tư duy được phát triển 10 Hình ảnh chú công nhân xây dựng Bước 3: Quan sát kĩ và lập được dàn ý chung. Đối với bài văn miêu tả người ở tiểu học có thể được chia theo 2 dạng đề: + Tả người về ngoại hình kết hợp tả tính tình, hoạt động. + Tả người hoạt động (đang làm việc). Dạng 1: Sơ đồ tư duy dàn bài chung tả người về ngoại hình kết hợp tả tính tình, hoạt động. 11 Khi hướng dẫn các em quan sát trực tiếp đối tượng miêu tả, tôi thường đặt câu hỏi kết hợp với hướng dẫn học sinh quan sát: Dáng vóc của đối tượng như thế nào? Điểm nổi bật của đối tượng là gì? Em ấn tượng với đặc điểm nào của đối tượng?, Câu hỏi loại này chỉ rõ sử dụng giác quan nào, quan sát bộ phận nào của đối tượng miêu tả. Thông thường học sinh chỉ quen sử dụng mắt để quan sát và nhận xét, ít biết cách dùng các giác quan khác. Do đó, tôi luôn chú ý đặt câu hỏi yêu cầu học sinh tập sử dụng mắt, mũi, tai, da, để thu thập nhiều nhận xét và xúc cảm khác nhau giúp cho việc miêu tả sinh động, mới mẻ. Ví dụ 1: Bài “Luyện tập tả người (tả ngoại hình)” (Tiếng Việt 5 - Tập 1, trang 130). Đề bài: Lập dàn ý cho bài văn tả một người mà em thường gặp (thầy giáo, cô giáo, chú công an, người hàng xóm, ). 12 Tiết này chỉ luyện tập về tả ngoại hình của người nên tôi ví dụ về thực hiện hướng dẫn học sinh quan sát tả ngoại hình của một cô giáo (thầy giáo) như sau: Hình ảnh cô giáo đang giảng bài. Khi quan sát, các em nên đặt ra những câu hỏi để tự trả lời như: - Cô giáo (thầy giáo) ấy bao nhiêu tuổi, tầm vóc ra sao, khuôn mặt, mái tóc, đôi mắt, mũi, miệng, làn da, ? - Quần áo thường ngày mặc như thế nào? - Dáng đi đứng, giọng nói, cách nói khi giảng bài và khi trò chuyện có gì đặc biệt? Chẳng hạn, nhớ lại cô giáo dạy em ở lớp 1, em có thể ghi: - Cô giáo có gương mặt hiền hòa và giọng nói dịu dàng. 13 - Mặt trái xoan, da trắng mịn, mắt đen nâu, môi trái tim, một lúm đồng tiền ở má trái. - Tuổi ngoài ba mươi, vóc người dong dỏng. Từ các ý trên, học sinh ghi lại những điều cần miêu tả chi tiết hơn. Trong quá trình quan sát đối tượng, giáo viên cần hướng dẫn các em không phải thấy gì nói nấy mà phải biết chắt lọc những nét tinh túy riêng biệt, độc đáo và bản chất nhất. Khi tả, các em phải biết tập trung quan sát và miêu tả những đường nét ngoại hình tiêu biểu, những cá tính riêng biệt mà ít thấy hoặc không thấy được ở người khác. Nếu quan sát miêu tả ngoại hình (dáng người, làn da, mái tóc, đi đứng...) mà không miêu tả nội tâm (thái độ, tư tưởng, suy nghĩ,...) và hành động của người được miêu tả thì con người hiện lên trong bài văn sẽ trở nên đơn điệu, vô hồn, cứng nhắc. Vì vậy, tôi luôn lưu ý các em khi viết cần đan xen giữa tả ngoại hình và tính tình để làm nổi rõ cuộc sống nội tâm, cuộc sống hoạt động của người được tả. Dạng 2: Sơ đồ tư duy dàn bài chung tả người hoạt động đang làm việc 14 Ví dụ 2: Bài “Luyện tập tả người (tả hoạt động)” (Tiếng Việt 5 - Tập 1, trang 152). Đề bài: Lập dàn ý cho bài văn tả hoạt động của một bạn nhỏ hoặc một em bé ở tuổi tập đi, tập nói. Ở tiết này, tôi đã thực hiện hướng dẫn học sinh quan sát như sau: * Đối tượng quan sát: Đối tượng để quan sát là một em bé (bé trai hay gái đều được). Các em cần hết sức lưu ý bài tập yêu cầu tả một em bé đang tuổi tập đi, tập nói. Phải xác định đúng độ tuổi vì độ tuổi sẽ quyết định nội dung việc tả. * Những câu hỏi gợi ý cho việc quan sát: - Xác định đối tượng: Em bé được em quan sát tên gì? Là bé trai hay bé gái? Em bé đó có quan hệ với em như thế nào? Hình ảnh em bé tập đi, tập nói. - Quan sát hình dáng của em bé: 15 + Em bé được bao nhiêu tháng tuổi, có những nét đáng yêu nào tiêu biểu? + Những điểm đặc biệt về hình dáng gắn liền với độ tuổi: thân hình, da dẻ, khuôn mặt, mái tóc, đôi mắt, cặp má, môi, miệng, răng và lợi, chân tay, ? + Quần áo bé thường mặc khi trời nóng, trời lạnh, khi ở nhà hoặc được đi chơi, ? - Quan sát tính nết thơ ngây và việc tập nói, tập đi của em bé: + Sự thơ ngây, đáng yêu biểu hiện qua việc tập nói? +Sự thơ ngây, đáng yêu biểu hiện qua việc tập đi? + Những biểu hiện thơ ngây và đáng yêu khi tiếp xúc với những người thân và trong sinh hoạt hằng ngày như khi ăn, khi chơi, khi ngủ, ? - Em bé được mọi người và bản thân em yêu quý như thế nào? Ví dụ 3: Bài tập yêu cầu học sinh lập một dàn ý chi tiết tả một người thân trong gia đình.Trong dàn ý phải nêu được những nét nổi bật về ngoại hình, tính tình và hoạt động của người đó. 16 Dàn ý viết văn của em Đỗ Lê Anh Thư, học sinh lớp 5A. Như vậy, quan sát để giúp phát hiện ra cái bản chất, cái riêng biệt của đối tượng, phát hiện ra cái mà người khác chưa thấy, không thấy hoặc chưa cảm nhận được như mình. Chỉ có quan sát học sinh mới phát hiện ra cái hồn, cái riêng biệt của đối tượng được miêu tả, rồi bằng ngôn ngữ của mình, học sinh sẽ vẽ nó trước mắt người đọc, người nghe cùng cảm nhận và suy nghĩ với mình. Nhưng, mỗi lứa tuổi, con người có những đặc điểm về hình dáng và tính tình khác nhau (người già thì tóc bạc, da nhăn; người trẻ thì mái tóc mượt mà, làn da căng mịn, hồng hào,...); mỗi người một hoàn cảnh sống, một trình độ văn hoá khác nhau,... Tất cả những thứ ấy đều có ảnh hưởng đến thái độ, cách ứng xử và hoạt động của họ. Để giúp học sinh viết bài văn với từ ngữ gợi tả, gợi cảm chính xác thì việc mở rộng vốn từ cho học sinh rất quan trọng. 17 3.2 Biện pháp 2: Làm giàu vốn từ cho học sinh Thế giới quanh ta không đứng yên mà rất phong phú, đa dạng và luôn luôn biến đổi. Với dạng văn tả người, người viết văn không thể dùng ngôn ngữ, vốn từ nghèo nàn để “vẽ” được một người với các nét tiêu biểu, riêng biệt, sống động trước mặt người đọc được. Việc làm giàu vốn từ cho học sinh có nghĩa là giúp cho các em nắm một số từ gợi tả để có thể dùng trong miêu tả. Bước 1: Sử dụng phiếu bài tập để giúp học sinh phát triển từ chỉ hình dáng PHIẾU BÀI TẬP Câu 1. Tìm từ chỉ hình dáng của người thích hợp để điền vào chỗ trống: A. Cậu bé dáng người ..chạy thoăn thoát trên cánh đồng. B. Anh trai em , anh có thể lấy đồ trên nóc tủ đồ mà không cần phải bắc thang. C. Bà nội em đã ngoài 70 tuồi. Dáng bà .. D. Chị gái em có một mái tóc .. Gợi ý: A. nhỏ nhắn/ loắt choắt/ B. cao lớn/ cao to/ . C. Gầy guộc, lom khom D. thẳng tắp/ xoăn vàng/ ngắn củn/ Câu 2: Khi miêu tả mái tóc của bạn nữ, em sẽ sử dụng những từ nào để miêu tả? Gợi ý : suôn mượt, óng ả, thẳng tắp, ngang vai, màu hạt dẻ, xoăn phồng, ngắn cùn, khô xơ, rối, Câu 3 : Đánh X vào ô chứa từ chỉ hình dáng và từ chỉ kích thước: 18 Hình Kích Hình Kích dáng thước dáng thước Khổng lồ Khổng lồ x x To lớn To lớn x x Mảnh mai Mảnh mai x Thanh thoát Thanh thoát x Khúc khuỷu Khúc x khuỷu Rộng rãi Rộng rãi x Nhỏ hẹp Nhỏ hẹp x Bước 2: Mở rộng vốn từ miêu tả hình dáng trong các tiết học chính khóa Ví dụ 4: Để hỗ trợ cho các em làm giàu vốn từ của mình về chủ đề con người, tôi kết hợp trong tiết Luyện từ và câu, bài “Tổng kết vốn từ” (Tiếng Việt 5 - Tập 1, trang 151) hướng dẫn và cùng các em tìm thêm cho các em một số từ miêu tả hình dáng của người để các em tham khảo: - Miêu tả mái tóc: đen nhánh, óng ả, vàng hoe, bạc phơ, cháy nắng, xoăn tít, - Miêu tả đôi mắt: một mí, đen láy, đen huyền, tròn xoe, bồ câu, ti hí, mắt ốc bươu, - Miêu tả khuôn mặt: trái xoan, vuông vức, bầu bĩnh, vuông chữ điền, xanh xao, hốc hác, cau có, - Miêu tả làn da: trắng trẻo, nhăn nheo, trắng hồng, ngăm ngăm, bánh mật, đen sạm, xanh như tàu lá chuối, da bánh mật, 19 - Miêu tả vóc người: vạm vỡ, dong dỏng, nhỏ nhắn, gầy gò, đẫy đà, to khoẻ, cao cao, mảnh mai, bụ bẫm, lụ khụ, yểu điệu, Hoặc tìm thêm các từ miêu tả hoạt động: nhanh nhẹn, hoạt bát, lanh lợi, nhanh thoăn thoắt, cẩn thận, tháo vác, Việc khai thác các cách miêu tả người của những tác giả ở các đoạn văn tả người trong chương trình được tôi hết sức chú ý. Khi tìm hiểu kĩ cách miêu tả này sẽ tạo nền tảng để giúp các em có những kiến thức ban đầu, cũng như cung cấp thêm cho các em vốn từ miêu tả đặc điểm ngoại hình, tính tình và hoạt động về thể loại tả người. Ví dụ 5: Bài “Luyện tập tả người (Tả ngoại hình)” (Tiếng Việt 5 - Tập 1, trang 132) Đề bài: Dựa theo dàn ý mà em đã lập trong bài trước, hãy viết một đoạn văn tả ngoại hình của một người mà em thường gặp. Bài làm của em Đỗ Lê Anh Thư (Học sinh lớp 5A) Bước 3: Trong quá trình giảng dạy, làm giàu vốn từ, các em luôn được tôi thực hiện song song với việc giải nghĩa từ. 20 - Giải nghĩa từ bằng định nghĩa: là biện pháp giải nghĩa bằng cách nêu nội dung nghĩa, bằng một định nghĩa. Ví dụ: Mũm mĩm là béo và tròn trĩnh, trông thích mắt (thường nói về trẻ em). - Giải nghĩa từ bằng cách đối chiếu: so sánh nghĩa từ cần được làm rõ nghĩa với từ khác. Ví dụ: Giải nghĩa từ “thật thà” bằng cách so sánh với nghĩa từ “chân chất” bộc lộ bản chất tốt đẹp một cách tự nhiên, không màu mè. - Giải nghĩa từ bằng cách tìm từ đồng nghĩa, trái nghĩa. Ví dụ: Đồng nghĩa với “siêng năng” là “chăm chỉ”; Trái nghĩa với “đoàn kết” là “chia rẽ” - Giải nghĩa từ thông qua ngữ cảnh: giáo viên sẽ giải nghĩa vào câu hoàn chỉnh để làm rõ nghĩa từ đó. Ví dụ: Giải nghĩa từ “mộc mạc” trong câu: “Chấm mộc mạc như hòn đất”. “mộc mạc” ở đây có nghĩa là sống giản dị, đơn sơ, giữ nguyên vẻ tự nhiên. Với những ý tưởng, hình ảnh được miêu tả, tôi luôn hướng các em cần viết chân thật, đúng với những điều mình quan sát và cảm nhận được từ đối tượng. Một điều không kém phần quan trọng là giúp các em biết chọn lọc những chi tiết tiêu biểu, đặc sắc để đưa vào đó thì bài văn mới nổi bật được trọng tâm, thoát khỏi cách viết khuôn sáo, máy móc, viết một cách mông lung, dễ lạc đề. Ví dụ 6: Khi đưa ra đề bài: Tả một người thân trong gia đình em. - Sau khi học sinh quan sát, các em sẽ viết nhanh ra giấy những điều mà mình quan sát được như: + Người luôn quan tâm, dành nhiều tình cảm cho em đó là mẹ em. + Năm nay mẹ em 40 tuổi. 21 + Dáng người nhỏ nhắn nên mẹ làm mọi việc rất nhanh nhẹn. Mái tóc mẹ dài và mượt, được mẹ búi sau gáy rất gọn gàng. + Mẹ có khuôn mặt trái xoan. + Đôi mắt ấy tròn xoe như hai hòn bi ve với cái nhìn thật trìu mến. + Mỗi khi mẹ cười hai hàm răng mẹ trắng ngần. + Đôi bàn tay mẹ không đẹp, nó đã bị chai như ghi lai những nỗi vất vả của mẹ. + Đi làm về, mẹ vừa vào bếp nấu cơm cho cả gia đình. + Tối mẹ lại dạy em học bài, dọn dẹp nhà cửa rồi mới đi ngủ. + Mẹ khuyên dạy em mong cho em sẽ trở thành đứa con hiếu thảo. + Mẹ sống rất giản dị và hòa đồng với mọi người nên trong xóm ai cũng quý mến mẹ. + Em yêu mẹ nhiều lắm và luôn mong mẹ vui vẻ và khỏe mạnh. + Em tự hứa sẽ cố gắng học tập tật tốt, luôn vâng lời để cho mẹ luôn vui lòng. - Sau khi tìm ý, cho các em chọn và sắp xếp các ý này thành một dàn ý chi tiết, khi viết bài các em sẽ bổ sung thêm các ý thành các đoạn mở bài, thân bài, kết bài phù hợp để hoàn chỉnh một bài văn tả người thân trong gia đình em. PHẦN III: KẾT QUẢ VÀ ỨNG DỤNG. 1. Kết quả Sau khoảng thời gian áp dụng những biện pháp trên một cách thống nhất và phối hợp linh hoạt với học sinh của lớp 5A tôi giảng dạy trong năm học này, tôi đã thu nhận được kết quả đáng khích lệ, là động lực để tôi phát triển, hoàn thiện sáng kiến này. Thành tích học tập của các em đạt hiệu quả cao hơn và học sinh học tập cũng tích cực hơn, cụ thể như sau: - Hầu hết học sinh đã biết cách quan sát và diễn đạt đối tượng miêu tả bằng ngôn ngữ nói. Trên cơ sở đó, các em đã trình bày được bài văn hợp lí về 22 bố cục, diễn đạt ý trọn vẹn, câu văn giàu hình ảnh và thể hiện được cảm xúc khi viết văn. - Một số em trước đây viết bài văn tả người còn mang tính liệt kê nhưng bây giờ các em đã biết vận dụng được kĩ năng quan sát, tìm ý cũng như lập dàn ý, viết câu hoàn chỉnh để vận dụng vào bài viết của mình làm cho bài văn trở nên sinh động hơn. - Học sinh đã biết luyện tập theo mẫu một cách sáng tạo để có những câu văn giàu cảm xúc, giàu hình ảnh, bài văn súc tích hơn. - Việc kết hợp dạy Tập làm văn tả người thông qua các tiết học trong những phân môn khác của môn Tiếng Việt đem lại hiệu quả rõ rệt: tỉ lệ học sinh biết sử dụng các biện pháp tu từ, biết viết những câu văn có hình ảnh, có cảm xúc, biết sử dụng những từ gợi tả, gợi cảm trong bài văn tăng lên; các lỗi về dùng từ, viết câu đã giảm hẳn. - Trong tiết Tập làm văn viết, học sinh đã biết thực hiện đầy đủ, liên hoàn các thao tác, kĩ năng làm bài nên bài viết của các em đã hạn chế được những thiếu sót (nhất là về ý). Những em trước đây còn chậm đã có tiến bộ, tuy câu văn chưa trau chuốt nhưng các ý diễn đạt tương đối rõ ràng, bài viết cũng đã có trọng tâm. - Việc dạy kĩ tiết trả bài viết cũng tạo cho học sinh có thói quen tự đánh giá, tự sửa chữa các lỗi trong bài của mình và rút kinh nghiệm để bài sau làm tốt hơn. - Vốn từ của học sinh phong phú hơn, có nhiều ý tưởng hay nhờ việc yêu thích đọc sách, báo và các tác phẩm của các nhà văn, nhà thơ. - Thông qua các hoạt động giáo dục và trải nghiệm các em không chỉ được khám phá thế giới xung quanh mà còn tích lũy cho mình vốn từ và kiến thức về môi trường sống để vận dụng vào bài viết tả người tốt hơn.
File đính kèm:
bien_phap_ren_ky_nang_viet_van_ta_nguoi_cho_hoc_sinh_lop_5.pdf



